Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành lâm nghiệp đại học nông lâm Thái nGuyên - Pdf 42

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN VĂN A

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHAI THÁC PHÁT TRIỂN
NGUỒN GEN CÂY HOÀNG ĐẰNG Ở TỈNH THANH HÓA
KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
ĐỀ CƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm Nghiệp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 201 - 201

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn B


Sự phân bố của hợp chất alkaloid trong giới thực vật tương đối rộng rãi,
với hơn 4000 loài có chứa loại hợp chất này[1]. Trong cây alkaloid tồn tại ở
nhiều bộ phận khác nhau.
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria. Lour) thuộc họ Tiết dê
(Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa alkaloid được sử
dụng rộng rãi. Theo cuốn "Dược liệu" nhà xuất bản Y học - 1983 thì dược
phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng,
kiết lị và ngộ độc thức ăn.
Các nghiên cứu từ trước đến nay trên đối tượng cây Hoàng đằng cho thấy
các công dụng mà nó có được là do hợp chất alkaloid palmatin - thành phần hoạt
chất chính trong cây - tạo ra. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hàm lượng alkaloid
toàn phần theo palmatin tính trung bình trong nguyên liệu là 1 - 3% [4]. Tuy
nhiên chưa thấy những nghiên cứu cụ thể về sự biến động hàm lượng alkaloid


3

trong các bộ phận của cây, đặc biệt là những nghiên cứu trên đối tượng cây
Hoàng đằng mọc hoang ở huyện Lang Chánh - là một trong những nơi có sự
phân bố cao [1].
Cây Hoàng đằng mọc hoang ở một số vùng Bắc Trung Bộ từ lâu đã
được nhân dân địa phương sử dụng làm thuốc và làm nguyên liệu nhuộm.
Gần đây tại Lang Chánh, hiện tượng thu mua nguyên liệu cây Hoàng đằng để
xuất khẩu, chế biến với số lượng lớn diễn ra khá phổ biến.
Để tìm hiểu một số đặc điểm thực vật, đánh giá chất lượng alkaloid của
cây Hoàng đằng trong điều kiện sinh cảnh ở Lang Chánh chúng tôi nghiên
cứu khóa luận: " Điều tra hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh thái, làm cơ sở
đề xuất biện pháp khai thác phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng ở tỉnh
Thanh Hóa khu vực Bắc Trung Bộ ".
Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai

2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng
sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Quá trình đô thị hóa, ô
nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện
tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng
đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời. Trong đó
Hoàng đằng là loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, đã và đang bị khai thác mạnh
dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng chính trong tương lai gần vì thế chúng ta cần có
những nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này từ đó đề xuất các
biện pháp bảo tồn
Về cơ sở sinh học
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần
phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính
sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực
vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật
Về cơ sở bảo tồn
Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng
sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính
phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công
tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Sách đỏ IUCN công bố văn bản


6

năm 2004 (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11, 2004. Văn bản này đã đánh
giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.

gạc kể trên (O. Akerele, 1991; L. de Alwis, 1991 và A.S. Islam,1991). Một loài
cây thuốc quí khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông – Bắc Ấn Độ,
trước kia khai thác hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùng Đông
Nam Á, nay đã trở nên rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệt
chủng (O. Akerele,1991). Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, 1985 ở
Trung Quốc vốn có một số loài Dioscorea spp, trữ lượng khá lớn, trong thập
kỷ 50, đã từng khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài
thậm chí phải trồng. Một vài loài cây dân tộc thuốc quí như Fritillaria
cirrhosa (làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc tỉnh Tứ Xuyên
nay chỉ còn sót lại ở 1 – 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít. Hoặc loài Iphigenia
indica có tác dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali
tỉnh Vân Nam, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt
chủng. Một số loại cây thuốc quí khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata,
Nervilia fordii,… cũng là những ví dụ điển hình.
Sara Oldfield, tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc tế,
nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự”. Phần lớn
dân số thế giới, trong đó có 80% người châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vào dược
thảo để chữa bệnh. Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên
khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp xỉ
15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Tình trạng thiếu dược
thảo đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda hình
về sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc (P.G. Xiao, 1991).
Có thể nói giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn. Ở Mỹ mỗi
năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD. Ở Trung Quốc, chỉ
riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/
năm. Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế
giới đã đặt ra một vấn đề cần lưu tâm: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được


8

II) năm2003, Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài. Trong đó có
chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở
vùng nhiệt đới châu Á. Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon
Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa
phân bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại
Ấn Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia
[1], [39].
Hoàng Đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, Dây vàng giang,
Nam hoàng liên.Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng
(Fibraurea tinctoria Lour, hay Fibraurea recisa Pierre), Trên thế giới phân bố
từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Indonesia [1] [2]. Ở nước
ta gặp tại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ
An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam
(Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum
(Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc) [1], [2]. Cây sống dưới


