TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử ===SO CŨI
G8===
NGUYỄN THỊ KIM
QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN
TỪ NĂM 1945 ĐÉN NĂM 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngưòi hướng dẫn khoa học
Th.s TRẦN THỊ THU HÀ
HÀ NỘI - 2016
Để hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các
thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử Việt Nam, sự đóng góp của các bạn sinh viên. Em xin chân thành cảm om sự
giúp đỡ và đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Ths.TVần Thị Thu Hà đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Em xin cam đoan đề tài khóa luận này là do sự cố gắng, nỗ lực, tìm hiểu nghiên cứu của bản thân em cùng vói sự giúp
XHCN
: Xã hội Chủ nghĩa
MỤC LỤC
1.
2..............................................................................................................................
2.3.1.
Tác động của quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 1945 đến năm
3..............................................................................................................................
4.
5.
MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
6.
Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia không chung địa giới nhưng mối
quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Thái Lan đã có một quá trình lâu đời và liên tục.
Tuy có những bước thăng trầm, đậm nhạt khác nhau qua từng thời kì, song quan hệ
này luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống của hai nước.
7.
Thái Lan từ năm 1945 đến năm 1975” làm đề tài khóa luận.
10.
2 . Lịch sử nghiên cứu vấn đề
11.
Việc tìm hiểu mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử nói chung
và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam nói riêng cũng đã có
nhiều học giả quan tâm nghiên cứu.
12.
Trước tiên ta phải kể đến công trình tiêu biểu như “Quan hệ Việt Nam -
Thái Lan trong những năm 90” xuất bản năm 2001 của tác giả Nguyễn Tương Lai đã
đề cập đến mối quan hệ của Việt Nam với Thái Lan lúc căng thẳng, lúc hòa dịu và
cách chính sách đối ngoại của hai nước trong xu thế chung của thế giới. Và cuốn sách
của tác giả Hoàng Khắc Nam xuất bản năm 2007 có tên là “ Quan hệ Việt Nam - Thái
Lan (1976 - 2000)” cũng đã đề cập tới quan hệ của Việt Nam - Thái Lan từ trước năm
1945 cho đến năm 2000.
13.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa bành trướng bá
quyền của Mỹ trong quan hệ với các nước láng giềng đặc biệt là với Việt Nam như
Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:
17.
Thứ nhất: Tìm hiểu những nhân tố tác động tới quan hệ hai
18.
Thứ hai: Nêu được mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm
nước.
1945 đến năm 1975 trên lĩnh vực chính trị ngoại giao Việt Nam.
19.
Thứ ba: Nghiên cứu rút ra đặc điểm và tác động của quan hệ
Việt Nam - Thái Lan có tác động đối với hai nước và đối với khu vực.
3.3.
Phạm vi nghiên cứu
20.
về thời gian: Đẻ tài tập trung nghiên cứu về quan hệ Việt Nam
- Thái Lan trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và cuộc kháng
24.
Để thực hiện đề tài, chúng tôi dựa ừên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động đối ngoại.
25.
Phương pháp chính được sử dụng trong khóa luận này là phương pháp
lịch sử và phương pháp lôgic nhằm trình bày và phân tích các mối liên hệ của sự
kiện lịch sử để giải quyết những nội dung nêu trong các chương của khóa luận.
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác: hệ thống, so sánh, tổng hợp, phân
tích...
5. Đóng góp của khóa luận
1.1.
26.
về mặt lí luận:
Khóa luận “Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 1945 đến năm 1975”
đã chỉ rõ thực trạng quan hệ Mỹ - Thái trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao từ
năm 1945 - 1975. Nhận thức được đúng đắn, khách quan mối quan hệ giữa hai
nước trong bối cảnh Chiến tranh Việt Nam.
1.2.
1.1.
QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN TRƯỚC NĂM 1945
33.
