Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam - Pdf 17

Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam

Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ
Đường ở Việt Nam
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-1
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong một thời gian rất dài, khi nghiên cứu văn chương, người ta luôn
kiếm tìm lời giải cho tác phẩm từ tác giả. Bởi vậy mà, trong tiềm thức của
rất nhiều người hôm nay vẫn luôn tự tin khẳng định rằng tác phẩm
Baudelaire cho thấy sự suy sụp của con người Baudelaire, tranh Van Gogh
là sản phẩm trong những phút thăng hoa của hội chứng điên, nhạc
Tchaikovsky là ẩn ức của những tội lỗi, sám hối day dứt nhất… Không phủ
nhận tác giả có một vai trò quan trọng hình thành nên tác phẩm song đó
không phải là đối tượng quan trọng nhất và càng không phải là yếu tố duy
nhất để ta xoáy vào khi nghiên cứu văn học. Bởi lẽ nói như Trương Đăng
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-2
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
Dung rằng “tác phẩm văn học như là quá trình”, tác phẩm được phôi thai từ
sự chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện thực của nhà văn và kết quả là người đọc
có được một văn bản nghệ thuật. “Nhưng sự sống của nó chỉ thực sự bắt đầu
khi trải qua quá trình chiếm lĩnh thẩm mỹ về tác phẩm của người đọc. Văn
bản chỉ trở thành tác phẩm khi có người đọc xuất hiện” [12, 108]. Đó là lí
do vì sao từ cổ chí kim, không ít nhà văn, nhà thơ sáng tác nên hàng triệu
tác phẩm nhưng không phải tất cả số đó vượt qua được dòng chảy nghiệt
ngã của thời gian để đứng vững cùng bạn đọc.
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã có một nhận xét rất chính xác rằng:

cứu tác phẩm văn học lên một nấc thang mới. Nếu cứ cày xới từ góc độ tác
giả, ngôn ngữ văn bản thì cánh đồng văn chương tưởng chừng không còn
điều gì mới mẻ để khai phá. Từ đây, mở ra một chân trời tiếp nhận mới, tiếp
cận tác phẩm từ nhiều chiều hơn tựa như khối rubic lập phương. Sự tồn tại
của tác phẩm không thể hình dung được nếu thiếu sự tham dự của người
đọc. Không có tác phẩm văn học nếu không có người đọc, một nền văn học
không chỉ là phép cộng giản đơn của tác giả, tác phẩm mà còn phải kể tới
mối quan hệ tác giả - tác phẩm, đội ngũ dồi dào những người tiếp nhận
chúng cùng thời cũng như thế hệ mai sau… Quá trình tiếp nhận tác phẩm
chính là sự đối thoại liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực, độc giả cũng là
người đồng sáng tạo. Lý luận tiếp nhận đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan
trọng trong lịch sử tác phẩm văn học. Theo dõi đời sống lịch sử của các tác
phẩm văn học, dễ nhận thấy tiếp nhận văn học ngày càng chiếm lĩnh tác
phẩm một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn, cụ thể hơn trong nhiều tương
quan và bình diện hơn.
Tiếp nhận là một vấn đề rất mới mẻ và hấp dẫn, nó mở ra những chiều
sâu khám phá sức sống nội tại của một tác phẩm văn học, đặc biệt là đối với
những tác phẩm kinh điển, có sức sống mạnh mẽ trong lịch sử văn học.
Người ta luôn tự hỏi: Cái gì làm nên sức sống tiềm tàng mãnh liệt ấy? Tác giả
là một cây bút đầy tài năng? Thông điệp của nó ẩn chứa nhiều vấn đề hấp dẫn
mang tính thời đại? Và độc giả mọi thế hệ chính là chiếc cầu nối kì diệu đã
tiếp nhận, cất cánh cho những áng văn chương ấy vươn xa hơn. Bởi vậy mà
có người đã nói không ngoa rằng: Lịch sử văn học là lịch sử của những cách
đọc. Từ thời đại này sang thời đại khác, từ người này qua người khác sẽ nới
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-4
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
rộng dần ra không gian thẩm mỹ của tác phẩm. Tác phẩm mở ra vô vàn
những cái nhìn khác lạ.
