VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THẢO
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU
(QUA TRUYỆN NGẮN VÀ KÝ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Đỗ Hải Ninh
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào. Tôi
xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình.
TÊN TÁC GIẢ
PHẠM THỊ THẢO
MỤC LỤC
nhất là sau 1986 được nghiên cứu khá nhiều với ý nghĩa là văn học thời
k ỳ đổi mới . Người ta gọi văn học Việt Nam sau 1986 là giai đoạn “văn học
trong thời kì đổi mới”, “văn học đổi mới”. Và để làm nổi bật sự đổi mới đó, bên
cạnh việc nghiên cứu tổng quát về những đặc điểm văn học, thành tựu văn học,
thì việc tìm hiểu phong cách của từng nhà văn sẽ góp phàn nhận diện bức tranh
trong thể đa sắc của văn học thời kỳ đổi mới.
Nguyễn Quang Thiều không chỉ là một trong những nhà thơ cách tân hàng
đầu trong đổi mới mà còn là cây bút văn xuôi giàu cảm xúc. Ông là một gương mặt
nổi bật trong nền văn học Việt Nam đương đại, thành công ở nhiều loại hình nghệ
thuật như: Thơ, truyện ngắn, kí, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi, dịch thuật, tiểu luận và
tản văn. Hiện nay, ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập văn xuôi, 3 tập sách dịch. Nói
đến Nguyễn Quang Thiều người ta vẫn thường nói nhiều đến thơ của ông mà chưa
chú ý đúng mức đến các sáng tác văn xuôi. Không được chú ý nhiều như thơ nhưng
văn xuôi Nguyễn Quang Thiều có nhiều nét đặc sắc và có phong cách riêng, tiêu
biểu cho lối viết văn đậm chất trữ tình, tạo được những dấu ấn sâu sắc trong lòng
bạn đọc và giành được nhiều giải thưởng có uy tín. Một số truyện ngắn của Nguyễn
Quang Thiều đã được chuyển thể thành phim và gây được hiệu ứng rộng rãi đối với
công chúng như: Người đàn bà tóc trắng, Mùa hoa cải ven sông, Hai người đàn bà
xóm Trại. Và không chỉ tạo được sự chú ý của độc giả ở Việt Nam, một số truyện
của ông còn được dịch và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Pháp,
Nauy,Nhật, Thụy Điển, Australia, Thái Lan, Inđônêxia... Hai tập truyện ngắn của
1
nhà văn đã được dịch và xuất bản tại Pháp: La Fille Du Fleuve (1997), La Petite
Marchande De Vermaicelles (1998).
Có thể thấy văn xuôi Nguyễn Quang Thiều thể hiện rất rõ ý thức tìm tòi, đổi
mới về mặt thể loại với một phong cách riêng đậm chất trữ tình. Chọn đề tài Đặc
điểm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký, luận văn muốn tìm
xuôi hiện đại, làm cho bức tranh truyện ngắn thêm khởi sắc”...
Tác giả Trần Thị Trường trong bài Nguyễn Quang Thiều: Kẻ đa tài in trên
báo Vietnamnet.vn (26 - 12 - 2015) cũng nhận định: “ Văn xuôi của Thiều kích
thích các nhà sản xuất điện ảnh”.
Trên báo Văn nghệ số 17 +18 (24 - 8 - 2012), trong bài: Hộp đen Nguyễn Quang Thiều tác giả Thiên Sơn cũng nhấn mạnh đến những đặc sắc
nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều: “Truyện ngắn của Nguyễn
Quang Thiều hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu
kỳ ảo, chiều sâu nhân văn và triết lý. Anh thường tạo ra những chi tiết đầy bất
ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết”.