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan là một quá trình quan hệ xã hội lâu đời,
nhiều mặt, trên cả phương diện nhà nước - nhà nước lẫn nhân dân - nhân dân. Truyền
thống tôn trọng quá khứ của cả hai nước càng làm tăng tính chất lịch sử trong quan hệ
này. Do đó, tìm hiểu mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch cho đến trước năm
1945, sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở tiền đề cho quan hệ hai nước trong giai đoạn
1945 - 1975.
34.
Những tiền đề của quan hệ Việt Nam - Thái Lan bao gồm về mặt địa lí,
nét tương đồng trong điều kiện tự nhiên - kinh tế, tính gần gũi trong cơ sở văn hóa,
các mối quan hệ đồng tộc đã tạo nên một phàn môi trường tương đối ổn định cho quan
hệ hai nước.
1.1.1.
1.1.1.1.
Tiền đề của quan hệ Việt Nam - Thái Lan
Vị trí địa ỉí
35.
dưới cái nhìn địa chính trị, chính yếu tố này đã làm nên tính chất, đặc thù và
39.
những vấn đề riêng trong quan hệ liên tục, lợi ích đa dạng, vấn đề lãnh thổ và
40.
41.
Yếu tố địa lí gần kề và thuận lợi đã giúp quan hệ Việt Nam - Thái Lan
dân cư... Cho đến nay sự gần gũi về mặt địa lí này vẫn tiếp tục có ý nghĩa
trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan.
1.1.1.2. Điều kiên tư
nhiên — kỉnh tế • •
42.
Do nhu cầu tồn tại và phát triển, kinh tế luôn là động lực quan trọng
thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ đối ngoại. Lợi ích phát triển dẫn đến
hình thành thúc đẩy thương mại. Yêu cầu thúc đẩy thương mại tạo nên động lực cho
sự hình thành và phát triển quan hệ vói cộng đồng xung quanh.
43.
Với những động lực kinh tế và vị trí gần kề như vậy, điều kiện tự nhiên
hình thành có nhiều điểm tương đồng là một tiền đề thuận lọi cho sự phát triển quan
Những tương đồng trên có tác động không nhỏ tới quan hệ giữa hai
nước. Thứ nhất là điều kiện tự nhiên và cơ sở kinh tế giống nhau đã tạo nên nhiều
điểm chung trong thế giói nhận thức và cách ứng xử của con người đối với tự nhiên,
xã hội trở nên gàn gũi với nhau. Thứ hai là vai trò và sự tác động của nền nông nghiệp
lúa nước đối với sự hợp tác và hội nhập ở Đông Nam Á. Tất cả những yếu tố đó đều
giúp quá trình tiếp cận được dễ dàng hơn, giao lưu thuận lợi hơn, quan hệ duy trì lâu
hơn.
47.
Trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan, điều kiện tự nhiên - kinh tế như
vậy đã tạo thêm thuận lợi cho việc thiết lập các quan hệ kinh tế. Quan hệ kinh tế ở đây
đã được manh nha từ rất sớm. Những liên hệ kinh tế này đã tồn tại xuyên lịch sử.
1.1.1.3.
Cơ sở và quá trình phát triển văn hóa
48.
Văn hóa là một phàn quan trọng trong quan hệ giữa các dân tộc và
quốc gia. Văn hóa không chỉ là một lĩnh vực giao lưu mà còn là môi trường của quan
hệ. Văn hóa không chỉ là lợi ích tư thân mà còn là điều kiện cho sự liên hệ trong các
lĩnh vực khác.
mâu thuẫn hay giá ttị bổ sung. Trong trường họp quan hệ Việt Nam - Thái Lan, tương
đồng văn hóa khá lớn đã tạo ra khả năng hướng tác động của sự đa dạng văn hóa vào
mối quan hệ này theo chiều thuận. Điểm lại trong quá khứ Thái Lan và Việt Nam đã
có những mâu thuẫn vói nhau, nhưng các mâu thuẫn này đều không để lại quá nhiều
về mặt chính ttị. Giữa hai nước hầu như không tồn tại xung đột văn hóa giữa hai nước
đều diễn ra một cách hòa bình thông qua các quá trình phát tán và hôi nhập. Khả năng
tiếp nhận văn hóa và thái độ khoan dung đã ngày càng được củng cố theo thời gian và
góp phần làm nên cách ứng xử trong quan hệ giữa hai nước.
