Header Page 1 of 133.
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤTPHÂN BÓN HỮU CƠ
TỪ BÃ THẢI HẠT JATROPHA
SAU KHI ÉP DẦU
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 227.11.RD/ HĐ-KHCN
CHỦ TRÌ THỰC HIỆN: CN. Lê Thị Xuân Mai
9160
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12/ 2011
Footer Page 1 of 133.
Header Page 2 of 133.
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
PHÂN BÓN HỮU CƠ TỪ BÃ THẢI HẠT
dầu (Stephan Mieth, 2009 – Nghiên cứu tính khả thi của sản xuất biodiezel từ
canh tác Jatropha tại Việt Nam).Với năng suất và chi phí sản xuất hạt Jatropha
hiện tại ở nước ta thì người đầu tư trồng không có lời mà lợi nhuận chính sẽ là ở
sản phẩm biodiezel và bã hạt chế biến. Do đó, mục tiêu dài hạn của đề tài là nâng
cao hiệu quả kinh tế và môi trường của chuỗi sản xuất cây Jatropha- biodiezel.
Trong khuôn khổ đề tài này mục tiêu đặt ra nghiên cứu sản xuất phân bón
hữu cơ từ bã thải hạt Jatropha sau khi ép dầu, phục vụ sản xuất nông nghiệp.
ii
Footer Page 3 of 133.
Header Page 4 of 133.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... i
Mục lục ................................................................................................................. ii
Danh mục các bảng .............................................................................................. iv
Danh mục các biểu đồ ........................................................................................... v
Danh mục các hình ảnh ........................................................................................ vi
TÓM TẮT ĐỀ TÀI ........................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Cơ sở pháp lý .................................................................................................... 1
2. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................. 1
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu.................................................................... 1
3.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 1
3.2. Mục tiêu nghiên cứu....................................................................................... 1
3.3. Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 3
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ............................................................... 3
3.2.3. Khả năng phân huỷ bã hạt Jatropha .......................................................... 26
3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ bã hạt và xây dựng
qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha ....................................... 28
3.3.1. Ảnh hưởng của ẩm độ đến quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha................ 28
3.3.2. Ảnh hưởng của các chất hữu cơ giàu C bổ sung đến quá trình phân huỷ bã
hạt Jatropha ......................................................................................................... 29
3.3.3. Ảnh hưởng của lượng bụi xơ dừa bổ sung đến sự phân hủy bã hạt.......... 30
Qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha ...................................... 31
3.4. Thực hiện sản xuất thử nghiệm, xác định chất lượng phân bón bã hạt ....... 32
3.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế ............................................................................ 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 39
1. Kết luận ........................................................................................................... 39
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 40
PHỤ LỤC............................................................................................................ 42
Phụ lục 1. Kết quả các thí nghiệm ...................................................................... 42
Phụ lục 2. Hình ảnh thí nghiệm........................................................................... 45
iv
Footer Page 5 of 133.
Header Page 6 of 133.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu lý hóa của bã Jatropha sau khi ép dầu ....................... 15
Bảng 3.2. Nguồn phân lập của các chủng nấm mốc vừa được phân lập ............ 16
Bảng 3.3. Hình thái của các chủng nấm mốc phân lập được.............................. 17
Bảng 3.4. Khả năng phân giải CMC của các chủng nấm mốc ........................... 21
Bảng 3.5. Khối lượng CO2 sinh ra (mg) trong quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha
Biểu đồ 3. Ảnh hưởng của các nguồn chất hữu cơ bổ sung khác nhau đến sự
phân hủy bã hạt Jatropha..................................................................................... 29
Biểu đồ 4. Ảnh hưởng của lượng bụi xơ dừa bổ sung đến sự phân hủy bã hạt .. 30
Đồ thị 2. Sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình phân hủy bã hạt.......................... 32
vi
Footer Page 7 of 133.
Header Page 8 of 133.
