TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ sản XUẤT HÀNG hóa và các QUY LUẬT KINH tế của sản XUẤT HÀNG hóa - Pdf 42

2
SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG
HÓA

LỜI NÓI ĐẦU

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó những người sản
xuất ra sản phẩm để bán trên thị trường. Trong lịch sử, không phải ngay từ
khi loài người xuất hiện đã có sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá chỉ xuất
hiện, tồn tại, phát triển trong một số phương thức sản xuất xã hội, gắn liền với
những điều kiện lịch sử nhất định. Nghiên cứu điều kiện ra đời của sản xuất
hàng hoá cũng như hàng hoá, tiền tệ và các quy luật kinh tế của nền sản xuất
hàng hoá là cơ sở nhận thức lý luận giá trị của C.Mác, một trong những học
thuyết rất quan trọng của Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Đồng thời, là cơ sở
lý luận để hiểu rõ nền sản xuất hàng hóa trong thực tiễn.

1. SẢN XUẤT HÀNG HOÁ VÀ QÚA TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA SẢN
XUẤT HÀNG HOÁ

1.1. Sản xuất hàng hoá và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu
tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá.
Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm làm ra nhằm
thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất.
Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra để
trao đổi hoặc bán trên thị trường. Quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất
được biểu hiện qua thị trường, qua việc mua, bán sản phẩm lao động của nhau.
Sản xuất hàng hoá là một phạm trù lịch sử, chỉ ra đời và tồn tại khi
đồng thời có hai điều kiện:
Một là, phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội ra

xuất thì tạo nên sự biệt lập tương đối giữa những người sản xuất hàng hoá và
lao động của họ mang tính chất lao động tư nhân. Mâu thuẫn này chỉ được
giải quyết khi sản phẩm được trao đổi dưới hình thức hàng hoá. Sản xuất hàng
hoá ra đời, tồn tại và phát triển khi đồng thời có hai điều kiện trên.
1.2. Quá trình phát triển của sản xuất hàng hoá

Lịch sử phát triển sản xuất xã hội là từ sản xuất tự cấp, tự túc tiến lên
sản xuất hàng hoá (hay từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá). So với nền
sản xuất tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn: làm cho
sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng,
mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Sự phát triển của


4
sản xuất hàng hoá đã xoá bỏ tính bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh
quá trình xã hội hoá sản xuất.
Sản xuất hàng hoá từ khi ra đời đến nay trải qua các giai đoạn: sản xuất
hàng hoá giản đơn; sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa; sản xuất hàng hoá
dưới chủ nghĩa xã hội.
Sản xuất hàng hoá giản đơn (bắt đầu xuất hiện trong thời kỳ xã hội
cộng sản nguyên thuỷ tan rã và tồn tại trong phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ và phong kiến), là sản xuất hàng hoá của nông dân, thợ thủ công dựa
trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất. Đặc trưng của sản xuất hàng hoá
giản đơn: về kinh tế - xã hội, sản xuất dựa trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu
sản xuất và lao động cá nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ; về kinh
tế - kỹ thuật, quy mô sản xuất nhỏ, công cụ và kỹ thuật giản đơn, thủ công,
năng suất lao động thấp.
Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất của các nhà tư bản với
mục đích làm giàu bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Đặc trưng kinh tế xã hội, Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu của các
nhà tư bản về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Đặc trưng kinh tế

là nhu cầu cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên liệu; nhu cầu vật
chất hoặc nhu cầu tinh thần…
Bất cứ một vật phẩm nào cũng có một hoặc một số công dụng nhất
định. Chính công dụng của vật phẩm làm cho nó trở thành một giá trị sử
dụng. Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy
định, vì vậy giá trị sử dụng của hàng hoá là một phạm trù vĩnh viễn. C.Mác
viết: Giá trị sử dụng cấu thành cái nội dung vật chất của của cải, chẳng kể
hình thái xã hội của cái đó như thế nào.
Giá trị sử dụng của hàng hóa được con người phát hiện dần dần cùng
với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và trình độ lực lượng sản xuất. Ví dụ,
than đá ngày xưa chỉ dùng làm chất đốt, về sau được dùng làm nguyên liệu
cho một số công nghiệp hoá chất… gỗ không chỉ để làm củi mà còn là nguyên
liệu làm giấy, làm bàn ghế, giường tủ… xã hội càng phát triển, khoa học càng
tiến bộ, lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triển thì số lượng giá
trị sử dụng càng nhiều, chủng loại càng phong phú, đa dạng, chất lượng càng
cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho cuộc sống của con người. Giá trị sử dụng
không phải cho bản thân người sản xuất ra hàng hoá mà là cho người khác,
cho xã hội. Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc tiêu dùng nó thông
qua trao đổi. Trong nền kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng đồng thời cũng là vật
mang giá trị trao đổi.
- Giá trị hàng hoá là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong
hàng hoá.