1.1.1.4.
Điều kiên dân cư
52.
Tiền đề quan trọng khác của quan hệ Việt Nam - Thái Lan là điều kiện
về dân cư. Đó là các quan hệ nhân dân trong lịch sử mà mối quan hệ đồng tộc trong
thành phần tộc người là chính. Vào thế kỉ XIII, người Thái đã có một quá trình sinh
sống lâu dài ở miền Nam Trung Quốc và phía bắc bán đảo Trung - Ấn, điều này đã
giúp hình thành nên những mối liên hệ nhân dân trong lịch sử. Quá trình tiến xuống
phía Nam và hòa nhập dần dần với cư dân bản địa của người Thái đã cho phép họ thu
nhập các cơ sở quan hệ sẵn có ở đây với các tộc người ở Việt Nam. Địa bàn cư trú gần
kề đã đem lại mối quan hệ về mặt địa lí nhân văn.
53.
Bên cạnh đó, trong suốt chiều dài lịch sử, đã có những cuộc di cư của
1.1.2.
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trước năm 1945
57.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan chắc chắn đã được hình thành
rất sớm. Mở đầu từ thời Lý với sự xuất hiện của các thương nhân người Thái đến với
Đại Việt để buôn bán. Các thuyền buôn của Lộ Hạc (tức La Hộc thuộc Thái Lan) và
Xiêm La đã vào vùng biển Hải Đông (thuộc Quảng Ninh ngày nay) xin được buôn
bán. Vua Lý Anh Tông đã cho bọn họ ở lại ngoài đảo Vân Đồn và cho thiết lập trang
Vân Đồn. Vân Đồn từ đó trở thành đầu mối giao lưu kỉnh tế giữa Việt Nam và Thái
Lan. Đến thời Lê, thuyền buôn Xiêm La lại tiếp tục sang buôn bán. Các mặt hàng chủ
yếu lúc đó là diêm tiêu, sáp vàng, đồ sắt đổi lấy vải lụa. Đồ gốm sứ và ngọc trai của
Đại Việt. Sau khi quốc vương Authaya lập quốc, ông đã cho sứ giả sang Đại Việt
chính thức đặt quan hệ ngoại giao và buôn bán, vua Lê chấp thuận và mối quan hệ này
tương đối phát triển.
58.
Cho đến khi ngưòi Việt tiến xuống phía Nam, quan hệ giữa hai nước đã
bắt đầu gia tăng và ngày càng phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng. Xiêm và Việt
bắt đàu trở thành đối tác quan hệ quan trọng của nhau ữên lĩnh vực. Trong thòi kì
Trịnh - Nguyễn phân tranh cho đến thời kì Tây Sơn, quan hệ của Xiêm diễn ra chủ yếu
với Đàng Trong do điều kiện bang giao thông thuận lợi và sự xuất hiện những lọi ích
ngoại biên. Vào thế kỉ XVI - thế kỉ XVII, quan hệ kinh tế trực tiếp giữa Xiêm và Đàng
Trong đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ. Cả hai bên đều trở thành đối tác
thương mại quan trọng của nhau bất chấp cơ sở kinh tế tự cung tự cấp khi đó.
đối ngoại cũng bị phụ thuộc nặng nề. Trong thời kì này mối quan hệ nhân dân - nhân
dân giữa Việt - Xiêm được duy trì, nhiều người Việt Nam đã không chịu nổi sự bóc lột
của thực dân Pháp đã chuyển sang
61.
