Tư liệu tham khảo Chuyên đề Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam - Pdf 17

Tư liệu tham khảo: Chuyên đề Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam

Tư liệu tham khảo Chuyên đề
Tiếp nhận thơ Đường tại Việt
Nam
1
Tư liệu tham khảo: Chuyên đề Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam
► VÀI NÉT VỀ LÝ THUYẾT MỸ HỌC TIẾP NHẬN
Mỹ học tiếp nhận là khuynh hướng trong phê bình nghiên cứu văn học, xuất phát từ ý
tưởng cho rằng, TPVH chỉ ra đời trong quá trình gặp gỡ tiếp xúc giữa văn bản tác phẩm
với độc giả.
• Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mỹ học tiếp nhận là sự tiếp nhận, tức là sự
cảm nhận tác phẩm văn học của độc giả.
Xét về nguồn gốc, mỹ học tiếp nhận là sự phản ứng đối với mỹ học nội quan, đối với
tư tưởng về tính tự trị của nghệ thuật. “Mỹ học tiếp nhận đoạn tuyệt với những ý niệm về
tính độc lập của nghệ thuật khỏi văn cảnh xã hội lịch sử, nó gia nhập lĩnh vực nghiên cứu
độc giả và xã hội”. Do vậy, mỹ học tiếp nhận đặc biệt chú ý đến các hiện tượng của văn
hóa đại chúng (văn chương giải trí, các loại ấn phẩm báo chí), nó có mối liên hệ với các
nghiên cứu xã hội học, khoa học sư phạm, các bộ môn nghiên cứu văn học ứng dụng.
Ngọn nguồn của mỹ học tiếp nhận có giải thích học và hiện tượng học của Husserl,
chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, trường phái hình thức Nga những năm 20 thế
kỷ XX, xã hội học văn học v.v.
Người tiên phong của mỹ học tiếp nhận là R. Ingarden. Ông đã tu chỉnh khái niệm cụ
thể hóa và tái lập trong công trình Về việc nhận thức tác phẩm văn học nghệ thuật.
Ingarden chịu ảnh hưởng mạnh mẽ hiện tượng học của Husserl, trước hết là ý tưởng về
tính chủ định. Chính ý tưởng này đã trở thành luận chứng triết học cho bản chất giao tiếp
của nghệ thuật, giải thích tính chất tích cực, sáng tạo của sự tiếp nhận ở độc giả.
Đầu những năm 40 thế kỷ XX, một đại diện của chủ nghĩa cấu trúc trường phái
Prague là Felix Vodicka cho rằng, không phải tất cả những sự cụ thể hóa có thể có xét từ
góc độ những ý đồ của cá nhân độc giả, đều có thể trở thành mục tiêu nghiên cứu, mà
chỉ những sự cụ thể hóa nào cho thấy có diễn ra sự gặp gỡ cấu trúc tác phẩm và cấu

nghiệm trước kia, mà còn dự báo khả năng chưa có, mở rộng không gian hạn hẹp của hành
vi xã hội, làm nảy sinh những mong muốn, nhu cầu mới.
W. Iser trong công trình Cấu trúc vẫy gọi của văn bản đã đưa vào phạm trù tính bất
định của tác phẩm văn học do R. Ingarden nêu ra, cho rằng kinh nghiệm thẩm mỹ được
hình thành chính là nhờ có những vùng bất định hoặc những điểm trống trong văn
bản. Ông đã dày công soạn thảo cả một danh mục những điều kiện và thủ pháp sản sinh
những điểm trống ở văn bản.
Tuy nhiều luận điểm và định nghĩa đã được luận chứng khá kỹ, song mỹ học tiếp
nhận với tư cách là hệ thống lý thuyết vẫn còn chưa hoàn chỉnh. Như G. Grimm nhận xét,
những khó khăn gắn với việc xây dựng một lý thuyết tiếp nhận thống nhất, có gốc rễ ở tính
phức tạp và đa thành phần của chính đối tượng nghiên cứu, đòi hỏi sự tiếp cận phân tích
liên ngành và đa ngành. Hiện tại các chuyên gia mới chỉ ghi nhận một số lĩnh vực và
khuynh hướng nghiên cứu của mỹ học tiếp nhận:
+ Mỹ học tiếp nhận nhận thức lý thuyết (giải thích học và hiện tượng học);
+ Mỹ học tiếp nhận mô tả tái tạo (chủ nghĩa cấu trúc, những người kế tục chủ nghĩa
hình thức Nga);
+ Mỹ học tiếp nhận xã hội học thực nghiệm (xã hội học về thị hiếu đọc);
+ Mỹ học tiếp nhận tâm lý (nghiên cứu tâm lý các thế hệ độc giả);
+ Mỹ học tiếp nhận lý thuyết giao tiếp (nghiên cứu ký hiệu học);
+ Mỹ học tiếp nhận thông tin xã hội (nghiên cứu vai trò xã hội của các phương tiện
truyền thông đại chúng).
MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ:
3
Tư liệu tham khảo: Chuyên đề Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam
Kinh nghiệm thẩm mỹ: một trong những phạm trù trung tâm của mỹ học tiếp nhận do R.
Ingarden nêu ra trong cuốn Cụ thể hóa và tái lập. Khái niệm này được H. R. Jauss tu chỉnh trong
cuốn Văn học sử như là sự khiêu khích nghiên cứu văn học hay cuốn Kinh nghiệm thẩm mỹ và giải
thích văn học. Kinh nghiệm thẩm mỹ cho phép người đọc đột phá về phía tương lai, mở cho con
người những khả năng mới, làm sống lại cái quá khứ đã bị lãng quên; cho phép người đọc nhập
vai đối với cái được mô tả và biểu hiện, tạo cho người đọc khả năng tham dự trò chơi độc đáo,

