MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
3
1. Tín ngưỡng tôn giáo, cơ sở của sự hình thành và phát
triển nó ở Việt Nam.
1.1. Khái niệm tín ngưỡng tôn giáo.
6
6
1.2. Những cơ sở chi phối sự hình thành và phát triển
của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam.
8
2. Những đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng tôn giáo ở
Việt Nam.
11
2.1. Một số quan điểm, tư tưởng về đặc điểm tín ngưỡng
tôn giáo ở Việt Nam.
11
2.2. Đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam.
đạt nội dung bộ môn là để giúp họ có hiểu biết chung nhất về tín ngưỡng tôn
giáo và tôn giáo, từ đó hiểu được bức tranh tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta làm
cơ sở cho việc quán triệt quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước
ta phục vụ cho nhiệm vụ tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong tương
lai của họ trong các đơn vị quân đội. Do vậy, một trong những nội dung quan
trọng của bức tranh chung của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam là những đặc điểm
cơ bản nhất của nó. Vì thế nghiên cứu những đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo
Việt Nam chẳng những là một vấn đề lý luận, mà còn là một vấn đề có ý nghĩa
thực tiễn to lớn.
3
1. TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO, CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
NÓ Ở VIỆT NAM.
1.1. Khái niệm tín ngưỡng tôn giáo.
Tín ngưỡng tôn giáo và tôn giáo là những hiện tượng cùng bản chất
nhưng cũng có sự khác nhau nhất định.
Tín ngưỡng tôn giáo nếu định nghĩa một cách duy danh thì “ tín ” là lòng
tin, niềm tin. “ ngưỡng ” là sự “ ngưỡng mộ ”, “ ngưỡng vọng ”, là hướng vào
một cái gì đó. Tín ngưỡng là lòng tin, và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một
cái gì đó. Tín ngưỡng tôn giáo là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào
một lực lượng siêu nhiên, thần bí. Lực lượng siêu nhiên này mang hình thức
trừu tượng như: Trời, Phật, Thần thánh … có sức mạnh hư ảo, vô hình có thể
tác động đến đời sống của con người, được người ta tin là có thật và được
người ta tôn thờ.
Xét về mặt lịch sử, tôn giáo đầu tiên xuất hiện dưới dạng các tín ngưỡng
nguyên thủy. Những hình thức tín ngưỡng nguyên thủy biểu hiện phong phú, đa
dạng ở các thị tộc, bộ lạc nguyên thủy, nhưng chúng đều ở cùng một trình độ là
xây dựng giáo lý, giáo luật, giáo lễ, tổ chức giáo hội thực hiện việc hành lễ và
truyền bá tôn giáo.
Về mặt pháp lý, để xác định một tôn giáo tồn tại chính thức trong xã hội,
người ta thường dựa vào các yếu tố: có một hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ;
có một hệ thống cơ cấu tổ chức bao gồm các nhà tu hành, các nhà quản lý các
giáo phận từ cơ sở trở lên ( điều này các tôn giáo cụ thể có khác nhau ), hệ
thống cơ sở vật chất để duy trì, thực hành các hoạt động tôn giáo như : nhà thờ
của Kitô giáo, chùa của Phật giáo, thánh đường của Hồi giáo, thánh thất của
đạo Cao Đài … , các tu viện, các trường đào tạo các nhà tu hành, có những tín
đồ tự nguyện tuân theo giáo lý, giáo luật, giáo lễ, chụi sự quản lý, hướng dẫn về
mặt tín ngưỡng của giáo hội.
5
Giữa tín ngưỡng tôn giáo và tôn giáo có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi
tôn giáo đều được hình thành trên cơ sở một tín ngưỡng tôn giáo nhất định,
không có tín ngưỡng tôn giáo thì không có tôn giáo nào cả. Tín ngưỡng tôn
giáo xét về bản chất cũng là tôn giáo, nhưng là tôn giáo chưa phải theo nghĩa
đầy đủ, chặt chẽ của khái niệm này. Như ph. Ăngghen trong tác phẩm chống
Đuy Rinh đã viết: “ Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào
trong đầu óc con người những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó sức mạnh ở thế gian đã mang hình
thức siêu thế gian ”1. Ở đây tín ngưỡng tôn giáo là hạt nhân của ý thức tôn
giáo, là yếu tố ban đầu của sự hình thành tôn giáo. Nói như thế không có nghĩa
là khi tôn giáo với tính cách là tôn giáo ra đời thì các hình thức sơ khai, tín
ngưỡng nguyên thủy không còn tồn tại nữa, mà trong thực tế đời sống tâm linh
vô cùng phức tạp, bên cạnh những tôn giáo vẫn tồn tại những tín ngưỡng hoặc
tàn dư của những tín ngưỡng nguyên thủy, hoặc là sự pha trộn của các tín
ngưỡng nguyên thủy với các tôn giáo để hình thành nên một tín ngưỡng tôn
giáo mới.