Thái sinh sống. Với sự giúp đỡ của nhân dân Xiêm, kiều bào Việt Nam đã
nhanh chóng hòa mình với cộng đồng và góp phàn đoàn kết trong mối quan hệ giữa
hai dân tộc. Trong khi Việt Nam bị bao vây, Xiêm đã trở thành một địa bàn quan trọng
của những người yêu nước Việt Nam. Nguyễn Ắi Quốc cũng đã coi Xiêm là cơ sở
quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi thành lập Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên, năm 1925, Bác cử đồng chí Hồ Tùng Mậu sang Xiêm. Năm 1928
Bác đến Xiêm, trực tiếp vận động kiều bào tham gia cách mạng, thành lập tổ chức Hội
Thân ái Việt Nam và ra tuần báo “Thân ái” để giáo dục lòng yêu nước.
62.
Như vậy, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trước năm 1945 đã chịu
thêm thử thách từ bên ngoài. Mối quan hệ này không chỉ bị đứt đoạn về mặt nhà nước
mà còn bị biến dạng bởi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nhưng cũng
ừong thời gian này, nhân dân hai nước đã có cơ hội để hiểu nhau nhiều hơn. Chính
trong những năm tháng khỏ khăn nhất, mối quan hệ nhân dân - nhân dân đã được thử
thách và được củng cố. Sự thân thiện và tình cảm hữu nghị đã được lịch sử chứng tỏ là
một dòng chảy thông suốt và bền vững. Đây là cơ sở giúp duy trì và phát triển mối
quan hệ Việt Nam - Thái Lan không chỉ trong thời kì này mà còn trong những thời kì
tiếp theo.
nước Đồng minh. Tuy nhiên, để thực hiện mưu đồ đó Mỹ đã vấp phải rất nhiều khó
khăn, trở ngại. Một trong những thách thức mà Mỹ phải đối mặt đó là chủ nghĩa xã
hội trở thành hệ thống thế giới. Năm 1917 với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga đã dẫn tới sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên nằm trong vòng
vây của chủ nghĩa tư bản. Sau chiến tranh thế giới thứ hai với sự ra đời của một loạt
các nhà nước dân chủ nhân dân Đông Âu (1947-1949), nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa (1945), Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (9/1948), Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa (10/1949) đã đánh dấu chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống trên thế giới.
Đặc biệt trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội đã góp phần rất
quan họng thúc đẩy sự nghiệp đấu ừanh vĩ hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ trên thế giói, góp phần làm sụp đổ hệ thống chủ nghĩa thực dân, làm suy yếu chủ
nghĩa đế quốc. Cũng chính từ sự lớn mạnh đó của hệ thống xã hội chủ nghĩa Mỹ đã lôi
kéo các nước đồng minh tiến hành cuộc Chiến tranh Lạnh chống lại Liên Xô và các
nước Xã hội Chủ nghĩa.
65.
Đặc điểm bao trùm của bối cảnh quốc tế trong thòi kỳ 1945 - 1975 là
không khí căng thẳng của các xung đột giữa hai phe Đông - Tây xảy ra liên tục, trong
đó không ít làn Mỹ - Xô đã gần tiến tới bờ vực thẳm của chiến ừanh nóng như: khủng
hoảng Berlin, khủng hoảng tên lửa Cuba, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt
Nam... Thế lưỡng cực lôi kéo hầu hết tất cả các quốc gia làm đồng minh phe này hoặc
phe kia đối đầu căng thẳng. Vì vậy, Mỹ và Liên Xô đại diện cho hai thế lực chính ttị
quân sự không ngừng tranh thủ các đồng minh trong cuộc đấu tranh giành lợi ích.
66.
cho phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh. Hòa chung với
khí thế sôi nổi đó các nước Đông Nam Á đã tiến hành cách mạng và giành được độc
lập như Việt Nam, Indonesia, Lào, Malaysia... Sau khi giành độc lập, các nước Đông
Nam Á bước vào xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình đấu
tranh bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội do hoàn cảnh lịch sử mỗi
nước khác nhau nên mỗi nước lại chọn cho mình đường lối đối ngoại riêng: có nước
tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Lào, một số nước lại lựa chọn con
đường tư bản chủ nghĩa, liên minh với phương Tây như Thái Lan và Philippines;
nhiều nước khác chọn cho đất nước mình theo hướng trung lập như: Indonesia,
Myanmar, Campuchia.