giả thực hiện sau khi cụ thể hóa.
Felix Vodicka cho rằng, không phải tất cả những sự cụ thể hóa có thể có xét từ góc
độ những ý đồ của cá nhân độc giả, đều có thể trở thành mục tiêu nghiên cứu, mà chỉ
những sự cụ thể hóa nào cho thấy có diễn ra sự gặp gỡ cấu trúc tác phẩm và cấu trúc
4
Tư liệu tham khảo: Chuyên đề Tiếp nhận thơ Đường tại Việt Nam
các chuẩn mực văn học do thời đại lịch sử cụ thể quy định, những chuẩn mực mà người
tiếp nhận là đại diện.
Đồng nhất hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ sự tự đồng nhất của độc giả
với các nhân vật văn học; việc độc giả trải nghiệm thế giới hư cấu của tác phẩm nghệ
thuật như là thế giới cụ thể sống động có thực, trải nghiệm này nảy sinh trên cơ sở niềm tin
của độc giả vào tính thực tại của ảo giác nghệ thuật.
W. Iser xem quá trình đọc như là sự xung đột thường xuyên của hai xu hướng: một
mặt độc giả có nhu cầu đồng nhất hóa, tin vào ảo giác, mặt khác là “mỉa mai văn bản”, đặt
toàn bộ các liên hệ cấu trúc của văn bản trước sự hoài nghi. W. Iser nhận xét rằng, trong
quá trình đọc, có sự nảy sinh hình thức tham gia của độc giả vào tác phẩm, khi anh ta bị
lôi kéo vào văn bản đến mức anh ta có cảm tưởng là bất cứ khoảng cách nào giữa anh
ta và những điều xảy ra trong tác phẩm, cũng đều đã mất đi. Kết quả là diễn ra sự “tan”
ranh giới giữa chủ thể và khách thể, đưa đến sự tách vỡ cá nhân của bản thân độc giả.
Hiện thời hóa: thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận, chỉ việc độc giả làm sống động, vật thể
hóa các chi tiết hoặc các đoạn của tác phẩm văn học, biến những cảnh thoáng qua thành
bức tranh khai triển, làm nảy nở một mạng lưới liên tưởng và xúc cảm. R. Ingarden quan
niệm, hiện thời hóa là một trong những cách khách quan hóa và cụ thể hóa sự miêu tả nghệ thuật, ở
mức nhất định nó được lập chương trình bởi bản thân văn bản văn học. Độc giả nghe và tiếp nhận,
rồi sau đó hiện thời hóa, tức là vật thể hóa, làm sống động - nhờ khai triển và bổ sung bằng tưởng
tượng của bản thân - không phải bất cứ cái gì, mà chỉ những điều ám chỉ chứa trong tác phẩm: các
chi tiết, đường nét, ngôn từ, hình ảnh v.v. Trong việc hiện thời hóa các mảng của văn bản,
độc giả giữ lấy một sự tự do đáng kể khỏi ý chí tác giả, nhưng không thể hoàn toàn lạ
hóa khỏi tác phẩm. Theo R. Ingarden, hiện thời hóa (cũng như cụ thể hóa) các chi tiết nội dung -
là phần khó thực hiện nhất trong sự tiếp nhận của độc giả. Ở đây nảy sinh sự lệch lạc đáng kể nhất

điểm qua các hiện tợng đánh giá tác phẩm:
- Đánh giá không chính xác do thái độ bị chi phối bởi động cơ cá nhân.
- Có khoảng cách giữa d luận phê bình và giá trị thực của tác phẩm.
- Đồng nhất điển hình xã hội với điển hình nghệ thuật.
- Không quan tâm đồng đều mọi tác phẩm.
- Thiên về chê hoặc khen mà không đánh giá đúng sát tác phẩm.
- Hiểu sai tác phẩm, gán ghép cho sáng tác những cái nó không có.
Tất cả các hiện tợng trên đều do cha nắm bắt đúng đối tợng. Điều này có liên quan
đến vấn đề chính trị, xã hội với những biến động của văn học, nghệ thuật. Nớc ta chịu ảnh
hởng sâu sắc của nền văn học phong kiến lâu dài và về mặt truyền thống, có không ít những
mặt yếu kém, lạc hậu. Chính những điều này đã tạo nên sự bảo thủ văn học. Sự bảo thủ
văn học này trong điều kiện xã hội hiện nay làm hạn chế quá trình văn học dân tộc hớng về
tơng lai. Bởi, chính cái tính truyền thống của văn học nớc nhà đã tạo ra cách ứng xử với
những tác phẩm: chỉ là khen, chê hoặc chỉ tập trung vào một số tác phẩm
ở nớc ta khi mà giáo trình Lý luận văn học đã có bài Tiếp nhận văn học (H,1986) thì
công chúng tiếp nhận văn học từ năm 1986 trở về đây đã khác so với công chúng tiếp nhận
văn học trớc năm 1985 rất nhiều. Ngời ta không còn đến với tác phẩm văn học nh là đến
với bản sao của hiện thực để xem các nhân vật trong tác phẩm có giống ngoài hiện thực,
ngang tầm với hiện thực hay không, mà chủ yếu để xem tác phẩm văn học nói gì về hiện
thực, có t tởng mới gì về hiện thực.
Với sự cố gắng nỗ lực nhằm du nhập và tham khảo lý luận văn học nớc ngoài, bằng
nhiều kênh thông tin khác nhau chúng ta đã giới thiệu đợc nhiều về các trờng phái, trào lu
lý luận văn học nớc ngoài trên các báo và tạp chí chuyên ngành nh Văn nghệ, Nhà văn,
Tạp chí văn học, Tạp chí thông tin khoa học xã hội, Văn học nớc ngoài v.v. Về mảng sách
nghiên cứu chúng ta đặc biệt chú ý đến cuốn Các vấn đề khoa học của văn học (Trơng
Đăng Dung chủ biên, Nxb KHXH, H, 1990) chúng ta có thể thấy đợc vai trò của cuốn sách
6
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
qua Lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Phan Ngọc đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xuất bản
một tuyển tập khẳng định có thể nghiên cứu văn học một cách khách quan. Tuyển tập này

