BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU SẢN XUẤTPHÂN BÓN HỮU CƠ
TỪ BÃ THẢI HẠT JATROPHA
SAU KHI ÉP DẦU
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 227.11.RD/ HĐ-KHCN
CHỦ TRÌ THỰC HIỆN: CN. Lê Thị Xuân Mai
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
PHÂN BÓN HỮU CƠ TỪ BÃ THẢI HẠT
JATROPHA SAU KHI ÉP DẦU
Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
số 227.11.RD/HĐ-KHCN ngày 09/06/2011 giữa Bộ Công
Thương và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu
Chủ trì thực hiện: CN. Lê Thị xuân Mai
Tham gia thực hiện: THS. Trần Yên Thảo
KS. Nguyễn Đăng Phú
KS. Đinh Thị Hà
KS. Lại Văn Sấm
KS. Huỳnh Thị Trang Thùy
KTV. Phan Phạm Như Liên
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/ 2011
ii LỜI NÓI ĐẦU
1.2. Tình hình nghiên cứu trong n
ước 4
1.2.1. Tổng quan về lợi ích của cây Jatropha và các nghiên cứu về nông sinh học
4
1.2.2. Phân bón hữu cơ và các yếu tố ảnh hưởng 5
1.2.3. Lợi ích của phân bón hữu cơ 6
1.2.4. Vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ và vai trò của chúng 7
CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM 9
2.1. Nguyên liệu: 9
2.2. Phương pháp phân tích thành phần lý hóa học của bã hạt Jatropha 9
2.3. Phương pháp thực nghiệm 9
2.3.1. Phân lập và thu thập giống 9
2.3.2. Lựa chọn các chủng nấm mố
c có khả năng phân hủy bã hạt 10
2.3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy 11
iv
2.3.3.1. Ảnh hưởng của ẩm độ đến quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha 11
2.3.3.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung chất hữu cơ giàu C đến quá trình phân huỷ
bã hạt Jatropha 12
Qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha 12
2.4. Thực hiện sản xuất thử nghiệm, xác định chất lượng phân bón 12
2.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế 13
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 15
3.1. Phân tích thành phần bã hạt jatropha 15
3.2. Lựa chọn vi sinh vật phù hợp có khả năng phân hủy cao bã hạt 16
3.2.1. Khả năng phân giải CMC 21
3.2.2. Khả năng sinh trưởng của các chủng nấm mốc trên giấy lọc. 24
3.2.3. Khả năng phân huỷ bã hạt Jatropha 26
3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ bã hạt và xây dựng
2
sinh ra trong quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha ở các
ẩm độ cơ chất khác nhau 44
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của các nguồn C hữu cơ khác nhau đến sự phân huỷ của bã
hạt Jatropha. 45
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của khối lượng bụi xơ dừa đến sự phân huỷ bã hạt
Jatropha. 45
Bảng 3.9. Đặc điểm và chất lượng phân bón thực hiện tại phòng 30
Bảng 3.10. Sự thay đổi về
nhiệt độ ở các đống ủ đối chứng và cấy vi sinh 46
Bảng 3.11. Chất lượng phân bón hữu cơ bã hạt Jatropha theo thời gian phân huỷ
33
Bảng 3.12. Tính toán tổng chi phí sản xuất phân bón hữu cơ bã hạt Jatropha 35
Bảng 3.13. Chiều cao cây và năng suất của cây cải xanh và cải ngọt có bón phân
hữu cơ bã hạt Jatropha và không sử dụng phân hữu cơ vi sinh 36
Bảng 3.14. Chiều cao cây, sinh khối và năng suất của cây cải ngọt có bón phân
hữu cơ bã hạt Jatropha và không sử dụng phân gà 36
Bảng 3.15. Phân tích hiệu quả kinh tế 38 vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Đồ thị 1. Lượng CO
2
sinh ra trong quá trình phân huỷ bã hạt Jatropha ở các thời
gian khác nhau 27
Biểu đồ 1. Tổng khối lượng CO
2
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Bã hạt Jatropha sau khi ép dầu có hàm lượng chất hữu cơ rất cao (lên đến