6
Muốn hiểu được giá trị hàng hoá phải nghiên cứu hiểu rõ giá trị trao đổi.
Bởi vì, giá trị sử dụng của hàng hoá là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là
quan hệ về số lượng, một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử dụng khác nhau.
Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc. Trong tỷ lệ đó, số lượng những hàng hóa
trao đổi với nhau, giá trị trao đổi của hàng hoá được biểu hiện ra.


7
phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng. Chẳng hạn, lao động của người
nông dân có mục đích là tạo ra lúa gạo để ăn, đối tượng lao động là đất, giống,
phân…công cụ là cày, bừa… phương pháp là cày xới, gieo hạt, bón phân.
Mỗi Lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ
thể càng nhiều thì càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng. Lao động cụ thể tồn
tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái sản xuất xã hội. Khoa học kỹ thuật, phân
công lao động xã hội càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng
phong phú và đa dạng.
- Lao động trừu tượng, là sự hao phí sức lao động, tiêu hao thần kinh,
cơ bắp của người sản xuất hàng hoá. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng
hoá. Lao động trừu tượng nói ở đây không phải là sự tiêu hao sức lực của con
người nói chung, mà là tiêu phí sức lực của người sản xuất hàng hoá. Chỉ có
lao động sản xuất hàng hoá mới có tính chất là lao động trừu tượng.
Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất háng hoá có ý
nghĩa rất to lớn, đem lại cho lý luận giá trị lao động một cơ sở khoa học thực
sự, đã giải thích được những hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế, như sự
vận động trái ngược: Khối lượng của cải vật chất càng tăng lên, đi liền với
khối lượng giá trị của nó giảm xuống hoặc không thay đổi.
Trong nền sản xuất hàng hoá, lao động cụ thể biểu hiện thành lao động
tư nhân, lao động trừu tượng biểu hiện thành lao động xã hội. Tính chất tư
nhân và tính xã hội trong quá trình lao động là hai mặt thống nhất, nhưng
đồng thời cũng luôn mâu thuẫn với nhau; mâu thuẫn đó được biểu hiện thành
mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn này chỉ được
giải quyết khi lao động sản xuất hàng hoá hợp với nhu cầu xã hội, Giá trị
hàng hoá được thực hiện qua trao đổi.
2.3. Lượng giá trị hàng hoá

Lượng giá trị hàng hoá là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra

thể đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao và được huấn luyện chuyên môn.
Trong cùng thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra lượng giá trị lớn
hơn lao động giản đơn. Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân
gấp bội lên. Quá trình trao đổi, để đảm bảo bình đẳng và công bằng người ta
quy giá trị lao động phức tạp thành bội số của giá trị lao động giản đơn.
C.Mác chỉ rõ: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên luỹ
thừa, là lao động giản đơn được nhân lên, thành thử một lượng lao động phức
tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn”1.
3. TIỀN TỆ

3.1. Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ
1

C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t20, tr.277.


9
C.Mác là người đầu tiên phát hiện bí mật nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.
- Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất
và trao đổi hàng hoá, các hình thái giá trị của hàng hoá từ hình thái giản đơn
đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ.
Một là, hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
Hình thái này xuất hiện khi xã hội cộng đồng nguyên thuỷ tan rã, hàng
hoá sản xuất ra còn ít, quá trình trao đổi còn mang tính ngẫu nhiên và trực tiếp.
Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc, hay 1m vải có giá trị bằng 5 kg thóc.
Ở đây, giá trị của hàng hoá vải được biểu hiện ở hàng hoá thóc làm
hình thái biểu hiện của vải. Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá này trở
thành hình tức biểu hiện giá trị của hàng hoá kia. Hình thái giản đơn hay ngẫu
nhiên của giá trị là mầm mống phôi thai của hình thái tiền. Tuy nhiên, tỷ lệ