Thơ Đường là một trong những áng văn chương mang trong mình sức

Phong Kiều dạ bạc. Bài thơ từng được đưa vào giảng dạy trong chương trình
phổ thông nên khá quen thuộc với học sinh - sinh viên. Khi lí luận phê bình
văn học đã đạt được những thành tựu mới thì việc tiếp nhận tác phẩm văn học
nói chung, tiếp nhận Tỳ bà hành và Phong Kiều dạ bạc nói riêng càng được
quan tâm nhiều hơn. Như thế, Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế và Tỳ bà
hành của Bạch Cư Dị là hai tác phẩm hết sức tiêu biểu cho Đường thi, hơn
nữa tư liệu nghiên cứu về tiếp nhận hai tác phẩm này đã được thực hiện khá
đầy đủ trong các niên luận, khóa luận của những người đi trước.
Chúng tôi muốn trên nền những tư liệu đã có của những người nghiên
cứu trước để qua Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị và Phong Kiều dạ bạc của
Trương Kế tìm hiểu và lí giải một vài vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam.
Khóa luận của chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu hai cách đọc, hai hướng tiếp
nhận chính bên cạnh rất nhiều cách tiếp nhận phong phú khác đó là việc
“giảng nghĩa” thơ Đường trong sách giáo khoa phổ thông và việc giải nghĩa
thơ Đường trong nghiên cứu - phê bình để từ đó có cái nhìn tổng quát, nhận
diện và lí giải vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam. Ở một khía cạnh nào đó có
thể gợi mở những chân trời của mĩ học tiếp nhận, nhìn nhận tác phẩm ở góc
độ người đọc.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Có thể nói nghiên cứu quá trình tiếp nhận văn học ở góc độ người đọc
là một vấn đề khá mới mẻ ở nước ta. Cụ thể, trong khóa luận của chúng tôi có
nghiên cứu một vài vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam nói chung, tiêu biểu
qua hai trường hợp Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị và Phong kiều dạ bạc của
Trương Kế lại là một vấn đề ít gặp.
Viết về quá trình tiếp nhận thơ Đường ở Việt Nam có thể kể tới Luận
án phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn của Nguyễn Tuyết Hạnh với đề tài: Vấn đề
dịch thơ Đường ở Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, 1996). Luận án gồm có ba
chương: Chương đầu tiên nói về lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam với việc
nêu ra truyền thống dịch thuật ở Việt Nam, truyền thống dịch thơ Đường và
tổng kết lịch sử dịch thơ Đường ở Việt Nam. Chương hai đưa ra vấn đề

sử. Khóa luận tuy ngắn và mới chỉ bước đầu điểm qua trên những nét lớn nhất,
qua những dịch giả tên tuổi nhưng đã cung cấp cho bạn đọc nhiều nguồn tư
liệu quý giá về vấn đề dịch thuật thơ Đường ở Việt Nam.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-7
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
Năm 1972, Nguyễn Trọng Nuôi viết khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài
là Tìm hiểu việc dịch thuật và nghiên cứu Đường thi ở Việt Nam trước cách
mạng tháng Tám. Khóa luận gồm hai phần chính: Phần đầu: Vài nét về thơ
Đường. Phần hai đi sâu nghiên cứu việc dịch thuật và khảo cứu Đường thi ở
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với việc chia ra ba ý lớn: dịch thuật,
khảo cứu và nhận định chung. Có thể nói, tuy trong hoàn cảnh đất nước khó
khăn, nguồn tư liệu khan hiếm, còn ghi chép tay nhưng khóa luận đã tổng
hợp được tài liệu và bước đầu có những lời bình giá nhất định về hiện tượng
nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận rộng hơn ở cả lĩnh vực giới thiệu, nghiên
cứu và phiên dịch và đối tượng nghiên cứu rộng hơn hẳn là thơ ca Trung
Quốc (không giới hạn ở Đường thi), Nguyễn Thị Mỹ Linh đã viết khóa luận
tốt nghiệp với đề tài: Tình hình giới thiệu, nghiên cứu và phiên dịch thơ ca
Trung Quốc ở Việt Nam từ trước tới nay. (năm 1991, Lê Đức Niệm hướng
dẫn). Khóa luận gồm có sáu phần lớn, mỗi phần đi theo lịch sử phát triển của
thơ Đường từ thời Tiên Tần; Tần Hán, Ngụy Tấn, Nam Bắc triều; thơ ca đời
Đường; thơ ca Tống Nguyên; thơ ca Minh Thanh và Cận đại; thơ ca Trung
Quốc thời Hiện đại. Trong đó tác giả lại đi vào tìm hiểu quá trình giới thiệu,
nghiên cứu cũng như đặt ra vấn đề ai là người đầu tiên dịch thơ Đường?