Đây là lúc đã diễn ra truyền thống diễn ca thơ Đờng. Các tuyển tập thơ Đờng ó xut hin,
tuyển chọn và dịch đi dịch lại th ng nhiều lần Trong giai đoạn này hầu nh chúng ta
tiếp nhận, hiểu thơ Đờng chủ yếu qua nguyên tác và qua các bản dịch. Tiếp nhận thơ Đờng
qua các bản dịch là đặc điểm sáng tạo của Việt Nam. Nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân
đã tìm đợc những bản dịch thơ Đờng sớm nhất đợc su tầm trong Hồng Đức quốc âm thi tập
thế kỉ XV. Tỳ bà hành - một tác phẩm nổi tiếng của Bạch C Dị cũng giành đợc sự quan tâm
sâu sắc với nhiều dịch phẩm của nhiều dịch giả khác nhau. Đặc biệt trong Truyện Kiều
chứa số lợng rất lớn những câu thơ s dng ng liu t th Đờng. Hình thức thổng thơ Đ-
ờng cũng thể hiện sự tiếp nhận, sự giao lu giữa hai nền văn học.
1. Thơ Đờng trên các báo, tạp chí:
Đông Dơng tạp chí do F.H.SChneider phát hành năm 1913, ra đời và tồn tại trong
vòng 4 năm, với mục đích tuyên truyền cho văn hoá Pháp, do vậy dịch phẩm thơ Đờng tồn
tại rất ít, số lợng không đáng kể, có thể đếm trên đầu ngón tay.
Năm 1917, với sự ra đời của Nam Phong tạp chí (do Phạm Quỳnh chủ biên), thơ Đ-
ờng đã tìm đợc đất đứng cho mình. Có thể nói, đây là một tạp chí đi đầu trong việc dịch,
giới thiệu thơ Đờng và để lại nhiều bản dịch có giá trị. Sự ra đời của tờ báo này cũng nằm
trong mục đích của bọn thực dân Pháp là tuyên truyền cho văn học Pháp và đề xớng cho
một số t tởng yêu nớc duy tân giả hiệu nhằm đánh lạc hớng quần chúng. Ngời phụ trách
phần dịch thơ Đờng là Tùng Vân lại là ngời có tâm huyết trong việc chấn hng lại văn học
cổ. Ông đã cùng với Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Sở Cuồng Lê D đem hết tâm
huyết tiến hành dịch và giới thiệu thơ Đờng cho giới tân học. Hầu hết các bản dịch của ông
đều có hai phần, nguyên văn và dịch thơ nhằm giúp cho ngời thởng thức thơ Đờng có điều
kiện tiếp xúc trực tiếp với văn bản chữ Hán. Nhiều bài thơ đợc dịch đi dịch lại nhiều lần nh
Cung oán, Đỗ bến Tần Hoài, Xuân dạ lữ hoài, Thu dạ lữ hoài, Giang lâu th hoài v.v. Điều
này chứng tỏ thơ Đờng đã thu hút đợc rất nhiều sự quan tâm của các dịch giả khác nhau.
8
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
Các dịch giả đã dịch, giới thiệu và đã có phơng hớng điều chỉnh, tiếp nhận khác nhau làm
nên sự đa dạng phong phú của thơ Đờng. Dù con số cha thật chính xác: hơn 300 bài thơ Đ-
ờng, trong đó có hơn 200 bản dịch cổ đợc su tầm lại trong 17 năm tạp chí phát hành, song