90%), hàm lượng N cao (3.5%), pH nước 6,2 và ẩm độ thấp (10,4%). Qui trình
công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha sau khi ép dầu đã được
xác định trong đó chọn lọc được chủng nấm mốc ký hiệu là A12 (Trichoderma
harzianum) có hoạt tính phân hủy cao, phù hợp cho sản xuất. Các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình phân hủy bã hạt Jatropha và chất lượ
ng phân bón hữu cơ tạo
ra là ẩm độ nguyên liệu, loại và hàm lượng chất hữu giàu C bổ sung. Đã sản xuất
thử nghiệm 1 tấn phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha. Sản phẩm phân bón hữu cơ
bã hạt Jatropha sản xuất theo qui trình này có hàm lượng chất hữu cơ cao (80%),
N tổng cao (3,5%), K hữu hiệu cao (3,32%), lân hữu hiệu đạt (1,23%), mật độ
Trichoderma harzianum là 1,2x10
7
CFU/g, ẩm độ 20-25%, pH 6,5-7. Phân bón
hữu cơ Jatropha có hiệu quả cao trên cây rau cải xanh và cây cải ngọt, có thể
thay thế cho nguồn phân gà và phân bón vi sinh trong sản xuất. Năng suất tăng
trung bình là 16.5%, lợi nhuận tăng thêm 29,02 triệu đồng/ha. 1
nguồn lợi lớn cho nhà sản xuất bên cạnh hiệu quả về bảo v
ệ môi trường. Mục
tiêu của đề tài là nghiên cứu sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha sau khi
ép dầu để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bã hạt Jatropha sau khi ép dầu.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tận dụng bã thải Jatropha sau khi ép dầu để sản xuất phân bón hữu cơ
sinh học, phục vụ sản xu
ất nông nghiệp.
Tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha đạt tiêu chuẩn chất
lượng. 2
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Phân tích nguyên liệu bã hạt Jatropha sau khi ép dầu.
- Lựa chọn các chủng vi sinh vật phù hợp, có khả năng phân hủy cao bã hạt.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy bã hạt
- Xây dựng qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha.
- Sản xuất thử nghiệm, phân tích chất lượng và đánh giá hiệu quả phân bón hữu
cơ sản xuất từ bã hạt Jatropha.
- Phân tích hiệu quả kinh t
ế 3
sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu: cải dầu, hướng dương, đậu tương, dầu cọ, mỡ
động vật…, nhưng sản xuất từ Jatropha vẫn có giá thành rẻ nhất, chất lượng tốt,
tương đương với dầu diesel hóa thạch truyền thống.
Nếu 1 ha Jatropha đạt năng
suất 8-10 tấn hạt/ha/năm có thể sản xuất được 3 tấn biodiesel, thay thế được 1
phần dầu diesel truyền thống đang cạn kiệt, giảm thiểu được lượng khí thải gây
hiệu ứng nhà kính, là loại dầu cháy hết và không có lưu huỳnh, là dầu sạch, thân
thiện với môi trường.
Sau khi ép dầu, bã ép dầu có hàm lượng N 4,14-4,78%, P
2
O
5
0,5-0,66%,
CaO 0,6-0,65%, MgO 0,17-0,21% được sử dụng làm phân hữu cơ rất tốt để bón
cho các loại cây trồng, nhất là vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp
sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ phì của đất.
Mỗi ha Jatropha, giả thiết đạt 10 tấn hạt/ha/năm sẽ thu được các loại sản
phẩm chủ yếu có giá trị cao như sau:
+ Dầu diesel sinh h
ọc: 3 tấn x 700 USD/tấn = 2100 USD
+ Bã khô dầu: 7 tấn x 300 USD/tấn= 2100 USD
Như vậy 1 ha Jatropha tạo ra giá trị khoảng 4200 USD/năm (gần 90 triệu
đồng/ha/năm), lợi nhuận thu được sẽ phân phối cho nông dân sản xuất nguyên
liệu và nhà đầu tư.
4
Bảng 1 so sánh thành phần dinh dưỡng của bã hạt Jatropha sau khi ép dầu với
hơn, chính phủ ta từ năm 2007 đã triển khai một số đề án trong lĩnh vực này.