Người đầu tiên khảo cứu thơ Đường? Khóa luận đã cung cấp cho độc giả
nguồn tư liệu khảo sát rất chi tiết và đáng quý về thơ ca Trung Quốc đã được
tiếp nhận ở Việt Nam.
Các công trình trên được nghiên cứu từ các cách tiếp cận văn học so
sánh (nghiên cứu ảnh hưởng) hoặc từ góc độ phiên dịch học, chứ chưa quan

Việt Nam; Tỳ bà hành trên sách báo tạp chí đầu thế kỷ XX; vấn đề tuyển
dịch nghiên cứu Tỳ bà hành tại Việt Nam từ 1940 đến nay; vấn đề tiếp nhận
Tỳ bà hành trong các thể loại văn học nghệ thuật tại Việt Nam. Công trình
nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường tuy nhỏ nhưng là nguồn tư liệu đáng quý
đã cho thấy được toàn cảnh quá trình tiếp nhận Tỳ bà hành tại Việt Nam trên
nhiều phương tiện: sách báo, tạp chí, sách, giáo trình… và tương ứng với nó
là các cách đọc khác nhau. Những ghi chép của Nguyễn Thị Hường về vấn đề
tiếp nhận Tỳ Bà hành tại Việt Nam là một sự tìm kiếm tư liệu đáng quý và
đáng ghi nhận. Cùng năm 2007 có khóa luận tốt nghiệp của Mạnh Thị Minh
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-9
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
nghiên cứu: Đường thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam. Với hai
chương: chương một: quá trình Đường thi được đưa vào giảng dạy trong
trường phổ thông ở Việt Nam và chương hai: Hướng dẫn giảng dạy Đường
thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam, đây cũng là một công trình tỉ
mỉ, cung cấp nhiều tư liệu rất có ích cho bạn đọc quan tâm đến vấn đề này.
Năm 2008, Nguyễn Hồng Mơ tiếp tục vấn đề tiếp nhận khi làm niên
luận nghiên cứu: Vấn đề tiếp nhận Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam. Niên luận
gồm ba chương: Chương một vấn đề dịch thuật Hoàng hạc lâu, chương hai:
Vấn đề nghiên cứu Hoàng hạc lâu và chương ba: Từ tác phẩm đến tác phẩm.
Như vậy, ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề tiếp nhận văn học,
cụ thể là tiếp nhận Đường thi ở góc độ bạn đọc vẫn chưa có nhiều cây bút
tham gia. Nghiên cứu văn học từ mĩ học tiếp nhận là một vấn đề khó và thực
sự cần có nhiều thời gian. Trong khóa luận này, chúng tôi muốn tiếp tục phát
triển, nghiên cứu sâu hơn vấn đề tiếp nhận thơ Đường, thông qua hai trường
hợp tiêu biểu: Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế và Tỳ bà hành của Bạch
Cư Dị. Những niên luận, khóa luận đi trước quả thực là những phần tư liệu
rất quý báu để trên cơ sở đó, chúng tôi tìm hiểu, tổng hợp và sắp xếp theo
hướng tìm hiểu của mình. Tuy nhiên hầu hết những niên luận, khóa luận

một số tác phẩm thơ ca khác của Đường thi tại Việt Nam.