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Các dạng bã hạt Jatropha sau khi ép dầu. .............................................. 15
Hình 2. Hình thái khuẩn lạc của các chủng nấm mốc sau 3 ngày cấy (A1,A3, A4,
A5, A6, A8, A9, A10) và sau 6 ngày cấy (A2, A7)............................................ 19
Hình 3. Hình ảnh dưới kính hiển vi (x100) của các chủng nấm mốc phân lập
được sau 3 ngày cấy trên môi trường PGA......................................................... 21
Hình 4. Vòng phân giải CMC của các chủng nấm mốc...................................... 24
Hình 5. Khả năng phát triển của nấm mốc trên môi trường giấy lọc ................. 26
Hình 6. Sản xuất thử nghiệm............................................................................... 34
Hình 7. Chiều cao cây sau 15 ngày cấy .............................................................. 45
Hình 8. Thu hoạch rau cải xanh sau 20 ngày cấy ............................................... 45
Hình 9. Thu hoạch rau cải ngọt sau 20 ngày cấy ................................................ 46
Hình 10. Chiều cao cây cải ngọt của 3 luống sau khi thu hoạch ........................ 46
vii
Footer Page 8 of 133.
Stephan Mieth, 2009 đã nghiên cứu tính khả thi của sản xuất biodiezel
tại Việt Nam. Kết quả cho thấy trong chuỗi sản xuất Jatropha – biodiezel có phần
quan trọng đóng góp vào sự bền vững của chuỗi sản xuất này đó chính là bản
thân sản phẩm biodiezel và các sản phẩm phụ sản xuất từ bã hạt sau khi ép dầu.
Cụ thể hơn với năng suất và chi phí sản xuất hạt Jatropha hiện tại ở nước ta thì
người đầu tư trồng không có lời mà lợi nhuận chính sẽ là ở sản phẩm biodiezel
và bã hạt chế biến. Đây chính là bài toán cần giải quyết: một mặt nghiên cứu
tăng năng suất cây Jatropha một mặt thúc đẩy sử dụng bã hạt một cách hiệu quả
nhất. Trong khi ngành công nghiệp ép dầu hạt Jatropha đang khởi động để đáp
ứng đầu tư trồng trồng cây Jatropha trên diện rộng hiện tại thì việc ưu tiên chọn
sản phẩm và xác định công nghệ cho sử dụng bã hạt Jatropha cần đặt ra. Bã hạt
sau khi ép dầu với hàm lượng protein cao có khả năng trở thành nguyên liệu cho
thức ăn gia súc. Bã hạt có đầy đủ các thành phần để trở thành sản phẩm phân bón
hữu cơ và là nguồn phân bón hữu cơ tốt cho cây trồng (Bodake P.S., 2008).
Công nghệ sản xuất không phức tạp, không đòi hỏi đầu tư lớn và dài hạn cho
nghiên cứu vì công nghệ sản xuất các loại phân bón hữu cơ đã được áp dụng
rộng rãi trong thực tế. Vấn đề là xác định một số thông số kỹ thuật phù hợp cho
sản xuất do nguồn nguyên liệu hữu cơ ban đầu thay đổi (bã hạt Jatropha). Về
hiệu quả kinh tế, hiện nay thị trường phân bón hữu cơ rất đa dạng và mang lại
nguồn lợi lớn cho nhà sản xuất bên cạnh hiệu quả về bảo vệ môi trường. Mục
tiêu của đề tài là nghiên cứu sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha sau khi
ép dầu để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bã hạt Jatropha sau khi ép dầu.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tận dụng bã thải Jatropha sau khi ép dầu để sản xuất phân bón hữu cơ
sinh học, phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha đạt tiêu chuẩn chất
lượng.
Cây cho năng suất cao tới 10-12 tấn/ha, hàm lượng dầu trong hạt cao, trung bình
32-35%. Đây là nguồn nguyên liệu dầu diesel sinh học rất tiềm năng để dần thay
thế các tài nguyên nhiên liệu hóa thạch đang càng ngày bị cạn kiệt.