Theo đề án “ Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm
2025” trong đó mục tiêu sản xuất 250.000 tấn biodiezel/năm vào năm 2015 để
đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu củ
a cả nước, đáp ứng nhu cầu 5% xăng dầu vào
năm 2025 (Quyết định 177/2007/QĐ- TTg). Đề án “Nghiên cứu, phát triển và sử
dụng sản phẩm cây cọc rào (Jatropha curas.L.) ở Việt Nam giai đoạn 2008 –
2015 và tầm nhìn đến năm 2025” đưa ra mục tiêu phát triển 300.000 ha cây
Jatropha năm 2015 và đạt 500.000 ha vào năm 2025. Trên cơ sở các đề án quốc
gia như vậy, các viện nghiên cứu đã và đang tiến hành các dự án phát triển
Jatropha trong đó ch
ủ yếu nghiên cứu, chọn tạo các giống cây cho năng suất cao,
hàm lượng dầu cao để đạt mục tiêu sản xuất dầu biodiezel (Ngô Thị Lam Giang,
2008; Lê Quốc Huy và cs., 2008; Nguyễn Công Tạn, 2008). Các công ty cũng
nhập cuộc. Công ty TNHH Núi Đầu đã trồng 150 ha Jatropha tại Lạng Sơn, công
5
ty Green Energy trồng 10 ha tại Sơn La và 5 ha ở Bình Thuận, công ty Minh Sơn
(Hà Nội) trồng 30 ha tại Sơn La năm 2007 và 50 ha 2008 tại Nghệ An. Bên cạnh
đó còn có hàng loạt các dự án lớn trồng cây Jatropha, đó là, công ty VM-
Agrotech của Malaysia đang làm thủ tục với tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận để
đầu tư trồng 60.000 ha, công ty cổ phần IGC của Nhật dự kiến trồng 200.000 ha,
công ty Trường Thịnh sẽ đầu tư trồng 15.000 ha tại Gia Lai, 100.000 ha tại một
s
ố tỉnh khác. Đáp ứng nguồn nguyên liệu phát triển thì nghiên cứu và phát triển
các sản phẩm thừ cấp bên cạnh sản phẩm chính là biodiezel cần quan tâm và đầu
tư vì đây là một phần không thể thiếu trong chuỗi sản xuất Jatropha – biodiezel,
nó duy trì sự bền vững của chuỗi sản xuất theo ý nghĩa lợi ích kinh tế và môi
trường.
4.
Đối với quá trình sản xuất phân
ủ trong điều kiện hiếu khí thì độ thoáng khí là điều kiện tiên quyết cần có.
Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và sự thay đổi pH theo thời gian
trong quá trình sản xuất phân ủ. Ở giai đoạn đầu, pH thường giảm xuống mức 5
6
và lúc này, số lượng nấm trong đống phân ủ chiếm ưu thế. Nhưng khi nhiệt độ
tăng nhanh và mạnh, thì pH cũng tăng theo và hoạt tính của vi khuẩn và xạ
khuẩn cũng tăng mạnh. Sau đó thì pH giảm xuống và luôn giữ ở mức 7.
Chủng vi sinh vật
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ủ chất hữu cơ với các chủng nấm mốc phân
giải cellulose có thể làm cho cường độ
của quá trình ủ tăng mạnh (Gaur và
Sadasivan, 1993). Trong quá trình ủ phân rác, có khoảng 25-50% cacbon và 10-
40% đạm từ nguyên liệu ban đầu có thể bị mất đi, do vậy cần sử dụng các giải
pháp hạn chế sự mất đạm
Độ ẩm
Độ ẩm đống phân xuống dưới 30% thì các phản ứng sinh học chậm lại
đáng kể. Nhưng nếu độ ẩm quá cao thì không khí trong đống phân lại khó lưu
thông. Do vậy, nên duy trì độ
ẩm tối thích cho việc phân giải của vi sinh vật ở
mức 50-60%.