Về phạm vi tư liệu của đề tài, chúng tôi chủ yếu dựa vào tư liệu thành
văn bằng chữ Quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm này đã được các tác
giả niên luận và khóa luận trước đó sưu tầm, giới thiệu trong công trình của
mình. Đó là những nguồn tư liệu rất quý báu và giúp ích rất nhiều cho chúng
tôi hoàn thành khóa luận này.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, trên bình diện lý thuyết, chúng tôi tiếp cận đối
tượng chủ yếu từ góc độ văn học so sánh và mĩ học tiếp nhận.
Về các mặt thao tác khoa học cụ thể, chúng tôi chủ yếu sử dụng
phương pháp mô tả, hệ thống hóa, thống kê, phân loại, chia giai đoạn nhằm
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-11
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
khôi phục diện mạo và phác họa quá trình tiếp nhận và diễn dịch hai tác
phẩm Tỳ bà hành, Phong Kiều dạ bạc, đồng thời cũng sử dụng phương pháp
phân tích, so sánh - đối chiếu nhằm cắt nghĩa đặc điểm, tính chất và lí giải
nguyên do của quá trình đó.
6. BỐ CỤC KHÓA LUẬN
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục ra, phần
Nội dung của khóa luận bao gồm 2 chương:
CHƯƠNG 1: GIẢNG NGHĨA THƠ ĐƯỜNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA
PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM
1.1 Giảng nghĩa Tỳ bà hành trong SGK PT.
1.2 Giảng nghĩa Phong Kiều dạ bạc trong SGK PT.
1.3 Lí giải hiện tượng giảng nghĩa trong SGK PT.
CHƯƠNG 2: GIẢI NGHĨA THƠ ĐƯỜNG TRONG NGHIÊN CỨU PHÊ
BÌNH Ở VIỆT NAM
2.1 Nghiên cứu phê bình Tỳ bà hành ở VN.
2.2 Nghiên cứu phê bình Phong Kiều dạ bạc ở VN.

mình. Như Giáo sư Quý Tiện Lâm (Đại học Bắc Kinh) đã từng ví: “Nếu lấy
dòng sông để so sánh thì dòng sông văn học Trung Quốc có lúc nước đầy, có
lúc nước cạn nhưng chưa từng khô kiệt bao giờ. Nguyên nhân là vì có nước
mới chảy vào. Những lần chảy vào có khi nhiều, khi ít. Nhiều nhất có hai lần:
một lần nước từ Ấn Độ chảy sang, một là vì phương Tây chảy tới. Mà hai lần
nước chảy vào này đều do người dịch khơi thông”. Có thể nói thơ Đường nói
riêng cũng như văn học Trung Quốc nói chung là một trong những dòng chảy
lớn hòa vào văn học dân tộc nước ta. Từ rất lâu, thơ Đường - tinh hoa của cả
thế giới đã được các nhà dịch thuật chú ý, dày công tuyển chọn và dịch cho
độc giả tiếp cận. Và không ai lại không đồng ý rằng: Tuổi thọ của một bản
dịch tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của dịch giả. “Mỗi
một dịch giả có trình độ đều là một nghệ sĩ” (R. Italiander). Nhưng một điều
rất dễ nhận ra là tuy những tác phẩm Đường thi được dịch thuật và giới thiệu
rất sớm ở Việt Nam nhưng phải một thời gian dài sau đó, nó mới được tuyển
lựa vào sách giáo khoa phổ thông giảng dạy cho học sinh.
Có thể nói, soạn sách giáo khoa cho chương trình phổ thông đến hôm
nay vẫn không phải là một công việc đơn giản. Bởi lẽ để có được một bộ sách
chuẩn, trở thành chương trình mẫu mực giúp cho việc tiếp thu, nhận thức của
học sinh được tốt cần phải có một đội ngũ biên soạn có tầm hiểu biết, trí tuệ
và làm việc khoa học. Sách giáo khoa ở nước nào cũng vậy, nó “chứa đựng
những tri thức cơ bản, chính xác nhất và được nhân loại tin cậy nhất” (GS.
TS Nguyễn Thanh Hùng). Sách giáo khoa trong nhà trường là loại sách dành
cho học sinh nghiên cứu và học tập dưới sự chỉ đạo của giáo viên. Sách giáo
khoa bộ môn văn cũng không nằm ngoài những vai trò và định hướng đó.
