TÀI LIỆU CHUYÊN đề tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về văn hóa và xây DỰNG nền văn hóa VIỆT NAM TIÊN TIẾN đậm đà bản sắc dân tộc dưới ÁNH SÁNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 42

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT
NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
MỤC LỤC

Tran
g
2

LỜI NÓI ĐẦU
1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

3

VĂN HOÁ

1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về Văn hoá

3

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hoá

8

2. XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN
SẮC DÂN TỘC DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2.1. Tình hình xây dựng nền văn hoá hiện nay

17
17

Trong Mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), lần
đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản
sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1.
Như vậy, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị
vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra nhằm đáp ứng sự sinh tồn của
loài người. Văn hóa là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn liền với
điều kiện kinh tế - xã hội. Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc thì phải xây
dựng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Các mặt đó có quan hệ
mật thiết với nhau, cùng tác động, ảnh hưởng lẫn nhau:
Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng.
Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.
Khi dân tộc còn chìm trong nô lệ thì văn hóa cũng cùng chung số phận
nô lệ, tuyệt đại bộ phận nhân dân bị đọa đầy trong vòng tối tăm, dốt nát. Vì
vậy, một số nhà yêu nước chủ trương trước hết phải khai dân trí, phải nâng cao
trình độ văn hóa của nhân dân, sau đó mới tính đến chuyện giành độc lập tự do
cho đất nước và dân tộc. Đường lối cải lương đó đã hoàn toàn bị thất bại.
Lãnh đạo nhân dân đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh
đã vạch ra một đường lối mới: phải tiến hành cách mạng chính trị trước mà cụ
thể ở Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính
quyền, để giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa,
mở đường cho văn hóa phát triển.
1

Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr.431.


vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Về tính chất của nền văn hóa mới.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã
quan tâm tới việc xây dựng nền văn hóa mới, coi đó là một trong những nhiệm


4

vụ hàng đầu của cách mạng. Như vậy, nền văn hóa mới ra đời gắn liền với
nước Việt Nam mới. Trước đó ở nước ta là nền văn hóa bị nô dịch của thực
dân phong kiến, nền văn hóa đó phục vụ cho giai cấp thống trị. Đặc điểm
chung nhất của nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xua tan bóng
tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng
lên cuộc sống của nhân dân ta. Văn hóa mới là phải giáo dục nhân dân ta tinh
thần cần, kiệm, liêm, chính, tự do tín ngưỡng, không hút thuốc phiện; chống
giặc dốt…
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn
hóa dân chủ mới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến. Nền văn hóa đó có
ba tính chất: dân tộc - khoa học - đại chúng.
Tính chất dân tộc (hay còn gọi là đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc) là
cái “cốt”, cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của nền văn hóa dân tộc. Nó
phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác. Nó là “căn
cước” của một dân tộc. Cốt cách dân tộc không phải “nhất thành bất biến”,
mà nó có sự phát triển, bổ sung những tinh túy mới. Tính chất dân tộc của nền
văn hóa còn bao hàm việc giữ gìn, kế thừa, phát huy những truyền thống văn
hóa tốt đẹp của dân tộc, phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp
với những điều kiện lịch sử mới của đất nước.
Tính chất khoa học của nền văn hóa phải thuận với trào lưu tiến hóa của
tư tưởng hiện đại: Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nền

tinh thần của mỗi con người và cả dân tộc. Lý tưởng là điểm hội tụ của tư
tưởng lớn. Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải làm cho ai cũng có lý
tưởng tự chủ, tự cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân “có tinh
thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng”. Đó là lý
tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, thực hiện nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Một khi con
người đã phai nhạt lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì không
còn ý nghĩa gì đối với cuộc sống cách mạng.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương
nhân loại bị đau khổ, áp bức. Đó là tính trung thực, thẳng thắn, thủy chung;
đề cao cái chân, cái thiện, cái mỹ… Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối
quan hệ; với gia đình, quê hương, dân tộc, nhân loại, với bè bạn, đồng chí,
quan hệ thầy trò…
Tư tưởng và tình cảm có mối quan hệ gắn bó với nhau. Tình cảm cao
đẹp là con đường dẫn tới tư tưởng đúng đắn; tư tưởng đúng làm cho tình cảm
cao đẹp hơn, làm cho con người ngày càng hoàn thiện. Văn hóa còn góp phần