Cây Cọc rào có những ưu điểm vượt trội hơn hẳn các loài cây cho dầu khác
về điều kiện gây trồng, năng suất, hàm lượng dầu, về lợi ích môi trường và gắn
chặt với đời sống và thu nhập cộng đồng nông thôn. Jatropha curcas là loại cây
có rất nhiều ứng dụng có lợi cho con người và môi trường, tất cả các bộ phận của
cây đều có tác dụng riêng của nó. Hạt Jatropha có hàm lượng dầu trên 30%, từ
hạt ép ra dầu thô tinh luyện được biodiesel và glycerin. Mặc dù biodiesel được
sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu: cải dầu, hướng dương, đậu tương, dầu cọ, mỡ
động vật…, nhưng sản xuất từ Jatropha vẫn có giá thành rẻ nhất, chất lượng tốt,
tương đương với dầu diesel hóa thạch truyền thống. Nếu 1 ha Jatropha đạt năng
suất 8-10 tấn hạt/ha/năm có thể sản xuất được 3 tấn biodiesel, thay thế được 1
phần dầu diesel truyền thống đang cạn kiệt, giảm thiểu được lượng khí thải gây
hiệu ứng nhà kính, là loại dầu cháy hết và không có lưu huỳnh, là dầu sạch, thân
thiện với môi trường.
Sau khi ép dầu, bã ép dầu có hàm lượng N 4,14-4,78%, P2O5 0,5-0,66%,
CaO 0,6-0,65%, MgO 0,17-0,21% được sử dụng làm phân hữu cơ rất tốt để bón
cho các loại cây trồng, nhất là vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp
sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ phì của đất.
Mỗi ha Jatropha, giả thiết đạt 10 tấn hạt/ha/năm sẽ thu được các loại sản
phẩm chủ yếu có giá trị cao như sau:
+ Dầu diesel sinh học: 3 tấn x 700 USD/tấn = 2100 USD
+ Bã khô dầu: 7 tấn x 300 USD/tấn= 2100 USD
Như vậy 1 ha Jatropha tạo ra giá trị khoảng 4200 USD/năm (gần 90 triệu
đồng/ha/năm), lợi nhuận thu được sẽ phân phối cho nông dân sản xuất nguyên
liệu và nhà đầu tư.
3
Footer Page 12 of 133.
1,25
1,25
0,65
Nguồn: WWW.svlele.com/biofert.htm
Bã hạt Jatropha có hàm lượng N cao hơn các loại phân hữu cơ có chất
lượng tốt như phân bò, gà, vịt. Chất lượng bã hạt Jatropha cao hơn rất nhiều so
với phân hữu cơ từ rơm rạ hay rác. Điều này chứng tỏ nó là nguồn hữu cơ tốt để
sản xuất phân bón hữu cơ. Bã hạt Jatropha như là nguồn dinh dưỡng cho cây và
cho đất có tác động tốt đến tăng trưởng và năng suất của cây bắp ở vụ trồng sau
trong hệ thống hướng dương- bắp (Bodake P.S., Rana D.S., 2008). pH đất, làm
tăng độ tơi xốp trong khi hàm lượng chất hữu cơ tăng lên từ công nghiệp chế
biến dầu.
1.2.
Tình hình nghiên cứu trong nước:
1.2.1. Tổng quan về lợi ích của cây jatropha và các nghiên cứu về nông sinh
học.
Cây Jatropha hiện đang trồng thử nghiệm nhiều nơi như Hà Nội, Bình
Dương, Bình Thuận, Thanh Hóa, Bình Phước….bước đầu có triển vọng cao.