“Chương trình sách giáo khoa là căn cứ rõ nhất để nghiên cứu tìm hiểu vấn
đề tiếp nhận văn học theo hướng chính thống trong nhà trường. Sự biến đổi
của nội dung chương trình phản ánh mức độ thích ứng giữa thực tế giảng dạy
với lí luận mới về tiếp nhận văn học.” [34, 5]. Đặc biệt là đối với những tác
phẩm văn học nước ngoài được biên soạn và đưa vào giới thiệu cho học sinh
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN

Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-15
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
đơn giản. Cho đến nay, giới nghiên cứu văn học vẫn chưa khẳng định được
Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị đã đến Việt Nam chính xác tự bao giờ. Trên cơ
sở tổng hợp cứ liệu sẵn có thì bản dịch Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị được
phát hiện, bản khắc in năm 1881 là bản cổ nhất.
Dù chưa biết rõ văn bản chữ Hán của Tỳ bà hành đã xuất hiện và được
dịch ra chữ Quốc ngữ ở Việt Nam từ bao giờ nhưng theo những tài liệu đã có
được trong tay, dự đoán văn bản chữ Hán của tác phẩm này đã đến với người
Việt từ khá sớm. Bản dịch Tỳ bà hành được truyển tụng xưa nay, đã từng
được coi là của Phan Huy Vịnh nhưng hiện nay đã được chứng minh là của
Phan Huy Thực - thân phụ của Phan Huy Vịnh. Căn cứ vào thời gian Phan
Huy Thực sống (1779- 1846) thì chúng ta có thể dự đoán: bản dịch Tỳ bà
hành đã ra đời từ những năm đầu thế kỷ XIX. Điều này có liên quan đến luận
điểm của Phan Văn Diêu: “Trong đời làm quan, Huy Thực đã ba lần lên
xuống chức Thượng thư bộ Lễ. Vì lẽ đó, ông đã cảm thông sâu xa với Bạch
Lạc Thiên mà phiên diễn Tỳ bà hành chăng?”
Tới nay, bản dịch Tỳ bà hành có nhiều, song thành công nhất vẫn là
bản dịch của Phan Huy Thực. Đây được coi là một trong hai bản dịch hay
nhất trong lịch sử dịch thuật của nước ta bên cạnh bản dịch tác phẩm Chinh
Phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (nguyên tác của Đặng Trần Côn). Bản
dịch sử dụng thể thơ song thất lục bát- một thể thơ truyền thống của dân tộc
có khả năng biểu cảm mạnh mẽ. Bản dịch hoàn hảo bởi nó giữ được đúng số
câu và số chữ của nguyên tác (88 câu và 616 chữ), soạn giả Phan Huy Thực
đã khéo léo trong việc sử dụng những tiếng đôi, những từ láy trong tiếng
Việt, tăng sức gợi tả, gợi cảm. Quan trọng hơn nó đã thể hiện được tinh thần
của nguyên tác, lột tả được cái “thần”, cái “nhã” của Tỳ bà hành nguyên gốc
chữ Hán. Cho dẫu còn rất nhiều ý kiến khác nhau chỉ ra những thiếu sót của
bản dịch này nhưng đến hôm nay, nó vẫn chứng tỏ sức sống mãnh liệt của

2. Bài thơ dài đến 88 câu nên chỉ có thể tập trung phân tích đoạn miêu
tả tiếng đàn lần hai của người ca nữ. Tuy vậy, muốn thấy hết cái hay của
đoạn thơ này, cần nắm vững mối quan hệ giữa nó với các phần khác. Lúc đầu
tác giả và người ca nữ hoàn toàn không quen biết nhau, nhờ tiếng đàn làm
môi giới, hai người dần dần hiểu biết, thông cảm với nhau và đến cuối bài
thơ, có thể nói tâm tư của hai con người đã hòa hợp làm một.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-17
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
3. Hãy nêu những thành công của tác giả trong việc miêu tả tiếng đàn
của người ca nữ.