69.
Trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới do phải đối mặt với
tham vọng giành quyền kiểm soát địa chính trị giữa Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc, chiến
tranh nóng leo thang ở Đông Dương cũng như nhu cầu gia tăng họp tác giữa các nước
láng giềng với nhau, 5 nước là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines
đã lập nên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào ngày 8/8/1967. Trong
quá trình phát triển, tổ chức ASEAN đã góp phần quan trọng vào việc duy trì hòa
bình, ổn định của khu vực, tác động đáng kể đến các mối quan hệ song phương, đa
phương, trong đó có cặp quan hệ Việt Nam - Thái Lan.
1.3.
1.3.1.
TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ THÁI LAN (1945 -1975)
Tình hình Việt Nam
nhân dân ta. Với ý đồ chia cắt đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa
của Mỹ, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của những tư tưởng XHCN xâm nhập vào khu
vực, đế quốc Mỹ đã đổ nhiều tiền của, nhân lực và vũ khí viện trợ cho bọn tay sai của
chúng. Dưới sự chỉ huy của Mỹ bọn tay sai đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống cộng,
tăng cường đàn áp nhân dân và gây bao đau thương cho nhân dân.
73.
Chiến lược “chiến tranh đặc biệf’ (1961 - 1965) của đế quốc Mỹ thất
bại. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” với hi vọng
tiêu diệt các lực lượng cách mạng ở miền Nam ừong vòng 25 đến 30 tháng. Điều này
cho thấy cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước cả nhân dân Việt Nam không chỉ đơn
thuần là một cuộc giải phóng dân tộc mà còn là sự đụng đầu giữa CNXH với CNĐQ.
74.
Hành động của Mỹ nhận được sự đồng thuận của rất nhiều quốc gia
đồng minh của Mỹ và đặc biệt là Thái Lan, Do trước đây nhận được nhiều sự giúp đỡ
từ Mỹ, Thái Lan giờ đây với tư cách là đồng minh của Mỹ đã ửng hộ và đưa quân đội
vào Việt Nam. Việc Thái Lan đem quân tới Việt Nam đã cho thấy được sự phụ thuộc
của Thái Lan vào Mỹ. Việc Thái Lan có mặt ở chiến trường Việt Nam, ngoài việc là
đồng minh của Mỹ thì Thái Lan cũng muốn tăng ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á,
muốn chứng tỏ mình có vai ttò lớn trong khu vực. Chính vì vậy việc Mỹ viện trợ cho
Thái Lan lúc này là điều không thể tránh khỏi.
75.
mạnh từ cuộc tranh đua, đối đầu ý thức hệ chính trị tư tưởng của hai phe. Với vị trí địa
chiến lược cùng với xu hướng chính trị tư sản phát triển nổi trội hơn, nên các nước tư
bản, đứng đầu là Mỹ và tầng lớp lãnh đạo đang nắm giữ quyền hành muốn có các mối
quan hệ chặt chẽ hơn. Điều này đã tạo nên cơ hội tốt cho phát triển mối quan hệ Thái Mỹ từ sau năm 1945 đến năm 1975.
78.
Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước duy nhất không bị sự thống
tri trực tiếp của các nước phương Tây. Được như vậy, một phần là nhờ vào những cải
cách kinh tế, chính trị, xã hội rất quan trọng của các vua Xiêm, từ vua Rama IV trở đi.
Song song với cải cách trong nước là việc thực thi chính sách đối ngoại hết sức mềm
dẻo, linh hoạt khéo léo đã duy trì được một nền hòa bình quý giá hiếm hoi. Thái Lan
đã thực thi một cách có hiệu quả chính sách đối ngoại, phục vụ đắc lực cho việc phát
triển và canh tân đất nước. Chính sách đối ngoại của Thái Lan đối với các nước
phương Tây, một mặt là để duy trì độc lập quốc gia, bảo vệ lợi ích dân tộc và giai cấp,
có điều kiện phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Theo những biến động của lịch sử, có
thể thấy được một số đặc điểm cơ bản của chính sách đối ngoại Thái Lan như sau:
79.