6

xây đắp niềm tin cho con người, tin ở bản chất khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đồ của cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí.
Văn hóa luôn gắn với dân trí. Văn hóa nâng cao dân trí theo từng nấc
thang, phục vụ mục tiêu cách mạng trước mắt và lâu dài. Nâng cao dân trí
được bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Tiếp đến là sự hiểu
biết các lĩnh vực khác nhau về chính trị, văn hóa, kinh tế… từng bước nâng
cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học - kỹ thuật, thực tiễn
Việt Nam và thế giới… đó là quá trình bổ sung kiến thức mới, làm cho mọi
người không chỉ là chuyển biến dân trí mà còn nâng cao dân trí, điều mà khi

quyền lực, tham quyền cố vị dẫn tới sự tha hóa con người. Văn hóa giúp cho con
người phân biệt được cái tốt với cái xấu, cái lạc hậu và cái tiến bộ… từ đó văn
hóa hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Người đã nêu ra một
luận điểm khái quát: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.
Xây dựng nền văn hóa mới là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
và các tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh coi đội ngũ những nhà văn hóa, những
người làm công tác văn hóa, những văn nghệ sĩ là lực lượng nòng cốt trong sự
nghiệp to lớn này. Theo Người:
Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy
Quan điểm của Hồ Chí Minh coi văn hóa là một mặt trận là quan điểm
rất độc đáo, đòi hỏi các chiến sĩ chiến đấu trên mặt này vừa phải bền bỉ, kiên
cường, dũng cảm, vừa phải biết sử dụng vũ khí của mình một cách sắc bén và
có hiệu quả trong kháng chi0ến chống ngoại xâm trước kia cũng như trong
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hóa
Văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực. Ở đây tập trung làm rõ tư tưởng Hồ
Chí Minh về ba lĩnh vực chính: văn hóa giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa
đời sống.
1.2.1. Văn hóa giáo dục
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và đánh giá đúng nền giáo dục thực dân,
phong kiến. Người đã chỉ rõ: Nền giáo dục phong kiến là nền giáo dục từ
chương, kinh viện xa rời thực tế, không quan tâm đến thực nghiệm, coi kinh
sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Mẫu người của nền giáo dục
phong kiến hướng tới là kẻ sĩ, là người quân tử, nó hoàn toàn khác với kẻ
bình dân. Phụ nữ bị tước quyền học vấn.


8


làm cho nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu.


9

- Cải cách giáo dục bao gồm xây dựng chương trình, nội dung dạy và
học hợp lý, phù hợp với các giai đoạn phát triển của cách mạng.
- Nội dung giáo dục phải toàn diện, bao gồm cả văn hóa, chính trị, khoa
học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động… các nội dung đó có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Học chính trị là học chủ nghĩa Mác - Lênin,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cách học phải sáng tạo, không
giáo điều. Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận.
Học khoa học kỹ thuật để đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới, thời đại của cách
mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão.
- Phương châm, phương pháp giáo dục:
Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực
tiễn; học tập kết hợp với lao động; phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội;
thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục. Học ở mọi lúc, mọi nơi; học mọi
người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại.
Trong quá trình xây dựng nền văn hóa giáo dục mới, Hồ Chí Minh yêu
cầu phải tẩy sạch tàn dư của giáo dục nô dịch. Nhà trường không phải là nơi
nhồi nhét quá thừa những kiến thức vô bổ, nhưng lại quá thiếu những kiến
thức cần thiết cho việc xây dựng kinh tế, quản lý xã hội và hình thành con
người Việt Nam mới. Đối với mỗi người, học ở trường lớp chỉ là một phần,
còn phần chủ yếu là học trong lao động, trong công tác, trong hoạt động thực
tiễn, không phải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn
luyện và tự cải tạo được. Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều có
thể và đều phải học tập, tự cải tạo. Cũng không phải chỉ tìm thấy những người
thầy ở trong các trường lớp, mà còn tìm thấy người thầy ở những người xung
quanh - bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp và đặc biệt là nhân dân.

điểm ấy, nhằm đưa cuộc cải cách giáo dục tiếp tục tiến lên phía trước.
1.2.2. Văn hóa văn nghệ
Văn nghệ được hiểu là văn học và nghệ thuật, là đỉnh cao của đời sống
tinh thần, là hình ảnh của tâm hồn dân tộc. Hồ Chí Minh là người khai sinh
nền văn nghệ cách mạng và có nhiều cống hiến to lớn, sáng tạo cho nền văn
nghệ nước nhà.
- Văn nghệ là mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí
sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Văn nghệ là mặt trận được hiểu nó là một bộ phận của cách mạng, là văn
nghệ cách mạng. “Mặt trận” là thể hiện tính chất cam go, quyết liệt. Cho nên tác
phẩm văn nghệ và ngòi bút của các văn nghệ sĩ phải là vũ khí sắc bén, là “phò
chính trừ tà” là vạch trần, tố cáo tội ác, âm mưu của lực lượng thù địch đầu độc
1

Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 8, tr.494.