đại phong kiến thay thế lẫn nhau giữ quyền cai trị với thể chế tập quyền. Trong
xã hội, đời sống nhân dân khổ cực, họ bị áp bức bóc lột nặng nề, nhất là khi
triều đại phong kiến thống trị đã rơi vào giai đoạn suy tàn, khủng hoẳng.
Mặt khác, lịch sử dân tộc ta còn là lịch sử dựng nước luôn đi đôi với cứu
nước và giữ nước. Hoàn cảnh lịch sử ấy đã hun đúc tinh thần đân tộc của con
người Việt Nam, lòng biết ơn, thành kính những người có công với dân, với
nước. Hơn nữa, chiến tranh luôn khắc nghiệt, không phải bao giờ cũng dành
được thắng lợi và thắng lợi cũng không phải dễ dàng, mà nhiều khi phải nuốt
hận vào lòng, phải tìm cách giải thoát bằng con đường tín ngưỡng tôn giáo.
Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam còn được hình thành, tồn tại, phát triển
dưới sự tác động của điều kiện văn hoá tinh thần nữa.
Do điều kiện địa lý, lịch sử, nên quá trình tồn tại và phát triển, văn hóa
Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hóa Phương Đông, đặc biệt là văn
hóa Trung Hoa. Trung Hoa là một nước có nền văn hóa ra đời sớm và phát triển
khá rực rỡ, là một trung tâm văn hóa của Phương Đông và thế giới, cũng là nơi
hình thành nhiều tôn giáo và tín ngưỡng tôn giáo. Những tôn giáo lớn của
Trung Hoa như: Nho giáo, Đạo giáo, ngoài ra còn Phật giáo, tuy không ra đời ở
7
Trung Hoa, nhưng nó đã phát triển ở Trung Hoa cổ - trung đại và mang sắc thái
mới, được du nhập vào Việt Nam. Bên cạnh văn hóa Trung Hoa, văn hóa nói
chung, tôn giáo nói riêng của Ấn Độ và nhiều nước khác cũng ảnh hưởng đến
văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam.
Tuy nhiên, các tôn giáo được du nhập vào Việt Nam, dù trong hoàn cảnh
và thời gian nào cũng đều được cải biến phù hợp với tâm thức, văn hóa Việt
Nam. Vì thế chúng đều mang sắc thái của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam.
Việt Nam cũng là nước có truyền thống văn hóa, trong đó có yếu tố ảnh
hưởng đến sự du nhập, hình thành, tồn tại và phát triển của tín ngưỡng tôn giáo.
Những yếu tố đó là lòng bao dung nhân ái, truyền thống uống nước nhớ nguồn
Nam.
Theo các tác giả cuốn sách “ Một số hiểu biết về tôn giáo – tôn giáo ở
Việt Nam, Tổng cục chính trị, nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm
1993, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam có năm đặc điểm cơ bản sau:
Một là, Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam mang tính quần chúng phổ biến
nhưng chủ yếu ở cấp độ tâm lý tôn giáo.
Hai là, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều
du nhập từ ngoài vào và ít nhiều được Việt Nam hóa.
Ba là, về cơ bản, Việt Nam có sự “ chung sống hòa bình ” giữa các tôn
giáo.
Bốn là, cùng với sự xuất hiện và phát triển của các tôn giáo, những hiện
tượng mê tín dị đoan, những tập tục có tính chất tôn giáo tồn tại khá rộng rãi,
mang nhiều mầu sắc địa phương khác nhau.
Theo giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn sách: “ Lý luận về tôn giáo
và tình hình tôn giáo ở Việt Nam ”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản
năm 2003, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam có các đặc điểm sau:
Một là, Xu thế hoà nhập mà không hợp nhất, mang tính đa/ phiếm thần.
Hai là, Khó phân biệt được cái thiêng với cái tục.
Ba là, Mang đậm tính chất dân tộc, vì dân vì nước, đặc biệt là đạo thờ tổ
tiên.