Xuất phát từ nhu cầu thay thế một phần năng lượng hóa thạch (dầu mỏ) đang
ngày càng cạn kiệt bằng năng lượng sinh học sạch hơn, an toàn hơn và bền vững
hơn, chính phủ ta từ năm 2007 đã triển khai một số đề án trong lĩnh vực này.
Theo đề án “ Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm
2025” trong đó mục tiêu sản xuất 250.000 tấn biodiezel/năm vào năm 2015 để
đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước, đáp ứng nhu cầu 5% xăng dầu vào
năm 2025 (Quyết định 177/2007/QĐ- TTg). Đề án “Nghiên cứu, phát triển và sử
dụng sản phẩm cây cọc rào (Jatropha curas.L.) ở Việt Nam giai đoạn 2008 –
2015 và tầm nhìn đến năm 2025” đưa ra mục tiêu phát triển 300.000 ha cây
Jatropha năm 2015 và đạt 500.000 ha vào năm 2025. Trên cơ sở các đề án quốc
Có một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân giải chất hữu cơ để sản xuất
phân bón
Tỷ lệ C/N của nguyên liệu ủ.
Quá trình phân huỷ tùy thuộc vào vi sinh vật, chúng cần cacbon làm
nguồn năng lượng và dùng đạm để tổng hợp protein cho cơ thể chúng. Do đó,
cần tạo cho nguyên liệu ủ có tỷ lệ C/N nằm trong phạm vi 25-35. Nếu tỷ lệ C/N
quá cao thì cần nhiều thời gian để oxy hóa cacbon thành CO2. Nếu tỷ lệ C/N quá
thấp thì N dễ mất đi dưới dạng NH3 và làm giảm chất lượng của phân ủ. Có thể
phối trộn các nguyên liệu với tỷ lệ C/N khác nhau để tạo ra loại nguyên liệu có
tỷ lệ C/N thích hợp.
Độ thoáng khí
Có 2 dạng sản xuất phân ủ là sản xuất trong điều kiện hiếu khí và trong điều
kiện yếm khí. Trong quá trình sản xuất phân ủ trong điều kiện yếm khí, chỉ có
một phần các hợp chất hữu cơ bị phân giải hoàn toàn và quá trình này thường
gắn liền với việc tạo thành các loại khí như CH4. Đối với quá trình sản xuất phân
ủ trong điều kiện hiếu khí thì độ thoáng khí là điều kiện tiên quyết cần có.
Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và sự thay đổi pH theo thời gian
trong quá trình sản xuất phân ủ. Ở giai đoạn đầu, pH thường giảm xuống mức 5
5
Footer Page 14 of 133.
Header Page 15 of 133.
và lúc này, số lượng nấm trong đống phân ủ chiếm ưu thế. Nhưng khi nhiệt độ
tăng nhanh và mạnh, thì pH cũng tăng theo và hoạt tính của vi khuẩn và xạ
khuẩn cũng tăng mạnh. Sau đó thì pH giảm xuống và luôn giữ ở mức 7.
Chủng vi sinh vật
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ủ chất hữu cơ với các chủng nấm mốc phân
giải cellulose có thể làm cho cường độ của quá trình ủ tăng mạnh (Gaur và
Footer Page 15 of 133.
Header Page 16 of 133.
