TÀI LIỆU THAM KHẢO tạo VIỆC làm CHO PHỤ nữ NÔNG THÔN THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 40

TẠO VIỆC LÀM TẠI CHỖ CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
(Qua nghiên cứu 3 xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi)

Quảng Ngãi nằm trong khu vực duyên hải miền Trung, cách thủ đô
Hà Nội 890 km về phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh 840 km về phía
Bắc, Quảng Ngãi gần như nằm ở tâm điểm của Việt Nam.
Quảng Ngãi có bờ biển dài 130 km,, chiều dài Đông Tây 60 km,
Nam Bắc 100 km, có tổng diện tích đất tự nhiên 535.288 ha và 11.000 km 2
ngư trường, tỉnh được phân chia thành 13 đơn vị hành chính cấp huyện
(trong đó có huyện Đảo Lý Sơn và tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Thị xã tỉnh lỵ gồm
6 phường và 4 xã, 11 huyện còn lại được chia thành 157 xã. Theo báo cáo
của chi cục thống kê Quảng Ngãi, hiện nay tỉnh được chia thành ba vùng
sinh thái, đồng bằng Trung du và miền núi. Vùng đồng bằng 138.048 ha
tương ứng với 24% diện tích của tỉnh, vùng Trung du 84,125 ha chiếm 15%
diện tích của tỉnh và miền núi 363,453 ha chiếm 61% ha diện tích.
Dân số Quảng Ngãi có 125.592 người (có 267.145 nông hộ, trong
đó nữ chiếm 51,1%. Mật độ dân cư chiếm 538 người/1km 2. Bình quân diện
tích canh tác/1người là 535 m2 gần 90% dân số sống ở nông thôn, trong đó
có 80% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp.
Trên địa ban tỉnh hiện nay có 4 khu công nghiệp, lớn nhất là khu
công nghiệp Dung Quất (thuộc huyện Bình Sơn), diện tích 14.000 ha, đây
là khu công nghiệp gồm các dự án lớn gắn liền với cảng biển. Nhà máy lọc
dầu số 1 quốc gia sẽ được xây dựng tại đây. Các khu công nghiệp nhỏ hơn
là: Khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Tịnh Phong (Sơn Tịnh)
rộng 142 ha, cách Dung Quất 20 km; khu công nghiệp chế biến nông sản
và sản xuất máy móc, đồ điện tử Quảng Phú với diện tích 132 ha, và khu
công nghiệp Phổ Phong (Đức Phổ).
1



thêm cho bài viết của mình. Tác giả tìm ra một số nguyên nhân và bàn luận
(1)

Niên giám thống kê Quảng Ngãi 1996 - 2000.
, (3) Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh Xã hội Quảng Ngãi năm 2001.

(2)

2


về những mô hình tạo việc làm tại chỗ, và đưa ra một số những giải pháp
cơ bản để giải quyết thực trạng trên.
Di dân theo mùa từ nông thôn ra thành thị để tìm việc làm là hiện
tượng thường thấy ở Quảng Ngãi. Trong hai mùa nông nhàn (thường là
giữa mùa Đông, Xuân và He - Thu), người dân (mà chủ yếu là nông thôn)
di chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh phía Nam như (Đắc
Lắc, Tây Nguyên... Vũng Tàu v.v...) Di dân thể hiện qua hai hình thức,
thường xuyên và di dân theo mùa. Di dân thường xuyên (đi cả năm) chủ
yếu ở giới trẻ. Lứa tuổi thanh niên có trình độ học vấn từ Cao đẳng trở lên,
họ dời khỏi địa phương để lên làm việc ở huyện, tỉnh và thành phố lớn (vì ở
nơi đó cần đến trình độ bằng cấp của họ, và những cá nhân đó có điều kiện
kiếm sống tăng thu nhập cho bản thân và gia đình).
Di dân theo mùa, đây là giải pháp tình thế của những người lao động
không có tay nghề để đối phó với tình trạng đời sống quá khó khăn trước mắt.
Tình trạng thiếu lương thực vài tháng, thu nhập bấp bênh, lao động
tại xã không có việc làm thường xuyên, công lao động quá rẻ v.v... Người
lao động kiếm việc giản đơn (phổ thông) ở một số thành phố lớn như thành
phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu... hay các trung tâm lớn cần lao động đóng
gói cà phê, trà ở Đắc Lắc để kiếm thu nhập, duy trì cuộc sống gia đình suốt