Để duy trì độ ẩm hợp lý cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
+ Thấm ướt nguyên liệu trước khi ủ và tưới nước trong quá trinh ủ nếu
nguyên liệu ủ quá khô
+ Ủ phân dưới bóng râm hoặc trong nhà có mái che
Việc đảo trộn trong quá trình sản xuất
Mục đích là tạo điều kiện cho không khí có thể thâm nhập đề
+ Vi khuẩn sống trong dạ dày động vật ăn cỏ: Ruminococcus;
Flavefaciens; Butyrivibrio; Bacteroides
+ Ngoài ra còn có các chủng khác như: Cellulomonas; Acetobacter;
Clostridium; Pseudomonas
-
Nấm sợi:
các loài nấm sợi phân giải nhanh cellulose là: Trichoderma; Penicillium;
Phanerochate; Sporotrichum; Sclerotium; Aspergillus; Alternaria;
Chaetomium; Coprinus; Fomes; Fusarium; Myrothecium; Penicillium;
polypones; Rhizotonia; Rhizopus
- Xạ khuẩn:
Có 2 nhóm là xạ khuẩn ưa ấm (phát triển mạnh ở 28 – 30
o
C) và xạ khuẩn
ưa nhiệt (phát triển mạnh ở 60 – 70
o
C). Trong đống ủ phế thải có các loại
xạ khuẩn như Actinomyces; Steptomyces; Nicardia; Actinopolyspora;
Actinosynoema
Vi sinh vật phân giải hemicellulose:
- Vi khuẩn: Ruminococcus; Bacillus; Bacteroides; Butyvibrio;
Clostridium
- Nấm sợi: Aspergillus; Penicillium; Trichoderma
Vi sinh vật phân giải lignin
- Vi khuẩn: Pseudomonas; Xanthomonas; Acinebacter
- Nấm: Basidiomycetes; Acomycetes
- Xạ khuẩn: Streptomyces
Vai trò của vi sinh vật trong xử lý xác bã hữu cơ:
+ Cellulose là thành phần chủ yếu trong tế bào thực vật, chi
ếm tới 50% tổng số
flavus, A. fumigatus, A. terreus Bên cạnh nấm mốc, vi khuẩn cũng được xem
là một trong những đối tượng có khả năng sinh tổng hợp endo-β-1,4-glucanase
khá phong phú. Nhiều loài vi khuẩn hiếu khí đã được nghiên cứu là có khả năng
sinh tổng hợp endo-β-1,4-glucanase mạnh như Acidothemus cellulobuticus,
Bacilluspumilis, Cellulomonas flavigena.
Vi khuẩn có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ một cách đáng kinh ngạc.
Một số
nhóm vi sinh "chuyên hóa" đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
hình thành các khoáng chất từ một số nhóm hợp chất hữu cơ. Ví dụ, sự phân giải
cellulose, một trong những thành phần chiếm đa số trong mô thực vật, được thực
hiện chủ yếu bởi các vi khuẩn hiếu khí thuộc chi Cytophaga. Khả năng này cũng
được con người ứng dụng trong công nghiệp và trong cải thiện sinh học
(bioremediation). Các vi khuẩn có khả năng phân h
ủy hydrocarbon trong dầu mỏ
thường được dùng để làm sạch các vết dầu loang.
Vi sinh vật sống trong đất và trong nước tham gia tích cực vào quá trình phân
giải các xác hữu cơ động vật, thực vật biến chúng thành CO
2
và các hợp chất vô
cơ khác dùng làm thức ăn cho cây trồng. Các vi sinh vật cố định nitơ thực hiện
việc biến khí nitơ (N
2
) trong không khí thành hợp chất nitơ (NH
3
, NH
4
) cung cấp
cho cây trồng.
Vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S thành những
dạng hợp chất cây trồng dễ hấp thu.Vi sinh vật còn tham gia vào quá trình hình
2.3. Phương pháp thực nghiệm
2.3.1. Phân lập và thu thập giống
Nấm mốc được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau là bã Jatropha, phân bò,
bã Jatropha trộn phân bò hoặc phân hữu cơ. Trong quá trình ủ các nguồn hữu cơ
làm nguyên liệu cho việc phân lập có bổ sung bụi xơ dừa và vôi. Ngoài ra thu
thập thêm 3 chủng nấm mốc thuộc Trichoderma có nguồn gốc từ Viện Công
nghệ Sinh học và Thực phẩm, tr
ường ĐH Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh, gồm T.
atroviride, T. harzianum, T. reesei.
Môi trường phân lập nấm mốc: Môi trường PGA (môi trường nước chiết
khoai tây)
Phương pháp tiến hành: Phân lập nấm mốc bằng phương pháp thạch đĩa.