9
Bốn là, Vai trò phụ nữ trong đời sống tôn giáo thể hiện rõ rệt.
Năm là, Đời sống tôn giáo vận hành theo lối tiểu nông.
Sáu là, Đời sống tôn giáo thay đổi cùng với hoàn cảnh chính trị của đất
nước.
Bảy là, Tôn giáo Việt Nam trước, sau vẫn gĩư được bản sắc dân tộc.
Theo Nguyễn Thanh Xuân – phó ban tôn giáo chính phủ, trong bài trình
bày cho lớp tập huấn giáo viên do phòng nhà trường – Tổng cục chính trị tổ
chúng ta đều đã biết, mỗi sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan không
phải chỉ có một vài thuộc tính, một vài đặc trưng, đặc điểm, mà nó có thể có
nhiều. Tùy theo từng góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà đặc điểm này
hay đặc điểm khác được đề cập đến, thậm chí còn phụ thuộc vào cả trình độ của
người nghiên cứu nữa. tín ngưỡng tôn giáo lại là nột hiện tượng xã hội phức tạp
của đời sống xã hội, đương nhiên những đặc điểm của nó lại càng phong phú ,
đa dạng. Tín ngưỡng tôn giáo của mỗi quốc gia mang những đặc điểm riêng,
điều đó do những điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội, văn hóa của mỗi nước
quy định, mặt khác cũng mang những đặc điểm mà quốc gia khác có thể cũng
có, vì vậy làm cho bức tranh tín ngưỡng tôn giáo đã phong phú, phức tạp lại
càng phong phú, phức tạp hơn. Đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
không nằm ngoài quy luật đó. Chính vì lẽ đó khi nghiên cứu tiếp cận đặc điểm
của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan
điểm như vậy.
Tuy nhiên, trong các quan điểm đó có quan điểm khái quát một số đặc
điểm giống nhau, một số đặc điểm không giống nhau, một số đặc điểm nội
đung diễn giải tương tự nhau nhưng cách diễn đạt lại khác nhau, có quan điểm
trình bày nhiều đặc điểm, lại có quan điểm trình bày ít đặc điểm hơn.v.v. Mặc
dù vậy, tất cả các sự khái quát này đều đúng cả, vì những quan điểm ấy đều
phản ánh những mặt, những khía cạnh khác nhau của tín ngưỡng tôn giáo ở
Việt Nam nhưng với mục đích nghiên cứu khác nhau mà thôi.
Cụ thể là, đối với các tác giả “ Một số hiểu biết về tôn giáo – Tôn giáo ở
Việt Nam ” trình bày những đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo là để trang bị
cho người đọc hiểu một cách chung nhất về bức tranh tín ngưỡng tôn giáo ở
11
Việt Nam, vì vậy những đặc điểm này vừa được tiếp cận dưới góc độ thực trạng
lại vừa được tiếp cận dưới góc độ học thuật. Ở đây, những đặc điểm này vừa
phản ánh đặc điểm riêng, tính đa dạng, phong phú, phức tạp của tín ngưỡng tôn
bức tranh chung nhất của tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, mặt khác, phải bảo
đảm tính chất học thuật. Đương nhiên nói như thế không có nghĩa là yêu cầu về
học thuật mâu thuẫn với yêu cầu phản ánh đúng thực trạng bức tranh của tín
ngưỡng tôn giáo Việt Nam, mà phản ánh đúng là yêu cầu trước hết và quan
trọng nhất của học thuật, nhưng yêu cầu về học thuật lại không đòi hỏi phản
ánh một cách đầy đủ, chi tiết các khía cạnh của đòi sống tín ngưỡng tôn giáo.
Do vậy, để nghiên cứu đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
chúng ta phải căn cứ trước hết vào thực trạng tín ngưỡng tôn giáo và sự tác
động của nó đối với đời sống xã hội nước ta. Căn cứ này, xuất phát từ nguyên
tắc phương pháp luận cơ bản của CNDVBC và CNDVLS là khi nghiên cứu bất
kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải xuất phát từ sự tồn tại và những mối liên hệ
thực tại của chính bản thân sự vật, hiện tượng đó. Nghiên cứu hiện tượng tín
ngưỡng tôn giáo cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đây là sự khác nhau căn
bản giữa quan điểm duy vật với quan điểm duy tâm, quan điểm biện chứng với
quan điểm siêu hình.