80
Phụ nữ trong tổng số di dân
%
70
70
70
Thời gian đi
Tháng
3-6
3-6
3-6
Trình đô học vấn:
- Trung học
%
40
63
50
- PTCS
%
50
25
40
- THPT
%
10
12
10
Tình trạng hôn nhân:
- Kết hôn
%

- Tăng thu nhập gia đình

%

90

90

85

- Tăng thu nhập cho cá nhân

%

10

10

15

4


Nguồn: kết quả điều tra nhanh của một số nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm
ngư nghiệp thể hiện ở các năm như sau: nông lâm ngư nghiệp 38,2% (năm
2000: 41,92%), công nghiệp - xây dựng (năm 2000: 21,58%), dịch vụ:
38,19% (năm 2000: 36,5%). Bốn khu công nghiệp đã hình thành, giải quyết
công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động dôi dư hiện nay.

số công việc phù hợp với chị em phụ nữ nông thôn, chính thị trường lao
động cũng như đang "ngầm kích thích" chị em lao vào các thành phố lớn để
mưu sinh.
Chấp nhận đi làm xa, người phụ nữ giải quyết được một số khó
khăn cho gia đình, có tiền chi tiêu trang trải một số công việc như ma chay,
lễ tết, cưới hỏi... mua sắm và đặc biệt có tiền lo cho con ăn học. Bên cạnh
đó, một số chị em tiếp thu được nếp sống văn minh đô thị. Mặt khác, chị
em sinh hoạt, ăn ở không đảm bảo vệ sinh do phải chọn nơi thuê rẻ, diện
tích hẹp cốt để có chỗ nằm nghỉ qua đêm, còn ban ngày chị em thì đi làm.
Người phụ nữ xa nhà lâu ngày bộc lộ những bất cập. Đa phần con
nhỏ gửi lại cho ông bà nội, ngoại và người chồng chăm sóc thiếu đi sự
chăm chút tỉ mỉ của người mẹ. Nhiều em đã có biểu hiện chán nản không
chú tâm đến học tập, còn lo làm giúp việc nhà cho gia đình. Cũng có những
trường hợp bỏ học, theo mẹ vào các thành phố lớn phụ việc rửa chén bát
cho các hang ăn, bán vé số v.v... ở một xã (Đức Minh - Mộ Đức QN). Có
thời điểm có tới 50 em là học sinh tiểu học bỏ học.
Hiện nay đã có hiện tượng do ở xa gia đình, nhiều khi không kiềm
chế tốt một số chị em đã sa ngã vào con đường quan hệ bất chính, gây ra
tình trạng ly hôn, đánh ghen làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình nói
chung. Và ngược lại, người chồng xa vợ lâu ngày cũng sinh ra chán nản,
tìm kiếm đến rượu chè quậy phá, "Bồ bịch" gây ra những đổ vỡ đáng tiếc.
Trong số các chị em đi làm ăn xa được nghiên cứu có tới 16% là
mù chữ, 40,4% có trình độ tiểu học, 37,8% phổ thông cơ sở và chỉ có 5,7%
có trình độ phổ thông trung học (1).

(1)

Kết quả nghiên cứu theo phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA).

6

Nguồn: Đào Thế Tuấn - giới thiệu một số vấn đề NN và nông thôn Trung Qu ốc. Tạp chí XHH số
4/1997. VXHTT kế hoạch xã hội và NVQG.
(1)