chúng tôi đã thống kê đợc nh sau:
1962: Tác giả Bùi Thanh Ba trên tạp chí số 4 và số 11 có hai bài nghiên cứu về tác giả
Bạch C Dị và Đỗ Phủ.
1964: Trên tạp chí số 5 có bài nghiên cứu về tác giả Lý Bạch cũng của tác giả Bùi
Thanh Ba.
1988: 1 bài; 1996: 3 bài; 2001: 1 bài; 2002: 1 bài; 2003: 1 bài.
9
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
Điều đó cho thấy xu hớng nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc nói chung và thơ
Đờng nói riêng ở Việt Nam đã và đang trở thành mối quan tâm sâu sắc. Từ các bản dịch Đ-
ờng thi có trong tay, các nhà nghiên cứu đã mở hớng tiếp cận thơ Đờng từ mọi khía cạnh,
tìm hiểu về tác giả, những quan niệm của nhà thơ, những t tởng thẩm mĩ, cho đến việc đặt
thơ Đờng trong quá trình tiếp diễn của nó, mở rộng ra là nghiên cứu trực tiếp trên bề mặt
văn bản tác phẩm.
Tạp chí Hán Nôm ra đời năm 1985 do Trần Nghĩa chủ biên và từ 1993 do Trịnh Khắc
Mạnh làm tổng biên tập đã giành cho nghiên cứu Đờng thi một vị trí xứng đáng. Những
năm đầu thập niên 90, Tạp chí Hán Nôm đã tìm đợc nhiều văn bản tác phẩm Đờng thi có
giá trị. Tạp chí này đặc biệt chú ý tới hiện tợng nổi bật, đó là việc tìm hiểu bài thơ Phong
Kiều dạ bạc của nhà thơ Trơng Kế thời Thịnh Đờng. Liên tiếp trong các năm 1997, 2002,
2004, 2005, các tác giả Trần Đức Thọ, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Cảnh Phức, Kiều Thu
Hoạch đã có những bài viết xoay quanh cách hiểu văn bản tác phẩm này. Điều đó cho thấy
mỗi tác giả có cách nhìn nhận, tiếp cận khác nhau về văn bản tác phẩm. ở mỗi thời điểm
khác nhau lại có cách nhìn khác nhau. Từ đây tạo ra sự phong phú trong quá trình tiếp nhận
thơ Đờng.
2. Thơ Đờng trong các tuyển tập:
Với số lợng khoảng 76 tác phẩm (theo số liệu từ Niên luận Nghiên cứu việc dịch
thuật Đờng thi ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho đến nay của Dơng Thùy Trang), trong đó
bao gồm cả thơ Đờng với việc dịch thuật và cả những tác phẩm vừa tuyển chọn thơ Đờng,
vừa làm công tác nghiên cứu, phê bình, đến nay chúng ta đã có thể tìm hiểu thơ Đờng một
cách có hệ thống.

nhiều. Có thể thấy đợc mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề chính trị và các vấn đề văn hoá,
hoàn cảnh xã hội cũng nh ảnh hởng của chúng đến quá trình tiếp nhận và giao lu văn hoá.
Tuy nhiên trải qua những thăng trầm của lịch sử, với những mẫu mực của mình, Đờng thi
vẫn dành đợc trọn vẹn sự quan tâm. Trải qua mỗi thời kì khác nhau với mỗi biến động xã
hội, thơ Đờng cũng có những quá trình tiếp nhận và phát triển riêng của mình. Những dịch
phẩm thì đang ngày càng đợc chọn lọc hơn, những đánh giá cũng ngày càng sâu sắc hơn.
Số lợng các tác giả nghiên cứu về Đờng Thi cũng đang ngày càng tăng, trong đó có những
ngời viết nhiều về Đờng thi nh Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Lê Đức Niệm, Nguyễn Thị
Bích Hải v.v.
Những tác giả - tác phẩm thơ Đờng đợc quan tâm ở Việt Nam có Bạch C Dị với Tỳ bà
hành đã có 8 bài viết và một cuốn sách viết riêng về tác phẩm này (theo số liệu trong Niên
luận của Dơng Thùy Trang). Đặc biệt phải kể đến là Đỗ Phủ và Lý Bạch - đây là hai thi
nhân lớn nhất của đời Đờng, các bài viết, tác phẩm nghiên cứu về hai tác giả này có số lợng
rất đồ sộ, từ những bài viết trên các báo, tạp chí cho đến các chuyên luận, các luận án, luận
văn v.v.
Trong quá trình nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu tác phẩm, các tác giả đã đi vào mọi
khía cạnh của tác phẩm, từ thi pháp đến nội dung, nghệ thuật và t tởng của tác phẩm. Đờng
thi đã đợc tiếp nhận trên mọi phơng diện với nhiều hình thức độc đáo, và phải nói thêm
rằng, trong mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết, lâu dài giữa hai nền văn học, chúng ta đã thể
hiện đợc một quan hệ tri âm, tri kỷ. Nếu không phải vậy chắc chúng ta cũng khó có
những dịch phẩm hay, sáng tạo và đi vào lòng ngời nh thế. Độc giả trong sự tiếp nhận đã
làm nảy sinh hiện tợng đa nghĩa của tác phẩm, từ đó tạo cho việc đi sâu nghiên cứu tác
phẩm, và cũng là để tạo cho ngời đọc tham gia vào sự sáng tạo tác phẩm.
Dịch Đờng thi, đọc, thởng thức tác phẩm dịch cũng là một trong những hớng tiếp
nhận văn học. Chính trong công việc này, dịch giả đã thể hiện đợc sự sáng tạo của mình
trong văn bản. Phát huy tính độc lập, sáng tạo của dịch giả, hay chính là của ngời đọc, đây
cũng là một trong những vấn đề mà chúng ta quan tâm tới.
Đờng thi trong SGK Phổ thông ở Việt Nam
11
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam

ca), Đờng đi khó (Hành lộ nan). Điều đó chứng tỏ rằng nội dung Đờng thi chính thức đ-
ợc đa vào SGK Văn bậc THCS chỉ từ năm 1989 - 1990.
Đối với THPT: Từ năm 1989 đến 1990 bắt đầu tiến hành đợt cải cách chơng trình
THPT với quy mô rộng. Trên cơ sở chơng trình thống nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho
phép triển khai song song hai bộ SGK Văn do hai tập thể các nhà khoa học của trờng Đại
học s phạm Hà Nội và Hội nghiên cứu văn học Thành phố Hồ chí Minh biên soạn. Trong
khuôn khổ các tác giả, tác phẩm do chơng trình ấn định, Bộ cho phép hai bộ sách có thể
chọn những đoạn trích giảng khác nhau. Đến năm 2000, sau khi rút kinh nghiệm u, nhợc
12
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
điểm của bộ sách thí điểm, SGK môn văn ở THPT đợc tổ chức lại thành một bộ duy nhất
(SGK chỉnh lý hợp nhất) dùng trong cả nớc. Lúc đó, bộ phận văn học nớc ngoài đợc giới
thiệu trong cả 3 lớp là 21 tác giả của 2 nớc châu á (Trung Quốc, ấn Độ), 5 nớc châu Âu
(Hi lạp, Anh, Pháp, Nga, Đức), 1 nớc châu Mĩ (Hoa Kì). Nh vậy, mảng văn học nớc ngoài
có quy mô phát triển đột biến. Số lợng các nhà văn tăng gấp đôi. Ngoài một vài nền văn học
quen thuộc từ trớc, HS đợc tiếp xúc với những nền văn học khác.
Đối với văn học Trung Quốc, SGK giới thiệu 6 tác giả: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu
(thế kỉ thứ VIII), Bạch C Dị (thế kỉ thứ IX), La Quán Trung (Thế kỉ thứ XIV) và Lỗ Tấn
(thế kỉ XX). Thơ Đờng đợc bố trí:
4 tiết giảng chính:
+ Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Lý Bạch)
+ Thu hứng - Bài 1 (Đỗ Phủ)
+ Tỳ bà hành - Trích đoạn (Bạch C Dị)
+ Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu)
Đọc thêm:
+ Sáng ra đi từ thành Bạch Đế (Lý Bạch)
+ Đêm trăng (Đỗ Phủ)
Nh vậy có thể khẳng định, Đờng thi chính thức đợc đa vào SGK Văn bậc THPT từ
những năm 1989 - 1990.
II. Tác giả - tác phẩm đợc chọn (mô tả):

Bản 2: Văn 10: Phần văn học nớc ngoài và Lí luận văn học: Nguyễn Đăng Mạnh
(Chủ biên), Nguyễn Hoàng Tuyên, Lu Đức Trung, Nguyễn Khắc Phi, Lơng Duy Thứ, Lê
Khắc Hũa.
- Bài khái quát: Thơ Đờng: 5 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (không có tranh minh hoạ
và câu hỏi hớng dẫn tìm hiểu): I. Nguyên nhân phát triển; II. Một số đặc điểm về nội dung
và hình thức nghệ thuật thơ Đờng: 1. Khái quát nội dung; 2. Hình thức nghệ thuật.
- Bài giảng chính: 4 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng,
Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tỳ bà hành: Tên bài thơ (bằng chữ Hán); văn bản: in phiên âm,
dịch nghĩa (tên tác phẩm bằng tiếng Việt) và dịch thơ (cùng một cỡ chữ); chú giải (đôi nét
về tác giả và các từ khó hiểu); Hớng dẫn học bài (in chữ nhỏ).
- Phần đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình bày xen kẽ các
bài học chính (in theo cụm tác giả) và có phần câu hỏi hớng dẫn học bài.
* Đặc điểm bản dịch: Không ghi rõ xuất xứ bản dịch (trừ bản dịch thứ hai của bài Tảo
phát Bạch Đế thành).
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch); Tảo phát Bạch
Đế thành (bản dịch thứ nhất: Tơng Nh; Bản dịch thứ hai: Theo Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1,
Nxb giáo dục, 1987); Thu hứng (Công Trứ dịch); Nguyệt dạ (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch
thứ hai: Khơng Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khơng
Hữu Dụng); Tỳ bà hành (không in dịch giả).
3. Năm 1993:
Văn học 10, tập hai, Ban KHTN - Nguyễn Khắc Phi (Văn học Trung Quốc), Nguyễn
Hoàng Tuyên (Văn học cổ Hi Lạp và Văn học Anh), Lu Đức Trung (Văn học ấn Độ), Trần Đình Sử
(Lý luận văn học).
- Bài khái quát: Thơ Đờng: 6 trang khổ giấy in 14,5 x 20,5 (Không chia các đề mục,
không có tranh minh hoạ, không có câu hỏi hớng dẫn tìm hiểu)
- Bài giảng chính: 3 bài thơ: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng, Đăng cao: Tên tác giả, giới thiệu nét chính về tác giả, tên tác phẩm (bằng
chữ Hán, có chú thích bằng tiếng Việt liền sau), văn bản (nguyên bản, dịch nghĩa, dịch thơ),
chú giải, hớng dẫn học bài.
14