Mần dẻo, biết lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc để duy trì
nền độc lập: Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), chính sách đối ngoại
của Thái Lan là biểu hiện thắng lợi điển hình của sách lược lợi dụng mâu thuẫn giữa
các cường quốc phương Tây, là sự lựa chiều khôn khéo phục vụ cho lọi ích dân tộc.
Do đó Thái Lan bước ra khỏi chiến tranh với tư thế của ngưòi chiến thắng trong cuộc
chiến tranh đế quốc. Điều đó tạo cho Thái Lan một tiềm năng chính tri lớn, tham gia
Hiệp ước Versailles (1919) và trở thành một trong những quốc gia thành viên đàu tiên
của Hội quốc liên thành lập năm 1920. Cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai
82.
Dựa theo tiêu chí: Tất cả vì quyền lợi của giai cấp, quyền lợi của dân
tộc: Xuyên suốt chính sách đối ngoại của Thái Lan, chúng ta có thể thấy rằng, mục
đích cuối cùng đều nhằm duy trì nền độc lập dân tộc, hưng thịnh kinh tế và xóa bỏ
những hiệp ước bất bình đẳng. Khi thực dân phương Tây bắt đầu xâm nhập và tiến
hành xâm lược Đông Nam Á mặc dù chịu ký những hiệp ước bất bình đẳng như vậy,
nhưng Thái Lan lại coi đấy như một kế sách sáng suốt, bởi ít nhất, Thái Lan đã ừở
thành nước duy nhất Đông Nam Á không bị sự thống trị trực tiếp của thực dân, nhân
dân Thái vẫn sống trong hòa bình, độc lập, chú tâm vào canh tân, hiện đại hóa đất
nước. Chiến tranh thế giới bùng nổ, Thái Lan hết thân thiện với nước này, lại thân
thiện với nước khác.
83.
Tuy nhiên, Thái Lan cũng đã phải chịu những hậu quả nặng nề về mặt kinh tế,
xã hội... Nhưng trên tất cả đấy là sự xóa bỏ dần dần của các hiệp ước bất bình đẳng đã
ký từ xưa, là sự độc lập của cả một dân tộc.
84.
Đứng trước mối nguy chính trị chung của cả Đông Nam Á, Thái Lan
đã chấp nhận sự họp tác, chấp nhận cho các nước thực dân lấy đất nước mình làm bàn
đạp chung cho âm mưu xâm lược Đông Nam Á, châu Á. Mặc dù yậy, sự chấp nhận
Thái Lan bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn “họp tác” vói Mỹ, đón nhận những
ưu ái mà Mỹ dành cho, đồng thòi quan hệ Việt Nam cũng bước vào giai đoạn căng
thẳng.
87.
88.
89.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan (1945 - 1975) được xem xét trong một bối cảnh tác động của các nhân tố lịch sử,
nhân tố quốc tế và khu vực Đông Nam Á, nhân tố Việt Nam, nhân tố Thái Lan. Trong quá trình phát triển của mình cả hai nước
Việt Nam và Thái Lan đã có những mối quan hệ từ khá sớm. Tuy nhiên sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình quốc tế và
khu vực rất phức tạp, không chỉ có thế giới đối mặt với tham vọng của các nước phương Tây mà cả khu vực Đông Nam Á
cũng cuốn theo vào tình hình bất ổn đó, trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, cuộc chiến tranh nóng do Mỹ phát động chống lại
cách mạng ba nước Đông Dương là một trong những nhân tố quan ừọng làm cho quan hệ Việt Nam - Thái Lan ừở nên căng
thẳng.
90.
91.
CHƯƠNG 2
QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975 2.1.
GIAI ĐOẠN 1945 - 1954