Bên cạnh căn cứ trên, còn phải căn cứ vào yêu cầu học thuật. Yêu cầu
này xuất phát từ mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu. Chúng ta nghiên cứu
những đặc điểm của tín ngưỡng tôn giáo là để trang bị những kiến thức này cho
người học nhằm làm cho họ có quan niệm chung nhất về bức tranh tín ngưỡng
tôn giáo ở Việt Nam làm cơ sở để họ nhận thức được tính đúng đắn, khoa học
của những quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta phục vụ
cho công tác của họ sau này. Do vậy, chúng ta không thể đi vào tất cả các đặc
điểm của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam với tất cả các góc độ của nó được, mà
chỉ có thể và cũng chỉ cần thiết đi vào những đặc điểm cơ bản qua đó phản ánh
đước bức tranh chung nhất của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Mặt khác,
những đặc điểm ấy phải bảo đảm tính khái quát, tính khoa học cao. Có như vậy,
những đặc điểm ấy mới thể hiện được tính khoa học, đồng thời đáp ứng được
yêu cầu của môn học.
14
sinh, tức là các tôn giáo này được hình thành từ chính mảnh đất Việt Nam, đó
là Đạo Cao Đài và Đạo Hòa Hảo, ra đời vào những năm đầu của thế kỷ XX.
Trên đây là những hình thức tín ngưỡng tôn giáo phổ biến ở nước ta,
trong đó có những hính thức tín ngưỡng tôn giáo có số lượng tín đồ khá đông,
ảnh hưởng trong phạm vi cả nước, nhưng cũng có những hình thức tôn giáo số
lượng tìn đồ ít hơn, phạm vi ảnh hưởng chỉ một vùng. Có các hình thức tín
ngưỡng, tôn giáo tồn tại cả trong dân tộc đa số và trong các dân tộc thiểu số, lại
có những hình thức tín ngưỡng tôn giáo chỉ có ở một tộc người nào đó. Ngoài
những tôn giáo trên ở Việt Nam còn xuất hiện những hình thức tôn giáo ra đời
trong những thời gian khác nhau, nhưng thời gian tồn tại ngắn, phạm vi ảnh
hưởng nhỏ nữa như: Đạo Dừa, Đạo Ngồi …
Ngày nay, trong bối cảnh tôn giáo thế giới có nhiều biến động, ở Việt
Nam cũng xuất hiện rất nhiều các hình thức tôn giáo mới, thậm chí xuất hiện cả
những hình thức tôn giáo phi nhân tính như quái đạo của Lưu Văn Ty ở Hà tĩnh
( đạo này xuất hiện vao những năm cuối của thế kỷ XX ). Tất cả những điều
trình bày trên cho thấy bức tranh tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng,
phong phú, chính vì vậy có nhà nghiên cứu đã gọi nước ta là một “ bảo tàng tôn
giáo ”.
Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang
hoạt động bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số. Cụ thể:
- Phật giáo: Trên 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt
hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, Trong đó tập trung đông nhất ở Hà
Nôi, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên- Huế, Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng,
Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ…
- Thiên chúa giáo: Hơn 6 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong
đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng, Nghệ
là một cái gì tự nhiên, như một bộ phận tiềm ẩn của tâm linh, một sự nương tựa,
16
một hy vọng giải thoát. Nó như một màn sương mờ ảo bao phủ đời sống tinh
thần của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Với nội dung như vậy, cần đưa vào khi trình bày đặc điểm cơ bản của tín
ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, bởi lẽ đặc điểm này nói nên phạm vi và trình độ
tác động của tín ngưỡng tôn giáo đối với xã hội.
Ba là, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang tính chất đan xen, hoà
đồng.
Khác với Phương Tây và nhiều nước khác, ở Việt Nam không có tôn
giáo nào thống trị suốt chiều dài lịch sử, mà vị trí, vai trò của từng tôn giáo
cũng biến động qua các thời đại cùng với sự biến động của lịch sử. Như trên đã
thấy, Việt Nam nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo tồn tại, thậm chí có những
tôn giáo cóa giáo lý, lễ nghi, cơ cấu tổ chức … khác nhau, nhưng hàng trăm
năm qua về cơ bản không có sự kỳ dị tôn giáo, càng không có sự xung đột vì lý
do dị biệt tôn giáo, mà các tôn giáo cùng tồn tại hòa bình bên cạnh nhau, hòa
hợp với nhau cùng tồn tại. Thực tế cho thấy ở nhiều làng quê Việt Nam chùa là
nơi thờ Phật và nhà thờ là nơi thờ chúa trời của đạo thiên chúa tồn tại bên cạnh
nhau, ngày Phật Đản, ngày Nôen là ngày vui chung của cả “ lương và giáo ”.