7


kiện cho 30 chị em trong xã, tranh thủ thời gian nông nhàn làm thêm kiếm
tiền trang trải công việc gia đình.
Ở xã Tịnh Ấn Tây chính quyền đã có chủ trương khai thác ngành
nghề truyền thống của địa phương. Nghề đan rọ tre đã có từ trước, nay
được phục hồi, liên kết với các tỉnh bạn để đan hàng mây tre xuất khẩu.
Hiện nay, đã xuất hiện một số tư nhân năng động tìm kiếm việc
làm, tập trung nhân công trong làng xã để làm ăn. Rõ ràng đây đang là một
nhu cầu bức thiết ở nông thôn, đặc biệt là nông thôn Quảng Ngãi.
Vấn đề đặt ra, nên tìm chủ trương và tổ chức như thế nào cho hợp
lý? Nên khoán trắng cho người dân tự lo, hay cần có sự tham gia chỉ đạo
của lãnh đạo địa phương? Dự án nào của Nhà nước có thể khả thi ở tầm vĩ
mô, còn ở tầm vi mô thì nên để cho tư nhân tự lo liệu?
Theo chúng tôi địa phương nên tạo điều kiện giúp đỡ thậm chí cần
nâng đỡ những cơ sở biết cách tạo công ăn việc làm cho nông dân trong
điều kiện hiện nay, kích thích để cho tư nhân phấn khởi đầu tư hết công sức
tiền của cho những cơ sở sản xuất dịch vụ tại địa phương. Trong hoàn cảnh
hiện nay, nên để cho tự do phát triển, cần tiếp tục tháo bỏ tất cả những hạn
chế hiện vẫn còn tồn tại trong lĩnh vực sản xuất và thương mại các sản
phẩm nông nghiệp. Việc làm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
phát triển nông thôn, nhằm hỗ trợ cho nông thôn, góp phần nâng cao cuộc
sống của những nhóm người dễ bị thiệt thòi như phụ nữ nông thôn, những
người thất nghiệp thiếu việc làm và những hộ gia đình thiếu ruộng đất.
Để cho các cơ sở sản xuất, dịch vụ tại địa phương có thể tồn tại và

như Quảng Ngãi. Cụ thể đi sâu chỉ đạo một vài điểm mô hình tạo việc làm
tại chỗ ở địa phương. Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, nhận ra các mô hình
khác. Nói cụ thể hơn, Nhà nước cần hỗ trợ trực tiếp cho mô hình này.
- Nhà nước không chỉ hỗ trợ về vốn mà cần có sự chuyển giao kỹ
thuật, nếu không sẽ khó đạt được hiệu quả mong muốn. Thực tế ở địa
phương cho thấy, người nông dân ở Quảng Ngãi được Nhà nước cho vay
vốn nuôi bò lai sin, nhưng cuối cùng họ bị lỗ vì không được hướng dẫn chu
đáo về kỹ thuật. Đấy là chưa kể đến khi có bò lai sin đem bán thì bị thương
9


lái ép giá. Như vậy, đầu vào thì được quan tâm chú ý, nhưng đến đầu ra
(sản phẩm đem bán) thì trôi nổi trên thị trường, không có cơ quan nào chịu
trách nhiệm, có khác nào "mang con bỏ chợ". Ở Quảng Ngãi đã có xã chị
em PNNT không dám vay vốn vì họ không biết làm cách gì xoay sở với
đồng vốn đó để có lãi.
- Tạo điều kiện phát huy hết khả năng, vai trò hoạt động của Hội
phụ nữ tỉnh để mang lại hiệu quả cao của các dự án xóa đói giảm nghèo.
* Đối với địa phương
Tổng số vốn nhà nước cho địa phương vay hiện nay chưa phải là
nhiều, nếu cứ xé lẻ, cào bằng thì hiệu quả sử dụng đồng vốn không cao.
Thay vì muốn cho đồng vốn của Nhà nước có hiệu quả, nên để dân tự kết
hợp với nhau tạo thành các nhóm nhỏ chỉ định nhóm trưởng biết làm ăn
đứng ra vay vốn nhà nước. Sau đó có sự bình bầu cụ thể, nhóm nào cho vay
trước, nhóm nào vay sau để cho đồng vốn được tập trung nhiều hơn, tạo
điều kiện cho các nhóm vay có số vốn tương đối khá để có thể làm ăn trong
một thời gian nhất định. Khi đã đạt kết quả bước đầu, có thể thu hồi vốn,
chuyển toàn bộ số tiền gốc sang cho các nhóm khác vay.
Nếu cứ để làm như hiện nay, về mặt hhình thức mọi người nghèo ai
cũng được vay, nhưng tính hiệu quả của nó không cao. Nên chăng chúng ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status