11

văn hóa; về chiêu bài “công lý - dân chủ”. Hồ Chí Minh dùng văn hóa đả kích cái
gọi là công lý mà bọn thực dân thi hành ở các nước thuộc địa: “Công lý được
tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm.
Vì đường từ Pháp đến Đông Dương xa quá, xa tới nỗi sang được tới đó thì cán
cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc
phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc cái
kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người vô tội và nhất là người vô tội”1.
Người dùng văn hóa cổ vũ tinh thần đấu tranh, nổi dậy của nhân dân bị
áp bức: “Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn
sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không
thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của

người lao động, văn nghệ sĩ có thể nhào nặn, thăng hoa để tạo nên những tác
phẩm có giá trị có sức sống vượt qua giới hạn của không gian và thời gian.
Theo tinh thần đó, Hồ Chí Minh đã nêu ra yêu cầu quan trọng bậc nhất
đối với chiến sĩ văn nghệ là phải thật hòa mình vào quần chúng và không
được quên rằng “…chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn
bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó - nhân dân cũng
sẽ quên anh ta”1.
Những chất liệu của cuộc sống không phải tự nhiên đến với văn nghệ
sĩ. Muốn nắm được những chất liệu đó và rút ra từ đó những gì cần thiết cho
sáng tác thì văn nghệ sĩ phải “liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân” 2
để thấu hiểu tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân, cuộc đời và số
phận của biết bao những con người trong các tầng lớp nhân dân đông đảo.
Nguồn nhựa sống mà nhân dân đem lại để nuôi dưỡng cho sáng tác của
văn nghệ sĩ không phải chỉ là thực tiễn đời sống vô cùng phong phú, mà còn
là những tinh hoa trong sáng tác dân gian đã được chắt lọc từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Nhân dân không phải chỉ là người hưởng thụ, mà còn là người
sáng tác văn hóa văn nghệ.
- Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất
nước và dân tộc, phải phản ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp cách mạng
của nhân dân.
Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba (01/12/1962), Hồ Chí Minh
đã nói với văn nghệ sĩ: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ
xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta”3. Tác phẩm văn nghệ xứng
đáng với thời đại phải là những tác phẩm miêu tả vừa hay, vừa chân thực sự
nghiệp cách mạng của nhân dân. Tác phẩm đó phải phục vụ quần chúng nhân
dân đông đảo, được quần chúng yêu thích, đem lại những chuyển biến tích
cực trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mọi người.
Tác phẩm văn hóa, văn nghệ hay là tác phẩm phản ánh được những giá
trị truyền thống của dân tộc, mang được hơi thở của thời đại, vừa phải ca ngợi
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, tr.516.

Xây dựng đời sống văn hóa mới được Hồ Chí Minh chỉ ra ngay sau khi
nước ta mới giành được chính quyền. Tháng 4-1946 Người ký sắc lệnh thành
lập Ủy ban Trung ương vận động đời sống mới. Tháng 3-1947, Người viết
cuốn sách Đời sống mới để hướng dẫn việc xây dựng đời sống mới trong các
tầng lớp nhân dân, trong toàn xã hội. Như vậy việc xây dựng đời sống mới đã
được Hồ Chí Minh nêu ra từ rất sớm, rồi nhanh chóng trở thành một phong
trào quần chúng sôi nổi, tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp kháng chiến
kiến quốc.
Quan điểm xây dựng đời sống mới thực sự là quan điểm rất độc đáo
của Hồ Chí Minh về văn hóa. Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng
1

Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.551.


14

bộ mặt tinh thần ấy không phải là cái gì cao siêu, trừu tượng, mà lại được thể
hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, rất dễ hiểu, dễ thấy.
Điều ấy đã được Hồ Chí Minh chỉ ra khi nói về nội dung của đời sống mới,
cũng như cách thức xây dựng đời sống mới.
Khái niệm đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả đạo đức
mới, lối sống mới và nếp sống mới. Ba nội dung ấy có quan hệ mật thiết với
nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu. Đạo đức gắn liền với lối sống và
nếp sống, được thể hiện trong lối sống và nếp sống. Chính vì vậy, việc xây
dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống
mới và nếp sống mới.
- Đạo đức mới.
Đời sống mới trước hết bao gồm đạo đức mới, thực hành đời sống
mới là cần, kiệm, liêm, chính... Hồ Chí Minh đã viết: “Nếu không giữ đúng