thanh tĩnh, Viên lại ở Thạch Hào, Một mình dạo chơi tìm hoa ven sông, Tuyệt cú (chùm thơ
4 bài chọn 1): Tên bài thơ (Bằng tiếng Việt, có chú thích tên phiên âm chữ Hán liền sau),
tiểu dẫn, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải, hớng dẫn học bài.
- Bài đọc thêm: 4 bài thơ: Khúc hát hái sen, Thu Phố ca, Bài hát nhà tranh bị gió thu
phá nát, Tuyệt cú (chùm thơ 6 bài chọn 1): Tên tác phẩm, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa,
dịch thơ), chú giải, Hớng dẫn học bài dới dạng câu hỏi. Trình bày xen kẽ các bài giảng
chính, theo cụm tác giả.
* Đặc điểm bản dịch: Ghi dịch giả, không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch bài Xa
ngắm thác núi L, Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
15
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
Đờng đi khó ( N.K.P dịch), Xa ngắm thác núi L (Tơng Nh dịch - Thơ Đờng, tập hai, Nxb Văn
học, H, 1987, tr. 59); Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tơng Nh dịch - Thơ Đờng, tập hai, Nxb Văn
học, 1987, tr. 47); .Khúc hát hái sen (Tản Đà dịch); Thu phố ca (N.K.P dịch); Viên lại ở Thạch Hào
(Khơng Hữu Dụng dịch); Một mình dạo chơi tìm hoa ven sông (N.K.P dịch); Tuyệt cú - 1 trong
chùm thơ 4 bài (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Tơng Nh); Bài hát nhà tranh bị gió
thu phá nát ( Khơng Hữu Dụng dịch); Tuyệt cú - 1 trong chùm thơ 6 bài (Khơng Hữu Dụng dịch).
THPT: Văn 10, phần văn học nớc ngoài và Lí luận văn học - Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Hoàn Tuyên, Nguyễn Khắc Phi, Lu Đức Trung, Lơng Duy Thứ, La Khắc Hoà.
- Bài khái quát: Thơ Đờng: 4 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (không tranh minh hoạ và
câu hỏi hớng dẫn học bài): I. Nguyên nhân phát triển; II. Một số đặc điểm về nội dung và
hình thức nghệ thuật: 1. Khái quát nội dung; 2. Hình thức nghệ thuật.
- Bài giảng chính: 4 bài: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Thu
hứng, Hoàng Hạc lâu, Tỳ bà hành: Tên tác phẩm (Phiên âm chữ Hán), văn bản phiên âm,
dịch nghĩa (tên tác phẩm bằng tiếng Việt, văn bản dịch nghĩa), dịch thơ, chú giải và Hớng
dẫn học bài dới dạng câu hỏi.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Văn bản (Phiên âm,
dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải và hớng dẫn học bài. Trình bày xen kẽ các bài giảng chính
theo cụm tác giả.
* Đặc điểm bản dịch: chỉ in dịch giả, không in xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch thứ hai

các bài giảng chính và theo cụm tác giả; có câu hỏi hớng dẫn đọc thêm (Tảo phát Bạch Đế
thành), gợi ý những nội dung chính của bài (Nguyệt dạ).
* Đặc điểm bản dịch: Ghi dịch giả nhng không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch thứ
hai của bài Tảo phát Bạch Đế thành và bản dịch Tỳ bà hành không in dịch giả)
Hoàng Hạc lâu (bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khơng Hữu Dụng); Hoàng
Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch); Tảo phát Bạch Đế thành (Bản
dịch thứ nhất: Tơng Nh,; Bản dịch thứ hai: Theo Lịch sử văn học Trung Quốc, tập I, Nxb Giáo dục,
1987), Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch); Đăng cao (Nam Trân dịch); Nguyệt dạ (Khơng Hữu
Dụng dịch).
6. Năm 2000:
Văn học 10, tập hai (Sách chỉnh lý hợp nhất)
- Bài khái quát: Thơ Đờng: 6 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (chia đề mục, không có
tranh minh hoạ và câu hỏi hớng dẫn học bài)
I. Nguyên nhân phát triển
II. Một số đặc điểm về hình thức nghệ thuật
1. Thể thơ.
2. Ngôn ngữ thơ và tứ thơ
III. Thơ Đờng với văn học Việt Nam.
- Bài giảng chính: 4 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng,
Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tỳ bà hành: Tên tác giả, giới thiệu tác giả và tác phẩm, tên tác
phẩm (bằng phiên âm chữ Hán, có chú thích bằng tiếng Việt liền sau), văn bản (Phiên âm,
dịch nghĩa, dịch thơ), chú thích và Hớng dẫn học bài.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Tên tác phẩm (bằng
phiên âm chữ Hán, có chú thích tiếng Việt liền sau), văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch
thơ), chú thích và Hớng dẫn học bài. Trình bày xen kẽ với các tác phẩm giảng văn, theo
cụm tác giả.
* Đặc điểm bản dịch: Đều in rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch.
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch - Thơ Đờng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Tảo phát Bạch Đế thành (Bản dịch thứ nhất: Tơng Nh - Thơ Đờng,
tập II, NXB văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: N. K.P dịch - Theo Lịch sử văn học Trung