Trong một không gian có thể cùng hiện diện của nhiều tôn giáo như: chùa, nhà
thờ, miếu, am, thánh thất …
Trong lịch sử, có những cuộc tranh luận trên bóa chí hoặc dưới hình thức
này hay hình thức khác xung quanh giáo lý của Phật giáo và Thiên chúa giáo
vào những năm 30 của thế kỷ XX, nhưng không vì thế mà sự dị biệt tôn giáo
trở thành lý do để kỳ thị hay khinh miệt nhau. Hoặc ở một số thời điểm lịch sử,
giữa các tôn giáo cũng xảy ra sự bất hòa ở một số nơi, nhưng chỉ xảy ra trong
phạm vi hẹp và xung đột không lớn. Những sự xung đột này thực chất không
phải từ lý do tôn giáo, mà do âm mưu của bọn thực dân xâm lược, chúng muốn
sư không chỉ biết kinh Phật mà có thể còn biết cả “ Tứ thư ”, “ Ngũ kinh ”.
Như vậy, ở Việt Nam không có tôn giáo nào có giáo lý cứng nhắc và
cũng không có tôn giáo nào giữ vị trí thống trị trong suốt chiều dài lịch sử. Trên
thực tế, thế giới quan, nhân sinh quan của các tôn giáo không những không
thống nhất mà còn mâu thuẫn nhau, nhưng chung sống hòa bình bên nhau, đan
18
xen, hòa đồng, bổ sung, nương dựa, xâm nhập vào nhau, tạo nên diện mạo khá
độc đáo của bức tranh tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam. Nhận xét về điều này
G. Coulet trong cuốn sách “ Thờ phụng và tôn giáo ở xứ Đông Dương An
Nam” đã viết: “Ở chùa Việt Nam, họ rất vui sướng mà mời Ngọc
HoàngThượng Đế vào ngồi cùng với Phật Thích Ca, thầy chùa bán bùa chú,
yểm tà ma cũng như thầy Pháp ”.
Bốn là, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt nam mang tính ưu trội yếu tố nữ.
Ở nước ta, hình tượng người phụ nữ xâm nhập và nổi bật trong tất cả các
hình thức tôn giáo. Điều đó phản ánh tình cảm và sự đánh giá công bằng của
nhân dân về vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Tính ưu trội yếu tố nữ trong
tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam thể hiện rất đa dạng. Nó thể hiện trước hết trong
tín ngưỡng thờ mẫu. Tín ngưỡng thờ mẫulà hình thức tín ngưỡng khá phổ biến
trong hệ thống tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam. Dọc chiều dài đất nước đền thờ
mẫu nơi nào cũng có, với các hình thức rất đa dạng. Có mẫu là thần thiên nhiên
như: “ Linh sơn thánh mẫu ”, “ Thánh mẫu thoải phủ ”, “ Thánh mẫu thượng
ngàn”, “ Địa mẫu”, có mẫu là nhân thần, có mẫu là nhân vật có thật, lại có mẫu
là nhân vật huyền thoại.
Tính ưu trội yếu tố nữ trong tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam còn thể hiện
trong hệ thống thần thánh cũng là nữ và trong quan niệm về các phương thức
thờ cúngcủa các tôn giáo. Chúng ta biết rằng, trong hệ thống các thần thánh
trong các tín ngưỡng tôn giáo yếu tố nữ chiếm số lượng và giữ vai trò khá quan
trọng. Chẳng hạn các thần thiên nhiên chủ yếu là nữ như bà chúa dâu, bà chúa
1. Ph. Ăngghen, Chống Duy Rinh, Nxb St, H, 1984.
2. Học viện chính trị, Giáo trình chủ nghĩa vô thần khoa học (đã nghiệm
thu ), năm 2004.
3. C. Mác, Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen – lời nói đầu, Nxb
St, H, 1971.
4. Tổng cục chính trị, Một số hiểu biết về tôn giáo – tôn giáo ở Việt Nam,
Nxb QĐND, 1993.
5. Từ điển tôn giáo.
6. Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb CTQG, H, 2003.