a. Người ca nữ đã đánh đàn 3 lần. Hãy nêu lên sự hợp lí trong việc
phân bố mức độ miêu tả ở mỗi lần. (Lần đầu không thể tả cụ thể vì chỉ thoảng
nghe ở xa. Lần thứ 3 tâm tư hai người đã hòa quyện vào nhau, tác giả không
thể, không nỡ và cũng không cần miêu tả dài dòng.)
b. Tác giả đã dùng những phương pháp nào để miêu tả tài nghệ của
người ca nữ? (Miêu tả hiệu quả, tác dụng của tiếng đàn: miêu tả trực tiếp các
yếu tố của âm nhạc- âm sắc, cường độ, cao độ, trường độ- bằng tỉ dụ, miêu tả
dung nhan, động tác, miêu tả gián tiếp bằng cảnh sắc thiên nhiên)
c. Tác giả đã tập trung miêu tả những thời điểm nào của quá trình diễn
tấu bản nhạc? (Lúc vặn trục lên dây dạo qua đôi ba tiếng, lúc ngắt, lúc đến
cao trào và lúc ngừng hẳn)
d. Tại sao có thể nói 2 câu 17 và 18 là linh hồn của cả đoạn trích? Vì
sao nhà thơ đã nhanh chóng trở thành kẻ “tri âm” của người ca nữ như vậy?
e. Đoạn trích gợi cho ta liên tưởng tới đoạn nào trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du?”[4, 63- 64]
Có thể thấy, trong phần Hướng dẫn đọc bài của người biên soạn nhằm
giúp học sinh và giáo viên có những định hướng trong việc tiếp cận và tìm
hiểu đã đưa ra một hệ thống câu hỏi hết sức chi tiết, chủ yếu tập trung vào
việc lột tả được cái thần thái kỳ diệu của tiếng đàn người kỹ nữ. Sau khi nêu

Phan Huy Vịnh). Trong quá trình trích dẫn văn bản, người biên soạn đã rất
chú ý khi tách riêng thành những khổ 4 câu và đánh số cho câu đầu tiên
trong khổ để học sinh tiện theo dõi tác phẩm có dung lượng khá dài này.
Phần Chú giải gần như giống với SGK năm 1990 đã xuất bản. Không có
thêm từ khó được giải nghĩa, trong số 12 chú giải đã bao gồm một lời tựa
trích dẫn của tác phẩm và thông tin về dịch giả Phan Huy Vịnh. Phần
Hướng dẫn học bài đã cắt bớt những gợi ý quá kỹ càng nhằm vạch hướng
cho học sinh tìm hiểu tác phẩm, câu hỏi đã được biên soạn lại theo hướng
gợi mở nhiều hơn. Như thế, tính tích cực, năng động của học sinh- chủ thể
tiếp nhận đã được chú ý. Sự thay đổi này phản ánh rất sâu sắc sự thay đổi
trong nhận thức và quan điểm của các nhà biên soạn bấy giờ, đồng thời
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-19
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
cũng phản ánh sự thay đổi trong chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng
và Nhà nước ta thời điểm đó. Ai cũng biết, trước khi đến với sự tiếp nhận
của học sinh THPT thì thi phẩm này đã trải qua một sự tiếp nhận có tính
thẩm mỹ chuyên biệt của các soạn giả. Họ đọc tác phẩm với tinh thần trách
nhiệm cao, là loại độc giả “đặc biệt”, có chuyên môn và hiểu thấu đáo, sâu
sắc cái “thần”, cái “nhã” của tác phẩm. Thế nhưng việc “đọc” của họ lại
hướng về những đối tượng đa dạng khác nhau. Không phải giáo viên nào
khi soạn giáo án hay học sinh nào khi soạn bài học ở nhà, thậm chí được
giảng dạy chính trên lớp có thể hiểu sâu sắc Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị
ngay lập tức. Mỗi độc giả lại có một trình độ và nền kiến thức ban đầu
không giống nhau, bởi vậy tầm đón nhận đối với văn bản cũng vì lẽ đó mà
rất khác nhau.