1.2.4. Vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ và vai trò của chúng.
Vi sinh vật phân giải hợp chất chứa cellolose:
Gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, động vật nguyên sinh…
- Vi khuẩn:
+ Vi khuẩn hiếu khí: Cytophaga; Sporocytophaga; Sorangium;
Cellvibrio
+ Vi khuẩn kị khí: Clostridium; Bacillus
+ Vi khuẩn sống trong dạ dày động vật ăn cỏ: Ruminococcus;
Flavefaciens; Butyrivibrio; Bacteroides
+ Ngoài ra còn có các chủng khác như: Cellulomonas; Acetobacter;
Clostridium; Pseudomonas
- Nấm sợi:
các loài nấm sợi phân giải nhanh cellulose là: Trichoderma; Penicillium;
Phanerochate; Sporotrichum; Sclerotium; Aspergillus; Alternaria;
Chaetomium; Coprinus; Fomes; Fusarium; Myrothecium; Penicillium;
polypones; Rhizotonia; Rhizopus
- Xạ khuẩn:
Có 2 nhóm là xạ khuẩn ưa ấm (phát triển mạnh ở 28 – 30oC) và xạ khuẩn
ưa nhiệt (phát triển mạnh ở 60 – 70oC). Trong đống ủ phế thải có các loại
xạ khuẩn như Actinomyces; Steptomyces; Nicardia; Actinopolyspora;
Actinosynoema
Vi sinh vật phân giải hemicellulose:
- Vi khuẩn: Ruminococcus; Bacillus; Bacteroides; Butyvibrio;
Clostridium
- Nấm sợi: Aspergillus; Penicillium; Trichoderma
endo-β-1,4-glucanase mạnh nhất. Nhiều chủng nấm mốc thuộc các chi
Aspergillus, Trichoderma, Penicillium, Phanerochaete đã được nghiên cứu là có
khả năng sinh tổng hợp endo-β-1,4-glucanase mạnh như:Aspergillus niger,A.
flavus, A. fumigatus, A. terreus.... Bên cạnh nấm mốc, vi khuẩn cũng được xem
là một trong những đối tượng có khả năng sinh tổng hợp endo-β-1,4-glucanase
khá phong phú. Nhiều loài vi khuẩn hiếu khí đã được nghiên cứu là có khả năng
sinh tổng hợp endo-β-1,4-glucanase mạnh như Acidothemus cellulobuticus,
Bacilluspumilis, Cellulomonas flavigena.
Vi khuẩn có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ một cách đáng kinh ngạc.
Một số nhóm vi sinh "chuyên hóa" đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
hình thành các khoáng chất từ một số nhóm hợp chất hữu cơ. Ví dụ, sự phân giải
cellulose, một trong những thành phần chiếm đa số trong mô thực vật, được thực
hiện chủ yếu bởi các vi khuẩn hiếu khí thuộc chi Cytophaga. Khả năng này cũng
được con người ứng dụng trong công nghiệp và trong cải thiện sinh học
(bioremediation). Các vi khuẩn có khả năng phân hủy hydrocarbon trong dầu mỏ
thường được dùng để làm sạch các vết dầu loang.
Vi sinh vật sống trong đất và trong nước tham gia tích cực vào quá trình phân
giải các xác hữu cơ động vật, thực vật biến chúng thành CO2 và các hợp chất vô
cơ khác dùng làm thức ăn cho cây trồng. Các vi sinh vật cố định nitơ thực hiện
việc biến khí nitơ (N2) trong không khí thành hợp chất nitơ (NH3, NH4) cung cấp
cho cây trồng.
Vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S thành những
dạng hợp chất cây trồng dễ hấp thu.Vi sinh vật còn tham gia vào quá trình hình
thành chất mùn, phân giải các phế phẩm công nghiệp, qua đó đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ môi trường.
Vi sinh vật còn tham gia vào quá trình hình thành chất mùn.
Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc phân giải các phế phẩm công nghiệp, phế
thải đô thị, phế thải công nghiệp cho nên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
môi trường.
8
2.3.1. Phân lập và thu thập giống
Nấm mốc được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau là bã Jatropha, phân bò,
bã Jatropha trộn phân bò hoặc phân hữu cơ. Trong quá trình ủ các nguồn hữu cơ
làm nguyên liệu cho việc phân lập có bổ sung bụi xơ dừa và vôi. Ngoài ra thu
thập thêm 3 chủng nấm mốc thuộc Trichoderma có nguồn gốc từ Viện Công
nghệ Sinh học và Thực phẩm, trường ĐH Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh, gồm T.
atroviride, T. harzianum, T. reesei.