tiếng Việt, có chú thích bằng phiên âm chữ Hán liền sau): Trình bày sau phần các bài giảng
chính và phần tri thức đọc hiểu về thơ Đờng. Có câu hỏi hớng dẫn đọc thêm.
* Đặc điểm bản dịch: ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Lầu Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà dịch - Báo Ngày nay, số 80, 1937; Bản dịch thứ
hai: Khơng Hữu Dụng dịch - Thơ ca cổ điển Trung Quốc, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,
1997); Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch - Thơ Đờng, tập
II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Cảm hứng mùa thu (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đờng, Tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Khe chim kêu (Bản dịch thứ nhất: Ngô Tất Tố - Thơ Đờng, tập I,
NXB Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Tơng Nh - Thơ Đờng, tập I, NXB Văn học Hà Nội,
1987).
18
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
Ban KHXH và NV:
- Bài khái quát: không có nhng có bài Tri thức đọc hiểu trình bày sau những tác phẩm
giảng chính.
- Bài giảng chính: 4 bài thơ: Nỗi oán của ngời phòng khuê, Lầu Hoàng Hạc, Đờng đi
khó, Trông xuân: Tên tác phẩm (Bằng tiếng Việt có chú thích phiên âm chữ Hán liền sau),
yêu cầu cần đạt, tiểu dẫn, văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), hớng dẫn học bài, bài
tập nghiên cứu.
- Bài đọc thêm bắt buộc: 3 bài thơ: Cảm hứng mùa thu, Tỳ bà hành, Khe chim kêu: In
cỡ chữ nhỏ: Tên tác phẩm, Tiểu dẫn, Văn bản, chú thích, hớng dẫn đọc thêm.
* Đặc điểm bản dịch: ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch (Trừ Đờng đi khó, Cảm
hứng mùa thu, Khe chim kêu: chỉ in dịch giả).
Nỗi oán của ngời phòng khuê (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đờng - tập I, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Trần Trọng Kim - Thơ Đờng, quyển I, Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966);
Lầu Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà, báo Ngày nay, số 80, 1937; Bản dịch thứ hai: Khơng
Hữu Dụng: Thơ ca cổ điển Trung Quốc, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1977); Đờng đi khó
(Hng Hà dịch); Trông xuân (Tơng Nh dịch - Thơ Đờng, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Cảm
hứng mùa thu (Nguyễn công Trứ dịch); Tỳ bà hành (Khụng in dịch giả); Khe chim kêu (Ngô Tất Tố
dịch, Tơng Nh dịch).

* Đặc điểm bản dịch: ghi rõ dịch giả, xuất xứ bản dịch.
Hành lộ nan (Hoàng Tạo dịch - Thơ Đờng, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Xuân vọng
(Tơng Nh dịch - tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà -
Thơ Đờng, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Khơng Hữu Dụng dịch - Thơ Đ-
ờng, Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội 1987); Khuê oán (Tản Đà dịch - Thơ Đờng, tập I, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1987); Xuân hiểu (Bản dịch thứ nhất - Tơng Nh, Thơ Đờng, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội,
1987; Bản dịch thứ hai: Nguyễn Thế Nức - Thơ Đờng, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Thu
hứng (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đờng, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tỳ bà hành ( Phan
Huy Vịnh dịch - Thơ Đờng, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987).
9. Năm 2006:
Ngữ văn 10 (Ban cơ bản)
- Bài khái quát: không có.
- Bài giảng chính: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Thu hứng:
Tên bài học (Tiếng Việt có chú thích bằng phiên âm chữ Hán ngay liền sau), Kết quả cần
đạt, Tiểu dẫn, Văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), Hớng dẫn học bài, Luyện tập.
- Bài đọc thêm: Tên tác phẩm (Tiếng Việt, có chú thích bằng phiên âm chữ Hán), tiểu
dẫn, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), Hớng dẫn đọc thêm.
* Đặc điểm bản dịch: ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch - Thơ Đờng, tập
II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Cảm hứng mùa thu (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đờng, tập II,
Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Lầu Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đờng, tập I, Nxb
Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Khơng Hữu Dụng dịch - Thơ Đờng, Tập I, Nxb Văn học,
Hà Nội 1987), Nỗi oán của ngời phòng khuê (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đờng, tập I, Nxb
Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Nguyễn Khắc Phi, có tham khảo bản dịch của Trần
Trọng San - Thơ Đờng, Quyển I, Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966), Khe chim kêu (Bản dịch thứ nhất: Ngô
Tất Tố, Bản dịch thứ hai: Tơng Nh).
Ngữ văn 10: (Nâng cao)
- Bài khái quát: không có.
- Bài giảng chính: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Thu hứng,
Tỳ bà hành: Tên bài (Bằng Tiếng Việt, có chú thích bằng phiên âm chữ Hán), kết quả cần