còn đang thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc
đẹp, như vậy là không có đạo đức.
Người chỉ rõ phong cách làm việc phải bao gồm tác phong quần chúng,
tác phong tập thể - dân chủ, tác phong khoa học. Ba loại tác phong đó đều có
những nội dung rất cụ thể, phong phú và có quan hệ mật thiết với nhau.
Những tác phong ấy được thể hiện ra khi mỗi người hoàn thành nhiệm vụ
được giao, nhất là đối với những người ở cương vị quản lý, lãnh đạo. Phong
cách làm việc đó trước kia rất cần thiết, hiện nay lại càng cần thiết hơn.
Là người có học vấn uyên bác cổ kim đông tây, thông thạo nhiều ngoại
ngữ, nhưng Người luôn luôn thể hiện một cách viết, cách nói chân thật - dễ
hiểu mà tế nhị, mộc mạc - bình dân mà không thô thiển. Người rất không ưa
sự phô chương hình thức, sự cầu kỳ rắc rối trong cách biểu hiện. Tư tưởng
của Người đi thẳng đến quần chúng và mọi người đều có thể hiểu được, nhớ
được và làm được.
- Nếp sống mới.
Xây dựng nếp sống mới (nếp sống văn minh) là xây dựng những thói
quen và phong tục tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển được những thuần
phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Tất nhiên không phải cái gì cũ là bỏ hết,
cái gì cũng làm mới. Cũ mà xấu thì bỏ. Cũ mà không xấu nhưng phiền phức
thì sửa đổi. Cũ mà tốt thì phát triển thêm. Mới mà hay thì phải làm. Phải bổ
sung, xây dựng thuần phong mỹ tục trong các vấn đề vệ sinh, giỗ tết, ma
chay, cưới hỏi… đồng thời phải chống các hủ tục như cờ bạc, hút xách…
Việc sửa đổi những thói quen, phong tục, tập quán không còn phù hợp,
loại bỏ những cái xấu, xây dựng những cái tốt là công việc rất khó khăn, phức
tạp. Vì vậy phải nâng cao nhận thức, phải phấn đấu kiên trì mới có thể xây
dựng được những thói quen, phong tục tập quán mới, thực hiện được đời sống
mới. Thực tế cho thấy, cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu; cái xấu mà
quen, người ta có thể cho là thường.



cố và phát triển; tính năng động trong các hoạt động kinh tế - xã hội, tính tích
cực công dân được khơi dậy và phát huy, thay cho tâm lý thụ động, ỷ lại, dựa
dẫm, trông chờ từng tồn tại dai dẳng trong cơ chế cũ; thế hệ trẻ có ý chí vươn
lên lập thân, lập nghiệp; mặt bằng dân trí được nâng cao; năng lực, sở trường
cá nhân được khuyến khích; không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội tăng lên;
phong trào hướng về cội nguồn, tưởng nhớ anh hùng dân tộc, đền ơn đáp


17

nghĩa người có công, giúp đỡ người hoạn nạn ngày càng phát triển; cuộc vận
động bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa
ngày càng được nhân dân tích cực hưởng ứng v.v…
Hoạt động văn hóa nghệ thuật, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền
hình v.v… có những bước phát triển mới, cả về số lượng và chất lượng, cả về
xây dựng đội ngũ, phát huy tác dụng tích cực làm cho đời sống văn hóa trở
nên phong phú và sôi động hơn.
Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ trong lĩnh vực văn hóa đã đạt
được chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả
đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo
đức lối sống.
Sự phát triển của văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với phát triển
kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Xây dựng
thể chế văn hóa, chính sách còn chậm, chưa đổi mới, thiếu đồng bộ, làm hạn
chế tác dụng của văn hóa. Tình trạng nghèo nàn thiếu thốn, lạc hậu về đời
sống văn hóa ở các vùng nông thôn; sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa
giữa các vùng miền, khu vực tiếp tục mở rộng.
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu
là: những di sản văn hóa của Hồ Chí Minh chưa được quan tâm đúng mức, chưa
tiếp tục được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả cao. Nghị quyết Trung

nghệ thuật, tương xứng với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nâng cao chất
lượng các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng
cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân.
Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo
chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng,
chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Huy
động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công
trình và thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa, quản lý và bảo vệ
di tích, di sản văn hóa.
Mở rộng giao lưu văn hóa, thông tin với thế giới. Đổi mới và tăng
cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, thông tin.
Nhiệm vụ chủ yếu.
Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với
phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
1

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.213.


19

hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên,
học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực, trí tuệ, đạo
đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam.
Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của
nhân dân trong đời sống văn hóa. Đa dạng hóa các hình thức hoạt động của


của dân tộc ta. Đó là những giá trị mà Hồ Chí Minh, đại diện cho cả dân tộc
Việt Nam đóng góp làm phong phú thêm kho tàng văn hóa nhân loại.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status