Môi trường phân lập nấm mốc: Môi trường PGA (môi trường nước chiết
khoai tây)
Phương pháp tiến hành: Phân lập nấm mốc bằng phương pháp thạch đĩa.
Pha loãng 1g mẫu trong 2,5ml nước vô trùng, lắc đều. Dùng que cấy ria dịch
loãng lên hộp petri chứa môi trường PGA, để ở nhiệt độ phòng. Sau 24h, lấy các
đĩa petri trên ra kiểm tra, nếu thấy có khuẩn lạc nấm mốc xuất hiện thì cấy
chuyền các khuẩn lạc đó, tiếp tục theo dõi và phân lập đến khi thu được khuẩn
lạc nấm mốc thuần khiết. Sau khi thu được các chủng nấm mốc thuần khiết, các
chủng được nuôi cấy và giữ giống trên môi trường PGA.
9
Footer Page 18 of 133.
Header Page 19 of 133.
2.3.2. Lựa chọn các chủng nấm mốc có khả năng phân huỷ bã hạt Jatropha.
- Xác định khả năng phân giải cellulose
+ Môi trường: sử dụng môi trường Czapek (Cz) nhưng thay glucose trong
môi trường bằng CMC (carboxyl methyle cellulose).
+ Tiến hành: cấy nấm mốc vào giữa hộp petri có chứa môi trường Cz, nuôi
cấy ở nhiệt độ phòng. Sau 5 ngày thực hiện phản ứng màu với dung dịch Lugol,
đo bán kính vòng phân giải.
Header Page 20 of 133.
-
: khối lượng CO2 được sinh ra trong các bình ủ
- Vo: thể tích dung dịch HCl cần dùng để trung hòa lượng NaOH ban đầu
có trong bình hứng (mẫu trắng)
- V: thể tích dung dịch HCl cần dùng để trung hòa NaOH còn lại trong bình
hứng
- CM: nồng độ mol của dung dịch NaOH
Mô hình khảo sát khả năng phân hủy bã hạt Jatropha
Thí nghiệm lập lại 3 lần.
2.3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ bã hạt và xây
dựng qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha
2.3.3.1. Ảnh hưởng của ẩm độ đến quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha
Các nghiệm thức thí nghiệm là 4 ẩm độ: 40, 50, 60 và 70%. Bã hạt
Jatropha trộn với bụi xơ dừa (tỷ lệ 30%), đưa về các ẩm độ thí nghiệm, cấy giống
(chủng A12). Số lượng giống như nhau giữa các nghiệm thức. Đo lượng CO2
sinh ra mỗi ngày kể từ ngày thứ 3 cho tới ngày thứ 30.
Thí nghiệm lập lại 3 lần.
11
Footer Page 20 of 133.
Header Page 21 of 133.
2.3.3.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung chất hữu cơ giàu C đến quá trình
phân huỷ bã hạt Jatropha
Thực hiện sản xuất thử nghiệm, xác định chất lượng phân bón
Thực hiện sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha dựa vào qui trình đã
được xác định ở phần 3. Nguồn gốc bã được cung cấp bởi Công ty TNHH Xây
dựng Thương mại Sài Gòn. Bã đã được ép dầu bằng phương pháp ép cơ học.
Hàm lượng dầu còn lại trung bình 12%. Tổng số bã là 1.200 kg. Thực hiện tại
Trung tâm Giống Trảng Bàng, Tây Ninh. Nghiệm thức bao gồm đối chứng và thí
nghiệm. Lô đối chứng không cấy giống vi sinh, lô thí nghiệm cấy giống. Thiết kế
12
Footer Page 21 of 133.
Header Page 22 of 133.
3 đống ủ, mỗi đống có lượng cơ chất là 520 kg, đống được đánh theo dạng hình
thang, được đậy bằng tấm bạt phủ. Theo dõi nhiệt độ đống ủ sau mỗi 3 ngày. Sau
3, 4, 5 tuần lấy mẫu phân tích chất lượng (các chỉ tiêu: ẩm độ, chất hữu cơ, N
tổng, P, K hữu hiệu).