Hiểu được nguyên tắc đó, trong phần Hướng dẫn học bài, các nhà biên
soạn sách đã cố gắng phát huy tối đa tính gợi mở của câu hỏi cũng như qua
đó thúc đẩy sự chủ động trong việc “đọc” của học sinh. Có khá nhiều câu hỏi
được đưa ra xoay quanh tác phẩm cần tìm hiểu, nội dung gần như vẫn giống

nhau trong cảnh ngộ và tâm sự giữa hai người? Vị trí của những lời tự thuật
này trong bài thơ?
5. Có người cho hình tượng người ca nữ chỉ là sự khách quan hóa hình
tượng nhà thơ. Ý kiến đó đúng hay sai? (Dành cho học sinh giỏi)”[5, 74].
Dễ hiểu vì sao với Tỳ bà hành, người biên soạn phải đưa ra một hệ
thống câu hỏi nhiều như vậy và có sự định hướng gợi mở cho sự tiếp cận của
học sinh. Bởi đây là một tác phẩm có số lượng câu chữ khá dài, để hiểu hết ý
nghĩa, cái “thần” cũng như cái “nhã” của tác phẩm Đường thi này không phải
là một công việc dễ dàng đối với học sinh THPT. Người biên soạn đã cố gắng
gợi mở, hướng học sinh đến những cách đọc đa chiều, tìm hiểu tác phẩm từ
nhiều góc độ cũng như để học sinh tranh luận với nhau về những ý kiến trái
chiều đang tồn tại trong giới dịch giả, nghiên cứu phê bình nhằm giúp những
chủ thể tiếp nhận này thêm phần năng động, chủ động chiếm lĩnh tác phẩm.
Qua cách gợi mở “có người cho rằng…” và trả lời lựa chọn “đúng”, “sai”,
học sinh có cơ hội đưa ra ý kiến riêng. Từ đó chính chủ thể tiếp nhận cũng có
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-21
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
sự thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm, hiểu tác phẩm và lĩnh hội nó theo cách
riêng của bản thân mình.
Theo nghiên cứu của Mạnh Thị Minh (sđd), trong chương trình SGK PT
từ năm 1990 (khi Đường thi chính thức được đưa vào giảng dạy) đến 2006,
Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị có tần số được lựa chọn vào chương trình là rất
nhiều, 8 lần. Năm 1990, năm 1993, 1994, 1995, 1997, 2000, 2003 và 2006.
Khi thì thi phẩm được lựa chọn vào giảng chính (1990), lúc lại đưa vào phần
đọc thêm (năm 1993, 1997, ban KHTN), từ sau 1995 lại trả vị trí cho nó về
giảng chính. Sự sàng lọc này chứng tỏ giá trị thầm mỹ của Tỳ bà hành cũng
như chứng tỏ sự phù hợp nội dung của nó với đối tượng tiếp nhận và đáp ứng
mục tiêu giáo dục của chế độ.
Năm 2000, trong bộ SGK Văn học 10 (tập 2, Phần Văn học nước ngoài

với 5 từ, câu khó cần giải thích, trong đó có lời tựa tác phẩm và vấn đề dịch
giả. Hướng dẫn đọc thêm gồm 4 câu, không bao gồm những gợi ý chi tiết cụ
thể định hướng cho học sinh trả lời. Nhìn chung, nội dung của những câu
hỏi này vẫn giống với những câu hỏi SGK trước đó. Như vậy, các nhà biên
soạn vẫn lựa chọn Tỳ bà hành vốn là một tác phẩm tiêu biểu của Đường thi
vào chương trình dù xếp nó vào phần Đọc thêm bắt buộc. Những soạn giả
đã cố gắng đưa ra những thông tin khái quát mà tiêu biểu nhất xoay quanh
tác phẩm. Đọc thêm nhưng là đọc thêm bắt buộc bởi trong ý thức, suy nghĩ
của những nhà biên soạn, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị vẫn là một điểm sáng
cần in dấu trong bầu trời lấp lánh vô vàn ánh sao của Đường thi.