đều in dịch giả và xuất xứ trong bài.
Bộ SGK in sau năm 2000: In rõ dịch giả, xuất xứ bản dịch ở tất cả các bài.
- Về trình tự giới thiệu các tác giả: cơ bản tuân theo đúng thời điểm sống của các tác
giả, xếp theo. Vai trò của các tác giả đối với Đờng thi: Mạnh Hạo Nhiên, Vơng Duy, Vơng
Xơng Linh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị. ở cấp THCS học Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Ch-
ơng, Trơng Kế. Lên THPT, tiếp tục giảng thêm thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, giảng Bạch C Dị, V-
ơng Duy, Mạnh Hạo Nhiên.
- Về trình tự giới thiệu tác phẩm: Những tác phẩm đợc đa vào chơng trình NVPT bám
sát nguyên tắc: Dễ trớc, khó sau; từ đơn giản đến phức tạp. Hầu hết các tác phẩm giới thiệu
ở cấp 2 có nội dung t tởng dễ hiểu, không phức tạp ở khía cạnh nghệ thuật. Nhng lên cấp 3,
những tác phẩm đa vào chơng trình đều là tác phẩm đợc đánh giá cao về phơng diện hình
21
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
thức nghệ thuật. Với những kiến thức văn học sử và Lý luận văn học đợc trang bị, lúc này
HS mới có công cụ cảm thụ ý nghĩa tác phẩm. Cách lựa chọn này thể hiện tính khoa học và
s phạm của những ngòi biên soạn nội dung Đờng thi.
- SGK từ lớp 6 - 12 từ 1989 đến 2007: trớc 2001, chơng trình THCS dạy Đờng thi ở
lớp 9, sau 2001 (thay sách), chơng trình THCS dạy Đờng thi ở lớp 7; chơng trình THPT vẫn
dạy Đờng thi ở lớp 10.
Bảng thống kê tác giả - tác phẩm Đờng thi trong SGK lớp 10 THPT:
Năm Tác giả (số tác phẩm đợc chọn)
Tổng
số tác
giả
Tổng
số tác
phẩm
199
0
Bản 1 Lý Bạch (2), Đỗ Phủ (1), Bạch C Dị (1), Thôi Hạo (1) 4 5

T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
Tác giả Tác phẩm / số lần đợc chọn vào SGK
1. Đỗ Phủ
1. Đăng cao / 4 lần
2. Giang bạn độc bộ tầm hoa / 1 lần
3. Mao ốc vị thu phong sở phá ca / 3 lần
4. Thạch Hào lại / 2 lần
5. Thu hứng / 9 lần
6. Tuyệt cú (chùm thơ 4 bài) / 1 lần
7. Tuyệt cú (chùm thơ 6 bài) / 1 lần
8. Xuân vọng / 2 lần
9. Năm sắp hết / 1 lần
2. Lý Bạch
10. Hành lộ nan / 4 lần
11. Hoàng Hạc lâu tống MHN chi Quảng Lăng / 9 lần
12. Tảo phát Bạch Đế thành / 4 lần
13. Thái liên khúc / 2 lần
14. Thu Phố ca / 1 lần
15. Tĩnh dạ tứ / 3 lần
16. Vọng L Sơn bộc bố / 3 lần
17. Đôi én rời nhau (Song yến li) / 1 lần
3. Thôi Hạo 18. Hoàng Hạc lâu / 12 lần
4. Vơng Xơng Linh 19. Khuê oán / 5 lần
5. Mạnh Hạo Nhiên 20. Xuân hiểu / 2 lần
6. Bạch C Dị 21. Tỳ bà hành / 8 lần
7. Vơng Duy 22. Điểu minh giản / 4 lần
8. Trơng Kế 23. Phong Kiều dạ bạc / 1 lần
9. Hạ Tri Chơng 24. Hồi hơng ngẫu th / 1 lần
Cộng: 9 tác giả, 24 bài đợc chọn, trong đó Đỗ Phủ: 9 bài, Lý Bạch: 8 bài, còn lại mỗi
tác giả 1 bài.

chính ngay từ đầu. Tuy nhiên, dung lợng quá dài, ngời biên soạn chỉ trích giảng đoạn miêu
tả tiếng đàn lần thứ hai của ngời ca nữ. Đối với ban KHTN, tác phẩm đợc dành vào mục
đọc thêm, tránh sự quá tải về kiến thức đối với HS.
Có những tác phẩm chỉ xuất hiện một lần, không lặp lại ở các năm thay sách sau đó:
Song yến li (Lý Bạch), Năm sắp hết (Đỗ Phủ).
Lại có trờng hợp tăng số lợng bài, xuất hiện một số bài mới:
+ Chơng trình THCS: Phong Kiều dạ bạc, Hồi hơng ngẫu th
+ Chơng trình THPT: Xuân hiểu, Xuân vọng, Điểu minh giản.
Bảng thống kê tác phẩm - tác giả nguyên tác và dịch giả:
24
T liu tham kho: Chuyờn Tip nhn th ng ti Vit Nam
STT Tác phẩm - tác giả nguyên tác Dịch giả
1 Đăng cao (Đỗ Phủ) Nam Trân
2 Điểu minh giản (Vơng Duy) Ngô Tất Tố; Tơng Nh
2 Giang bạn độc bộ tầm hoa (Đỗ Phủ) N.K.P
3 Hành lộ nan (Lý Bạch)
N.K.P (Văn học 9, tập hai, Năm 1995);
Hoàng Tạo (Ngữ văn 10, tập hai, SGK thí
điểm - Bộ 2 - Ban KHXH và NV, năm 2003)
4 Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu) Tản Đà, Khơng Hữu Dụng
5
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng (Lý Bạch)
Ngô Tất Tố
6 Hồi hơng ngẫu th (Hạ Tri Chơng) Phạm Sĩ Vĩ, Trần Trọng San
7 Khuê oán (Vơng Xơng Linh) Tản Đà, Nguyễn Khắc Phi
8
Mao ốc vị thu phong sở phá ca
(Đỗ Phủ)
Khơng Hữu Dụng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status