9

tán rừng thứ sinh ở độ cao 10-200m, mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, cây ưa
ẩm. Cây mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát, ở thung lũng, bờ suối ven nương
rẫy [1], [2] [10], [12].
Sách đỏ Việt Nam xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp).
Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên [1], [2]
[19] [20]. Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c,
d. Cơ sở phân hạng: loài tuy có phân bố không hẹp nhưng khu phân bố tại
nhiều điểm rừng bị chặt phá nghiêm trọng. Cây cũng bị khai thác lấy nguyên
liệu làm thuốc 1], [2] [19] [20]. Đề nghị biện pháp bảo vệ: cấm phá rừng tại
khu vực này và có kế hoạch luân chuyển để cây kịp tái sinh . Trong số các
tỉnh miền Trung, Quảng Bình là địa phương có rừng che phủ thuộc loại cao.

phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030. Theo đó, việc bảo tồn và khai thác dược liệu tự nhiên
bao gồm: Quy hoạch các vùng rừng, vùng có dược liệu tự nhiên ở 8 vùng
dược liệu trọng điểm, bao gồm: Tây Bắc, Đông Bắc (trong đó có tỉnh Thái
Nguyên), Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, để lựa chọn và khai thác hợp lý
24 loài dược liệu, đạt khoảng 2.500 tấn dược liệu/năm; xây dựng 5 vườn bảo
tồn và phát triển cây thuốc quốc gia đại diện cho các vùng sinh thái; phấn đấu
đến năm 2020 bảo tồn được 50% và đến năm 2030 là 70% tổng số loài dược
liệu của nước ta. Về việc phát triển trồng cây dược liệu: Quy hoạch phát triển
54 loài dược liệu thế mạnh của 8 vùng sinh thái phù hợp với điều kiện sinh
trưởng, phát triển của cây thuốc để đến năm 2020 đáp ứng được 60% và đến
năm 2030 là 80% tổng nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước, tăng cường khả
năng xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước… [26].
Đối với vùng Tây Bắc nói chung và các tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái
khác nhau nói riêng, nhiều nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để trồng các loại


11

cây dược liệu quý, có hiệu quả kinh tế cao, chính vì vậy, cần có nhiều vùng quy
hoạch trồng cây dược liệu để khai thác, phát triển tốt những lợi thế, [16], [32].
Hoàng đằng nằm trong số 930 loài cây dược liệu đã được điều tra thu
thập tại tỉnh Thái Nguyên, [16].Năm 2013 đã tiến hành thu thập mẫu giống và
lưu giữ bảo tồn nguồn gen của 14 loài, bước đầu cho thấy khả năng sinh
trưởng tương đối khả quan, thích ứng với điều kiện sinh thái [16]. Tuy nhiên
đề tài mới chỉ dừng lại ở việc thu thập và lưu giữ nguồn gen quý này, rất cần
những nghiên cứu chuyên sâu nhằm phục vụ khai thác và phát triển nguồn
gen cây Hoàng ðằng có hiệu quả, giúp ổn ðịnh nguồn dýợc liệu và phát triển
thành vùng sản xuất hàng hóa.

cây đối với hoàn cảnh.
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm
sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng
thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường Lê Mộng Chân
(2000) [4].
Phan Kế Lộc (1970) [6]. Đã xách định hệ thực vật miền bắc Việt Nam
có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ, tác giả đã đề nghị áp dụng công thức
đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới.
Thái Văn Trừng (1978) [11]. Thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004
loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), Khi nghiên cứu một số đặc
điểm sinh thái, sinh vật học của san van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng
đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài.
Nguyễn nghĩa Thìn (1997) [9]. Đã thống kê thành phần loài của
VQG có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478


13

chi, 213 họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được
xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau
Lê Ngọc Công (2004) [3]. Nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên
đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160
họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều
cây quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) [2]. Nghiên cứu thành phần loài,
dạng sống sa van bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện loài thuộc 47
họ khác nhau. Các nghiên cứu có liên quan
Đỗ Tất Lợi (1995) [7] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tái
bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bảm địa hoang dại

bình năm là 2.200 mm (có nơi 2.500 mm); mùa mưa kéo dài 6- 7 tháng, bắt
đầu từ giữa tháng tư và kết thúc vào cuối tháng mười. Hàng năm có 20–25
ngày có giá tây khô nóng.
2.3.1.4. Về đất đai thổ nhưỡng:
- Diện tích tự nhiên: 58.650ha
+ Đất Lâm nghiệp: 50.632 ha, chiếm 86,3% diện tích tự nhiên. Trong
đó diện tích đất rừng phòng hộ 15.867 ha; đất rừng sản xuất 34.765 ha.
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 3.945,0 ha.
2.3.1.5. Về tài nguyên - khoáng sản
a) Tài nguyên rừng: diện tích rừng phòng hộ 15.867 ha, rừng tự nhiên
13.128 ha; rừng khoanh nuôi, phục hồi 2.061 ha, rừng sản xuất trên 6.000 ha;
rừng trồng chủ yếu là keo, luồng. Rừng luồng trên 11.000 ha, cây luồng Lang
Chánh là cây bản địa đã được mênh danh là “Vua Luồng”. Luồng Lang
Chánh đã trồng lưu niệm tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghĩa trang quốc
gia Trường Sơn. Trung bình mỗi năm, toàn huyện khai thác khoảng trên 3