Năm 2006, Tỳ bà hành được tuyển lựa giảng dạy trong chương trình
nâng cao. Có thể bởi dung lượng dài rất khó khăn cho việc cảm nhận trọn vẹn
của học sinh THPT nên trong chương trình học cơ bản, tác phẩm đã không
được đưa vào giảng dạy. Tác phẩm cần có một sự cảm nhận, tiếp nhận ở trình
độ cao hơn, sâu sắc hơn như ở bậc đại học và sau đại học.
Cho đến nay, từ năm 2008, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị không được đưa
vào chương trình SGK PT lớp 10 nữa. Có thể dung lượng tác phẩm quá dài
và việc tiếp nhận trọn vẹn nó không phải là điều đơn giản đối với học sinh
trình độ THPT. Mặt khác, nó cũng thể hiện sự thay đổi trong chủ trương,
chính sách của Nhà nước về Giáo dục, đặc biệt là vấn đề đổi mới SGK đang
rất được quan tâm trong nhà trường cũng như dư luận hiện nay.
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-23
Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu tiếp nhận vấn đề đọc thơ Đường ở Việt Nam
Như vậy, Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị ngay từ ban đầu được lựa chọn
vào chương trình học PTTH đã được vào giảng dạy chính thức. Điều đó cho
thấy rất rõ những thành công xuất sắc về nội dung cũng như nghệ thuật tài
ba của thi phẩm này. Năm 1993 và 1997, tác phẩm đưa vào phần Đọc thêm
trong sách phân ban KHTN có lẽ nhằm tránh sự quá tải cho chuyên ban này.
Từ 1995 trở đi, tác phẩm lại tiếp tục được lựa chọn vào giảng chính trong

thì còn rất nhiều những sách văn mẫu, sách phân tích bình giảng, tủ sách
trong nhà trường nhằm giúp học sinh trong việc cảm nhận sâu sắc hơn các tác
phẩm trong chương trình. Biên soạn những quyển sách tham khảo này hầu
hết vẫn là những cái tên quen thuộc đã từng tham gia biên soạn SGK PT. Bởi
vậy mà, tìm đọc những phân tích, bình giảng của họ cũng là một cách để
chúng ta thấy được cách “đọc” của những người biên soạn sách cũng như họ
định hướng cách “đọc” cho vô vàn những độc giả khác nhau trong cuộc sống
nói chung và nhà trường nói riêng.
Có lẽ bởi Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị có dung lượng khá dài, lại là một
thi phẩm tuyệt vời của Bạch Cư Dị- một trong ba đỉnh cao của thơ Đường
nên việc tìm hiểu, phân tích nó trong nhà trường còn nhiều khó khăn, hạn
chế. Chính vì vậy mà trong nhiều sách tham khảo, các bài phân tích, bình
giảng Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị không phải là hiếm. Rất nhiều cuốn sách
phân tích theo các tác phẩm được giảng dạy trong chương trình PTTH.
Năm 1995, Hồ Sĩ Hiệp biên soạn cuốn Thơ Đường ở trường PT (NXB
Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh), trong đó có phân chia hẳn chương trình
PTCS và chương trình PTTH. Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị cũng là một
trong số những tác phẩm được phân tích. Có thể coi đây cũng là một bài
giảng dạy, định hướng cho học sinh trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. Tác
giả có trích phần dịch thơ (đánh số theo đầu mỗi khổ chi tách) do Phan
Huy Vịnh dịch và đi vào phân tích nôi dung cũng như nghệ thuật của tác
phẩm. Vì là tài liệu tham khảo cho học sinh PTTH nên cách phân tích cũng
hết sức bài bản, bao quát cả nội dung và nghệ thuật tác phẩm này. Về nội
dung, tác giả làm rõ hai ý lớn: tiếng kêu than của một người phụ nữ kỹ nữ
bị giày vò khổ đau về vật chất và tinh thần trong xã hội phong kiến Trung
Quốc; lời tố cáo của một kẻ tài hoa bị chà đạp. Trong quá trình phân tích
nội dung, người viết đã chia đoạn hết sức tỉ mỉ, đoạn I: từ câu 1 đến câu 14
Lê Thị Tuyết Mai - Lớp Văn K50 CLC - Khoa Văn học - Trường ĐH KHXH&NV HN
-25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status