10
háng hoá A, mà cần hàng hoá C. Trong trường hợp này việc trao đổi giữa
hàng hoá A và B sẽ không thực hiện được. Khắc phục trở ngại trên, trong quá
trình trao đổi, đã xuất hiện một hàng hoá tách ra khỏi thế giới hàng hoá làm
vật ngang giá chung. Hình thái chung của giá trị ra đời.
Ví dụ:
1 m vải
hoặc 20 kg thóc
= 1 cái rìu
hoặc 1 con dê

Ở đây, các hàng hoá: vải, thóc, dê… đều biểu hiện giá trị của mình ở
giá trị sử dụng của một hàng hoá đóng vai trò làm vật ngang giá chung. Các
hàng hoá: vải, thóc, dê… đều đem đổi lấy rìu, rồi dùng rìu đổi lấy hàng hoá
mà mình cần. Tuy nhiên, lúc đầu mỗi địa phương, vùng chọn một vật ngang
giá chung khác nhau: có nơi dùng vàng, có nơi dùng súc vật, có nơi dùng rìu,
dùng da, lông thú, có nơi dùng bạc… làm cho quá trình trao đổi, giao lưu kinh
tế giữa các địa phương, các vùng không tiện lợi và gặp khó khăn.

Bốn là, hình thái tiền tệ.
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn
nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có
nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó
khăn, do đó, cần thiết phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất. Khi
vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật và phổ biến thì xuất hiện hình
thái tiền tệ của giá trị.
Ví dụ:
1 m vải
20 kg thóc

biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của hàng
hoá khác, bản thân tiền phải có giá trị. Vì vậy, tiền làm chức năng thước đo giá trị
phải là tiền vàng. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá.
Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.
- Phương tiện lưu thông, với chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm
môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Thực hiện chức năng này, lúc đầu
tiền xuất hiện trực tiếp dưới hình thức vàng thoi, bạc nén, dần dần được thay
thế bằng tiền đúc có hình thức, trọng lượng và giá trị nhất định. Trong quá
trình lưu thông tiền đúc mòn dần, mất một phần giá trị của nó. Nhưng trong
thực tế lưu thông, tiền đúc không đủ giá trị vẫn được chấp nhận làm phương
tiện lưu thông như thường lệ. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời tiền giấy. Bản
thân tiền giấy không có giá trị, mà chỉ là ký hiệu của giá trị. Nhà nước phát
hành và buộc xã hội công nhận. Vì vậy, thực hiện chức năng này tiền không
nhất thiết là tiền vàng mà có thể là ngân phiếu, tiền giấy…
Khi mua – bán xong thì hàng hoá ra khỏi lưu thông đi vào tiêu dùng,
còn tiền tệ đọng lại trong lưu thông làm chức năng phương tiện lưu thông. Do
đó, việc xác định lượng tiền trong lưu thông là rất quan trọng. C.Mác là người


12
đầu tiên phát hiện ra ba nhân tố quy định khối lượng tiền cần thiết trong lưu
thông. Đó là khối lượng hàng hoá, giá cả hàng hoá và số vòng quay của đồng
tiền, được xác định bởi công thức sau.
M =

Trong đó:

P.Q
V


Đây là quy luật lưu thông tiền tệ, có ý nghĩa chung cho mọi hình thái
kinh tế - xã hội có sản xuất và lưu thông hàng hoá.
- Tiền tệ thế giới, khi trao đổi hàng hoá mở rộng ra ngoài biên giới
quốc gia và hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước thì tiền tệ có chức


13
năng tiền tệ thế giới. Làm chức năng tiền tệ thế giới thì phải là tiền vàng hoặc
tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế.
Việc đổi tiền nước này ra tiền của nước khác được tiến hành theo tỷ giá hối đoái
– là giá cả đồng tiền của quốc gia này được tính bằng đồng tiền của quốc gia khác.
Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa có quan hệ mật
thiết với nhau. Sự phát triển của các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển
của sản xuất và lưu thông hàng hóa.
4. CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

4.1 Quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng
hoá, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại hoạt động và
phát huy tác dụng của quy luật giá trị.
- Nội dung của quy luật giá trị
Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở
hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất
tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị hàng hóa
không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản
xuất, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết. Vì vậy, muốn bán được hàng
hóa, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải làm cho hao phí lao
động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận.
Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội

Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị
trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng
hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi
cung nhỏ hơn cầu, làm cho nơi có giá cả thấp, giá cả sẽ tăng lên kích thích sản
xuất phát triển, đồng thời làm cho nơi có giá cả cao, cung nhỏ hơn cầu, lượng
hàng hoá tăng lên, giá cả nơi đó giảm xuống đời sống của người tiêu dùng
được nâng lên. Như vậy, quy luật giá trị có tác dụng phân phối lại hay điều
tiết luồng hàng trên thị trường.
Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường để phát huy tác dụng
điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá của quy luật giá trị, phải xây dựng hệ
thống thị trường thông suốt, đồng bộ. Nhận thức và quán triệt tinh thần ấy,
cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, Đảng ta đã chủ trương: xoá bỏ ngăn sông
cấm chợ, chia cắt thị trường, hình thành một thị trường thống nhất trong cả
nước thông suốt thị trường khu vực và thế giới. Trong xây dựng thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ trương: tạo lập đồng
bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. Những quan điểm, chủ trương
đúng đắn phù hợp quy luật khách quan đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất và
lưu thông hàng hoá ở nước ta trong những năm qua phát triển.


15
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng
suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Do yêu cầu của quy luật giá trị, trao đổi phải trên cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết. Vì vậy, người sản xuất nào có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá
trị xã hội thì sản xuất mới có lãi, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngược lại,
những đơn vị kinh tế nào có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì sản xuất sẽ
thua lỗ. Vì vậy, mọi người đều tìm cách cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng kỷ thuật mới vào sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, làm
tăng năng suất lao động.

Quan hệ giữa cung và cầu là quan hệ giữa những người bán và những
người mua, giữa những người sản xuất và những người tiêu dùng. Là những quan
hệ có vai trò quan trọng trong kinh tế hàng hoá. Không chỉ giả cả ảnh hưởng đến
cung - cầu, mà quan hệ cung cầu cũng ảnh hưởng tới việc xác dịnh giá cả trên thị
trường. Khi cung lớn hơn cầu, người bán phải giảm giá, giá cả hàng hoá có thể
thấp hơn giá trị hàng hoá. khi cung nhỏ hơn cầu, người bán có thể tăng giá, giá cả
có thể cao hơn giá trị. Khi cung bằng cầu, người bán sẽ bán hàng hoá theo đúng
giá trị của hàng hoá. Tuy nhiên trạng thái cân bằng này chỉ là tạm thời, sự mất cân
đối giữa cung và cầu diễn ra thường xuyên. Bởi vì, cung và cầu luôn chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố, mà các nhân tố này luôn biến đổi.


17
- Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham
gia sản xuất, kinh doanh, nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu lợi ích tối đa cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận tối đa, bảo đảm sự tồn tại
và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh. Cạnh tranh có nhiều loại: cạnh
tranh giữa người bán hoặc giữa người mua với nhau; cạnh tranh trong nội bộ
ngành, cạnh tranh giữa các ngành; cạnh tranh giữa người mua và người bán;
cạnh tranh trong giới hạn quốc gia và quốc tế.
Trong nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh có vai trò to lớn tạo cơ chế
điều chỉnh linh hoạt sản xuất và xã hội và do đó làm cho sự phân bố các
nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu. Cạnh tranh buộc người sản xuất,
kinh doanh phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nhạy
bén, năng động, tổ chức quản lý có hiệu quả… Người sản xuất nào có kỹ
thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Do đó,
cạnh tranh là áp lực đối với người sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật,
nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội được phát triển.

phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Sản xuất hàng
hoá xuất hiện và tồn tại ở nhiều phương thức sản xuất. Tuy vậy, nội dung,
tính chất và trình độ phát triển lại khác nhau và quá trình phát triển của nó lại
luôn bị tác động bởi nhiều quy luật kinh tế khách quan. Sản xuất hàng hoá ra
đời có tính ưu việt hơn hẳn sản xuất tự cung, tự cấp. Song cũng có những hạn
chế tác động từ mặt trái của các quy luật của sản xuất hàng hoá. Do vậy, trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải nhận thức đúng các
quy luật kinh tế và tạo điều kiện để quy luật kinh tế phát huy tác dụng tích cực
đồng thời có những giải pháp điều tiết hữu hiệu hạn chế những tác động tiêu
cực làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status