Pha loãng 1g mẫu trong 2,5ml nước vô trùng, lắc đều. Dùng que cấy ria dịch
loãng lên hộp petri chứa môi trường PGA, để ở nhiệt độ phòng. Sau 24h, lấy các
đĩa petri trên ra kiểm tra, nếu thấy có khuẩn lạc nấm mốc xuất hiện thì cấy
chuyền các khuẩn lạc đó, tiếp tục theo dõi và phân lập đến khi thu được khuẩn
lạc nấm mốc thuần khiết. Sau khi thu được các chủng nấm mốc thuần khiết, các
chủng được nuôi c
ấy và giữ giống trên môi trường PGA. 10
2.3.2. Lựa chọn các chủng nấm mốc có khả năng phân huỷ bã hạt Jatropha.
- Xác định khả năng phân giải cellulose
+ Môi trường: sử dụng môi trường Czapek (Cz) nhưng thay glucose trong
môi trường bằng CMC (carboxyl methyle cellulose).
+ Tiến hành: cấy nấm mốc vào giữa hộp petri có chứa môi trường Cz, nuôi
cấy ở nhiệt độ phòng. Sau 5 ngày thực hiện phản ứng màu với dung dịch Lugol,
Cấy các giống nấm mốc vào các bình ủ bã ép dầu Jatropha. Số lượng cấy
vào ban đầu như nhau giữa các bình. Các bình này được nối thông với các bình
hứng chứa dung dịch NaOH có cho thêm vài giọt thuốc thử Phenolphtalein.
CO
2
sinh ra trong bình ủ sẽ được hấp thụ trong các bình hứng chứa dung
dịch NaOH. Lượng NaOH còn dư trong bình được chuẩn độ bằng dung dịch
HCl. Lượng CO
2
sinh ra được xác định một cách tương đối như sau:
Trong đó:
11
- : khối lượng CO
2
được sinh ra trong các bình ủ
- Vo: thể tích dung dịch HCl cần dùng để trung hòa lượng NaOH ban đầu
có trong bình hứng (mẫu trắng)
- V: thể tích dung dịch HCl cần dùng để trung hòa NaOH còn lại trong bình
hứng
- C
M
: nồng độ mol của dung dịch NaOH
Mô hình khảo sát khả năng phân hủy bã hạt Jatropha
Thí nghiệm lập lại 3 lần.
2.3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ bã hạt và xây
dựng qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha
CO
2
sinh ra mỗi ngày bắt đầu từ ngày thứ 3 cho tới ngày thứ 30. Thí nghiệm lập
lại 3 lần.
Qui trình sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha
Với kết quả khảo sát ẩm độ, loại và lượng chất hữu cơ giàu C bổ sung vào
bã hạt Jatropha, thực hiện thử nghiệm sản xuất phân bón hữu cơ từ bã thải hạt
Jatropha và áp dụng qui trình sản xuất phân bón hiện tại để xác đị
nh qui trình sản
xuất phân bón từ bã hạt Jatropha trong phòng thí nghiệm. Qui trình sản xuất bao
gồm khâu sản xuất giống vi sinh, thực hiện quá trình phân huỷ.
- Sản xuất giống: sử dụng chủng nấm mốc A12, giống gốc được nhân sinh khối
cấp 1 trên môi trường cám gạo - trấu, trong thời gian 3 ngày, trong bình erlen,
sau đó nhân giống cấp 2 trên môi trường cám gạo - trấu. Thu hoạch giống sau
thời gian 5 ngày. Giống này được sử dụng để sản xuấ
t phân bón hữu cơ.
- Cân 10 kg bã hạt Jatropha, trộn lẫn với bụi xơ dừa theo tỷ lệ 30%, thêm vôi
(1%), chỉnh ẩm độ 60%. Cấy giống, tỷ lệ 0,1%. Ủ ở nhiệt độ phòng. Sau 4 tuần
lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu: pH, ẩm độ, chất hữu cơ, N tổng, P, K hữu hiệu.
Thí nghiệm lập lại 2 lần.