15

triệu cây; toàn huyện có 5 cơ sở chế biến luồng, tạo việc làm cho trăm lao
động địa phương. Độ che phủ rừng 78,7%.
Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông
Sạo, sông Âm. Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng phát
triển thuỷ điện và du lịch sinh thái, rừng cây cung cấp nước ngọt và thực
phẩm cho đồng bào các dân tộc, là con đường vận chuyển lâm sản về đồng
bằng ngoài ra còn có nguồn nước ngầm phong phú.
b) Tài nguyên khoáng sản: Huyện Lang Chánh có mỏ quặng sắt, quặng
đồng; mỏ đá Granit, đá Gabiro 6.000 m3; quặng chì kẽm; mỏ đá cao lanh.
Nguồn tài nguyên khoáng sản huyện Lang Chánh đa dạng về chủng loại.
2.3.1.6. Về du lịch

Lao động đang làm việc trong các thành phần kinh tế có 21.446 người,
trong đó lao động đang làm việc trong các ngành nông lâm nghiệp là 17.671
người (chiếm 82.4%). Số lao động đang làm việc trong các ngành: CNTTCN: 895 người, dịch vụ 2880 người. Tỷ lệ sử dụng lao động ở khu vực
nông thôn đạt 82%. Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực hiện nay chưa cao,
tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập huấn còn thấp: 4.087 người chiếm tỷ lệ 16,2%.
Xuất khẩu lao động: Từ 2011 đến 2015 đã có 314 người tham gia xuất
khẩu lao động, góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới trong chương trình giải
quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo.
2.3.2. Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội
Lang Chánh có hệ thống giao thông đi lại thuận lợi, hệ thống tưới tiêu
cho sản xuất nông nghiệp bảo đảm, đất rộng, nhiều tài nguyên khoáng sản có
trữ lượng lớn, chất lượng tốt.
Tài nguyên rừng: Theo kết quả kiểm kê rừng, huyện Lang Chánh thuộc loại
rừng trung bình, trữ lượng ước tính có khoảng 1.616 nghìn m3 gỗ; 15 triệu
cây tre, luồng; 55 triệu cây nứa và hàng chục nghìn cây hỗn giao.


17

PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Loài Hoàng đằng phân bố tại huyện Lang
Chánh
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài
cây Hoàng đằng làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Đề tài được tiến hành từ tháng 1/8/2016 đến tháng 31/12/2016.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa
3.3. Nội dung nghiên cứu

- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có về điều
kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, về loài Hoàng đằng ở trong và ngoài nước
(về đặc điểm sinh học cơ bản, điều kiện lập địa, khả năng sinh trưởng...).
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theo
các tuyến điều tra, lập các Ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời, thu thập
các số liệu liên quan đến các nội dung của đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Việc xác định tính chính xác đối tượng
nghiên cứu ngoài thực địa là vô cùng quan trọng nó quyết định toàn bộ kết quả
nghiên cứu của đề tài. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ nhờ đến các
chuyên gia hỗ trợ từ trường Đại học Nông Lâm trong lĩnh vực thực vật, lâm
sinh học và điều tra rừng.
- Sử dụng các phần mềm xử lý thống kê chuyên dụng EXCEL, GIS,...
để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra.
3.4.2. Cách tiếp cận của đề tài.


19

Sinh học là môn khoa học nghiên cứu về sự sống trên trái đất nên
nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài là lĩnh vực nghiên cứu rộng bao gồm
các đặc điểm về hình thái, sinh thái, sinh lý... của loài.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đặc điểm sinh học của
loài chỉ bao gồm các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố.
Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên
cứu đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu.
3.4.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
3.4.3.1. Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu.
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, hình
thái, tái sinh, giá trị sử dụng, của loài Hoàng đằng được thực hiện ở trong

phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn
hoàng Nghĩa 2001) [8]. Cụ thể như sau:
- Quan sát mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân
cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt của cây Hoàng đằng, đối với thân
cây ta dùng thước dây để xác định chu vi tại vị trí D 1.3 , đo lá và quả bằng cách
chọn những lá và quả sinh trưởng bình thường không bị sâu bệnh hay biến
dạng dùng thước kẻ hoặc thước dây đo chiều dài và rộng rồi ghi lại các thông
số đã đo vào bảng, ngoài ra chúng ta có thể dùng thước kẹp để đo kích thước
quả rất tiện lợi và có độ chính xác cao
- Lấy mẫu tiêu bản không những của loài nghiên cứu mà lấy của các loài
khác trong quần xã phục vu cho việc định danh loài. Các mẫu vật thu được cần
so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự
nhằm xác định tính chính xác của loài (Nguyễn hoàng Nghĩa 2001) [8].
- Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Hoàng đằng. Thu hái 100
mẫu lá, quả ở 3 vị trí trên tán cây (Dưới tán, giữa tán và đỉnh tán)
- Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo
độ cao, GPS,…


21

b) Phương pháp phỏng vấn người dân.
Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết và sử dụng các loài Hoàng đằng
trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng phỏng vấn
như sau: Những người được phỏng vấn gồm những người đã từng khai thác
và sử dụng các loài cây gỗ trong khu vực để sử dụng cho sinh hoạt, phục vụ
sản xuất cũng như để trao đổi và mua bán, những người đã từng đi khác thác
Hoàng đằng để trộn lẫn với cây Re hương bán cho các lò nấu gù. Những
người am hiểu các loài cây tại khu vực như các cụ già, các cán bộ tuần rừng,
cán bộ Kiểm lâm trong khu bảo tồn … điều tra trong dân theo mẫu biểu thống

cách quan sát. Nhận dạng qua đặc điểm hình thái trên những tuyến điều tra.
- Dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ quản lý khu vực tiến hành sơ thám
khu vực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan và các cán bộ, người dân
quen biết thông thạo địa hình. Lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp.
- Chọn và lập tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu,
Kết quả điều tra được trên tuyến ghi vào mẫu bảng 02 phụ lục 02.
d) Điều tra trên các OTC điển hình:
Điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình (những nơi có loài Hoàng đằng
xuất hiện) để xác định về tính đa dạng của thực vật nhất là đối với điều tra
mật độ loài, mức độ thường gặp... mà trong điều tra theo tuyến không thể hiện
được các chỉ tiêu này
Qua sơ thám, điều tra trên các tuyến, chúng tôi đã lập được tổng cộng
40 điểm đo, tại các điểm đo này lập các OTC mỗi ô có diện tích 2000 m2 với
kích thước 50m X 40m. Tại những nơi địa hình dốc, khó khăn trong chọn và
điều tra tiến hành lập các OTC có diện tích nhỏ hơn (500 m 2), gần nhau và lấy
ngẫu nhiên thay thế cho ô có diện tích lớn.
- Để tăng tính đại diện của ô mẫu điển hình phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Ô phải nằm gọn trong lâm phần hoặc lô rừng.


23

- Ô phải nằm cách xa đường mòn lớn, đường cái, bìa rừng ít nhất là 10m.
- Ô không được vượt qua khe hoặc vắt qua dông núi.
- Ô phải đồng nhất về các yếu tố kết cấu địa hình, đất đai, ... đã nêu trên.
- Ô không chứa đựng các khoảng trống lớn trong ô (Mật độ cây phải rải
đều trong toàn bộ diện tích ô).
- Phải thuận lợi cho các thao tác điều tra. Tại các điểm đo nếu xuất hiện
loài Hoàng đằng, tiến hành lập các OTC. Trên các điểm đo, tiến hành điều tra
toàn diện bộ diện tích 20002 , chỉ tiến hành đo đếm các thông tin như tầng cây

Điều tra tầng cây gỗ được ghi vào mẫu bảng 03 phụ lục 02.
e) Phương pháp điều tra cây tái sinh
Hoàng đằng là dạng sống dây leo, nên chúng tôi phân chia thàng các
cấp như sau (mẫu Bảng 3.4). tiến hành đo tái sinh cây Hoàng đằng tiến hành các
bước, xác định:
-Đo đếm toàn bộ cây tái sinh loài hoàng đằng trên OTC
- Tên loài cây tái sinh.
- Chiều cao cây tái sinh theo các cấp khác nhau.
- Xác định chất lượng cây tái sinh:
 Cây tốt là cây thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt,
không sâu bệnh.
 Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển
kém, sâu bệnh.
 Còn lại là cây có chất lượng trung bình.
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Hạt hay chồi
Khi điều tra tái sinh trên OTC, chúng tôi đồng thời xách định các chỉ
tiêu: Độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất tại vi trí ODB.
Điều tra cây tái sinh được ghi vào mẫu bảng 04 phụ lục 02.
- Xác định cây tái sinh triển vọng: Cây tái sinh triển vọng là nhưng cây
> 1m, sinh trưởng tốt có khả năng tham gia vào tầng cây cao.
f) Phương pháp điều tra cây bụi, thảm tươi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status