2.5.
Đánh giá hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua thực hiện thí nghiệm đồng ruộng để
xác định hiệu quả của phân bón hữu cơ Jatropha đối với cây rau.
Thí nghiệm 1: Xác định hiệu quả của phân bón hữu cơ Jatropha đối với cây cải
xanh và cây cải ngọt khi không sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh
- Nghiệm thức thí nghiệm:
1. Đối chứng có sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh
2. Áp dụng phân bón hữu cơ Jatropha
- Bố trí thí nghiệm: các lô đối chứng và thí nghiệm được bố trí xen kẽ nhau trên
luống trồng có diện tích là 30m2, 10 lần lập lại, mỗi ô là 1,5m2
Header Page 23 of 133.
- Thời gian: cấy ngày 17/12/2011; thu hoạch ngày 4/1/2012
- Qui trình trồng rau: thực hiện qui trình trồng rau của nông dân. Rau được gieo
trong luống ươm, sau 7 ngày cây được cấy sang luống trồng. Dùng lưới đậy cây
sau khi cấy. Mở lưới khi cây khỏe (khoảng 3 ngày).
- Phân bón: nghiêm thức đối chứng sử dụng phân gà (12,5 kg/15m2 tương đương
8.330kg/ha). Nghiệm thức thí nghiệm áp dụng phân hữu cơ Jatropha, liều lượng
tương đương với phân gà. Các phân bón khác là như nhau cho cả 2 nghiệm thức,
phân lân Lâm thao 2kg/30m2 (670 kg/ha) được bón lót. Cây trồng được 1 tuần thì
bón thúc với 1 kg NPK 16-16-8/30 m2 (335 kg/ha).
- Chỉ tiêu theo dõi: chiều cao cây, năng suất khi thu hoạch.
Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm MSTATC
14
Footer Page 23 of 133.
Header Page 24 of 133.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Phân tích bã hạt Jatropha sau khi ép dầu
Mẫu bã hạt Jatropha được cung cấp bởi Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng
Thương mại Sài gòn. Hạt Jatropha có nguồn gốc từ Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai và
Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương. Có 3 dạng bã hạt: dạng đóng thành cục lớn, cứng;
dạng cục nhỏ hơn và dạng bột, rời (Hình 1).
Hình 1. Các dạng bã hạt Jatropha sau khi ép dầu
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu lý hoá của bã hạt Jatropha sau khi ép dầu
Chỉ tiêu
1,69
Kali hữu hiệu (%)
1,31 – 1,59
1,46
Na (%)
0,012 – 0,077
0,039
Canxi (%)
0,510 – 0,621
0,568
Magiê (%)
0,519 – 0,730
0,617
pH H2O
5,4 – 6,9
A1 (mốc xanh)
Nguồn phân lập
Phân bò, Bã Jatropha : bụi xơ dừa + 5% vôi (1:2)
A2 (mốc xanh đậm Phân bò
viền trắng xung quanh)
A3 (mốc xanh lá cây, Bã Jatropha : phân hữu cơ + 5% vôi (1:1)
đôi khi vàng)
A4 (mốc cam)
Phân bò
A5 (mốc nâu)
Phân hữu cơ
A6 (mốc trắng xám)
Bã Jatropha : bụi xơ dừa+5% vôi (1:2), Bã Jatropha :
bụi xơ dừa : phân bò+5%vôi (1:5:1), Phân hữu cơ
A7 (mốc xanh, vòng Bã Jatropha, Bã Jatropha+5% vôi
trắng bao quanh)
A8 (mốc trắng)
Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân hữu cơ (1:2:1), Bã
Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân bò, Bã Jatropha : Bụi xơ
dừa+5% vôi (1:5), Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân
hữu cơ+ 5% vôi (1:5:1), phân bò