2.4. Thực hiện sản xuất thử nghiệm, xác định chất lượ
ng phân bón
Thực hiện sản xuất phân bón hữu cơ từ bã hạt Jatropha dựa vào qui trình đã
được xác định ở phần 3. Nguồn gốc bã được cung cấp bởi Công ty TNHH Xây
dựng Thương mại Sài Gòn. Bã đã được ép dầu bằng phương pháp ép cơ học.
Hàm lượng dầu còn lại trung bình 12%. Tổng số bã là 1.200 kg. Thực hiện tại
Trung tâm Giống Trảng Bàng, Tây Ninh. Nghiệm thức bao gồm đối chứng và thí
nghiệm. Lô đối chứng không cấ
y giống vi sinh, lô thí nghiệm cấy giống. Thiết kế
được bón phân như
nhau ngoại trừ nghiệm thức đối chứng áp dụng phân bón hữu cơ vi sinh (Covar-
Rofor), nghiệm thức thí nghiệm sử dụng phân bón hữu cơ Jatropha. Phân hữu cơ
vi sinh (ẩm độ 30%) bón với liều lượng là 2kg cho một luống 30m
2
(670 kg/ha);
Phân bón hữu cơ Jatropha (ẩm độ 25%) bón ở liều lượng 1.67 kg/luống, (557
kg/ha). Ở cả hai nghiệm thức bón lót phân gà, liều lượng 25kg cho 1 luống 30 m
2
(tương đương khoảng 8330kg/ha), phân lân Lâm thao 2kg/30m
2
(670 kg/Ha) Sau
1 tuần thì bón thúc cho cây, bao gồm phân gà (25kg/30m
2
), 1kg NPK 16-16-8/30
m
2
(335 kg/ha).
- Chỉ tiêu theo dõi: chiều cao cây, năng suất khi thu hoạch.
Thí nghiệm 2: Xác định hiệu quả của phân bón hữu cơ Jatropha đối với cây cải
ngọt khi thay thế phân gà
- Nghiệm thức thí nghiệm:
1. Đối chứng có sử dụng phân gà
2. Áp dụng phân bón hữu cơ Jatropha
- Bố trí thí nghiệm: 2 lô đối chứng và thí nghiệm được bố trí trên mỗi luống
trồng có diện tích là 30m
2
, 3 lần lập lại, mỗi lô là 15m
2
Mẫu bã hạt Jatropha được cung cấp bởi Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng
Thương mại Sài gòn. Hạt Jatropha có nguồn gốc từ Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai và
Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương. Có 3 dạng bã hạt: dạng đóng thành cục lớn, cứng;
dạng cục nhỏ hơn và dạng bột, rời (Hình 1).
Hình 1. Các dạng bã hạt Jatropha sau khi ép dầu
Bảng 3.1. Một s
ố chỉ tiêu lý hoá của bã hạt Jatropha sau khi ép dầu
Chỉ tiêu Khoảng Giá trị trung bình
Chất hữu cơ (%) 36,34 – 90,06 77,62
Nitơ (%) 3,64 – 3,95 3,52
Photpho tổng (%) 0,70 – 2,03 1,38
Photpho hữu hiệu (%) 0,22 – 0,42 0,34
Kali tổng (%) 1,55 – 1,83 1,69
Kali hữu hiệu (%) 1,31 – 1,59 1,46
Na (%) 0,012 – 0,077 0,039
Canxi (%) 0,510 – 0,621 0,568
Magiê (%) 0,519 – 0,730 0,617
pH
H2O
5,4 – 6,9 6,2
Ẩm độ (%) 9,79 – 11,36 10,38
A7 (mốc xanh, vòng
trắng bao quanh)
Bã Jatropha, Bã Jatropha+5% vôi
A8 (mốc trắng) Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân hữu cơ (1:2:1), Bã
Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân bò, Bã Jatropha : Bụi xơ
dừa+5% vôi (1:5), Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân
hữu cơ+ 5% vôi (1:5:1), phân bò
A9 (mốc đen) Bã Jatropha : Bụi xơ dừa, Bã Jatropha : Bụi xơ dừa :
Phân hữu cơ (1:5:1), Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân
bò (1:5:1), Phân hữu cơ
A10 (mốc trắng vàng) Bã Jatropha : Bụi xơ dừa : Phân hữu cơ (1:2:1), Phân
bò