N hà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu trong bài Những thành tựu của truyện
ngắn sau 1975 (TCVH số 9, 1996), cũng khẳng định “Nguyễn Quang Thiều
cùng với nhiều nhà văn khác như Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Quang Thân,
Nguyễn Thị Thu Huệ… đã tạo nên một diện mạo mới cho truyện ngắn thời kì
đổi mới”
Đặc biệt, trong lời giới thiệu Cùng bạn đọc đầu tuyển tập Truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều - Người nhìn thấy trăng thật, tác giả Nguyễn Chí Hoan
khẳng định: “Truyện của anh giàu chất thơ, hơi thở huyền tích, thấm đẫm nhân
văn, lại không lạm dụng kỹ thuật nên đi vào tâm hồn thật tự nhiên, thật đầy đặn”
[56,6].
Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu và tìm
hiểu những khía cạnh khác nhau trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều như:
Trương Thị Thường (2006) với đề tài Chất thơ trong truyện ngắn của Nguyễn
Quang Thiều, Nguyễn Thị Liên (2007) với đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều, Trịnh Thị Thảo (2010) với đề tài Cấu trúc truyện ngắn của
Nguyễn Quang Thiều, Tăng Thị Hoàn (2012) với đề tài Truyện ngắn Nguyễn
Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại...
Nhìn chung, các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu đều cho thấy vị trí
của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong văn học đương đại, đồng thời chú ý
nhiều đến những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn và ký của ông.
2.2. Các bài phê bình về các tập truyện, ký của Nguyễn Quang Thiều
mảng ghép hài hòa một cách lạ lùng giữa truyền thống và hiện đại…” (Alexia
Lorca - Lire) [32]. Hay: “Thế mạnh của nhà văn trẻ Việt Nam này (Nguyễn
Quang Thiều) tập trung trong sự giản dị nhưng đẹp ngời ngợi của câu chữ và vấn
đề được đặt ra! Đẹp và thống thiết!” (Jean-Luc Douin - Le Monde) [32]. Và:
4
“Với phong cách viết nhẹ nhàng, trong sáng chảy xuyên yên ả như sông Đáy chở
ta đi giữa dòng yêu thương, tươi mát và tràn đầy xúc cảm, tác giả tìm kiếm một
nơi ẩn ngụ thanh bình. Nhưng tôi không thể cưỡng lại được ý nghĩ rằng sự yên
tĩnh này chỉ là mặt sau của một cuộc sống đầy chấn động mà tác giả đã thấm
trải suốt một thời thơ ấu trong cuộc chiến tranh thảm khốc của Việt Nam giành tự
do và độc lập. Vẻ thanh bình, giản dị và tươi mát kia chỉ là một phần hiển hiện từ
một tảng băng giấu che những vết thương chưa lành hẳn, những kỷ niệm nặng
nề, những nỗi đau còn sót lại của một cuộc chiến. Nhưng, như con phượng
hoàng, dân tộc Việt Nam hôm nay đang gắng làm sống lại từ tro bụi một kỷ
nguyên mới thanh bình”. (Denis Billaboz) [32]. Điều này cho thấy tác phẩm của
Nguyễn Quang Thiều không chỉ tạo được ấn tượng với độc giả trong nước mà còn
tạo được dấu ấn với độc giả nước ngoài.
Với thể loại tiểu luận và ký của Nguyễn Quang Thiều, hiện chưa có nhiều
công trình nghiên cứu, bài viết quan tâm, đề cập đến. Về tập Có một kẻ rời bỏ
thành phố, trong bài: Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời đổi
mới, tác giả Đặng Thái Hà đã nhận định: “ Tập truyện là cách nhà văn trực tiếp
nêu lên một tư thế, một thái độ sống, hay, có thể nói, một phản ứng khá quyết liệt
trước cuộc sống nhiễu nhương xô bồ tù ngục nơi đô thị phồn hoa”.
Nhân dịp ra mắt tập ký Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng
cũng có một số ý kiến đánh giá về tập ký này. PGS TS, Nhà phê bình văn học
Nguyễn Đăng Điệp khi đọc “Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng”
đã đúc kết ra rằng: “Khi đọc sách, tôi nghĩ về giấc mộng, không nghĩ về Nguyên
bình đi trước, với đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những đặc điểm nổi bật
trong phong cách văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ tình hình nghiên cứu đã nêu trên, trong điều kiện tư liệu và khả năng
cho phép, chúng tôi xác định mục đích của đề tài là: Tìm hiểu những đặc điểm cụ
thể về nội dung và nghệ thuật ở những tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn và ký
của Nguyễn Quang Thiều. Từ đó thấy được ý thức cách tân thể loại và những
thành công của cây bút này trong lĩnh vực văn xuôi, qua đó góp một tiếng nói
khách quan trong việc đánh giá vai trò, vị trí của Nguyễn Quang Thiều trong nền
6
văn chương đương đại.
Đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ có ý nghĩa như một tư liệu
tham khảo để những độc giả quan tâm đến sự nghiệp văn học của Nguyễn Quang
Thiều có thể sử dụng để hiểu rõ hơn những nét đặc sắc trong mảng sáng tác văn
xuôi của Nguyễn Quang Thiều.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý thuyết và lịch sử văn học thời kỳ đổi mới, luận
văn đặt ra mục tiêu: Nghiên cứu các phương diện nội dung và nghệ thuật trong
các sáng tác văn xuôi của nhà văn Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu đặc điểm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua
truyện ngắn và ký cụ thể trên các phương diện nội dung và nghệ thuật. Sự nghiệp văn
xuôi của Nguyễn Quang Thiều khá phong phú nhưng trong phạm vi đề tài này chúng
tôi chỉ chọn khảo sát truyện ngắn và ký là hai mảng văn xuôi ấn tượng hơn của
Nguyễn Quang Thiều và mang nhiều dấu ấn với tư duy nghệ thuật thơ của tác giả.
Quang Thiều với tư cách là nhà thơ cách tân hàng đầu của văn học Đổi mới, với
việc tìm hiểu văn xuôi của nhà văn, đề tài sẽ góp phần nhận diện tác giả Nguyễn
Quan Thiều trong toàn bộ hành trình sáng tạo và phong phú của ông.
- Từ việc tìm hiểu nhận diện đặc điểm văn xuôi của trường hợp là Nguyễn
Quang Thiều sẽ góp phần lý giải những xu hướng của văn xuôi đương đại nói
chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục,
phần trọng tâm là Nội dung chính gồm ba chương.
Chương 1. Quá trình sáng tác và vị trí của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong
dòng mạch văn xuôi trữ tình thời kỳ đổi mới
Chương 2. Cảm quan về đời sống trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều
Chương 3. Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu của văn xuôi Nguyễn
Quang Thiều
8
CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG
THIỀU TRONG DÒNG MẠCH VĂN XUÔI TRỮ TÌNH THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
1.1.1. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều và quá trình sáng tác
Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13 tháng 02 năm 1957 tại làng Chùa ven
sông bờ Đáy thuộc xã Sơn Công – Huyện Ứng Hòa – Tỉnh Hà Tây cũ (Nay thuộc
Hà Nội). Hiện giờ ông sống ở Hà Đông – Hà Nội. Nguyễn Quang Thiều xuất thân
trong một gia đình viên chức, thủa nhỏ sống ở quê. Chính những ký ức về làng quê
nghèo, nơi có dòng sông Đáy hiền hòa thơ mộng gắn liền với những huyền thoại, lễ
nghi, với những hủ tục, lề thói của người làng quê và cả nhữn con người nồng hậu,
chân chất... đã trở thành ngồn cảm hứng sáng tạo vô tận, là điểm tựa tinh thần để
Bên cạnh đó, Nguyễn Quang Thiều còn là người nghệ sĩ có tâm hồn Á
Đông đa cảm, mơ mộng, nhân hậu và đẹp đẽ kết hợp với óc phân tích sắc sảo
của phương Tây. Có được điều đó là do ông đã từng có thời gian học tập ở nước
ngoài, vốn ngôn ngữ thông thạo giúp ông có cơ hội tiếp xúc với văn hóa, văn
học nhiều nước trên thế giới. Vốn sống phong phú, học vấn uyên thâm, giao lưu
văn hóa rộng, bản lĩnh sáng tạo của người nghệ sĩ giúp Nguyễn Quang Thiều tìm
đến một hướng cách tân truyện ngắn đáng chú ý.
Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều là một người nghệ sĩ đa tài, ở ông có sự
tổng hòa các lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, kịch, họa. Những năm qua trên báo chí
đã xuất hiện khoảng trên 300 bài ký, phóng sự, nghị luận, tản văn của Nguyễn
Quang Thiều. Ngoài ra ông còn viết nhiều kịch bản phim, vẽ tranh và tiểu
thuyết, truyện ngắn… Cho đến nay, ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập tiểu
thuyết và truyện ngắn, 10 cuốn sách dịch, sách thiếu nhi và hơn 300 bút ký,
tiểu luận, phê bình, tản văn. Ngoài giải thưởng hội nhà văn Việt Nam 1993 cho
tập thơ Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Quang Thiều còn dành được rất nhiều giải
thưởng văn học trong nước ở mọi thể loại: thơ, kịch bản phim, truyện ngắn,
sách thiếu nhi. Truyện ngắn Mùa hoa cải ven sông đã được dựng thành phim Lời
nguyền của dòng sông do Khái Hưng làm đạo diễn, từng đạt giải Vàng Liên hoan
phim truyền hình quốc tế tại Bỉ năm 1993. Truyện ngắn Hai người đàn bà xóm
Trại được giải tạp chí Văn nghệ quân đội năm (1993 - 1994) sau được chuyển
thể thành phim truyền hình Thời gian của dòng sông. Lúc đương thời cả hai bộ
phim được chuyển thể từ hai truyện ngắn này đều gây được tiếng vang trong
10
dư luận và công chúng. Ngoài ra có thể kể đến những tập truyện ngắn khác của
Nguyễn Quang Thiều như: Người đàn bà tóc trắng (1996), Đứa con của hai dòng
họ (1997), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1998), Người cha (truyện thiếu
nhi) (1998), Người nhìn thấy trăng thật (2003). Năm 2012, ông xuất bản một
bi kịch thời hậu chiến, bi kịch của những người lính sau chiến tranh, bi kịch của
những người phụ nữ... Viết về con người, nhà văn quan tâm đến số phận của cá
nhân. Nổi bật lên trong đó là những chuyện đời tư, những số phận riêng, những
bi kịch của con người, những mâu thuẫn trong đời sống tình cảm con người. Nhà
văn xoáy sâu vào những sự thật nghiệt ngã, những tình cảnh trớ trêu, phũ phàng
của cuộc đời, dù là trong chiến tranh hay trong cuộc sống thường nhật, để từ đó
khắc họa nên những số phận khác nhau của con người.
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều thường không có độ dày về sự
kiện, nhân vật, mà chỉ là một lát cắt, có khi rất nhỏ về cuộc đời. Trong các sáng
tác của mình, Nguyễn Quang Thiều có khả năng trong việc tạo nên độ sâu của
suy nghĩ, sự lắng đọng của cảm xúc. Các tác phẩm truyện ngắn của ông thường
không có những kịch tính, những cao trào do cốt truyện thường giản dị, được xây
dựng từ những chất liệu đời thường nhưng luôn được điểm vào đó những mạch
cảm xúc, suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật làm cho câu chuyện trở nên sâu
lắng. Với thể loại truyện ngắn, cách viết của nhà văn không quá cách tân (như
trong thơ) mà thiên về cốt truyện tâm lý, đậm chất chữ tình. Yếu tố trữ tình trong
văn xuôi của ông đã góp phần tạo nên những trang văn giàu chất thơ đan xen với
nội dung phản ánh hiện thực, tạo được ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc. Đúng
như nhận định của PGS.TS. Đinh Trí Dũng trong bài Mạch trữ tình trong truyện
ngắn thế hệ nhà văn sau 1975: “ Người đọc cũng khó quên một mùa hoa cải bên
sông, một làng Chùa với những bến sông, cổng làng, bờ đê, ruộng lúa... trong
truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều”.
Đối với thể loại tản văn, Nguyễn Quang Thiều cũng chọn cho mình một lối
viết riêng. Đề tài trong tản văn của ông là những câu chuyện đời thường, chuyện
hàng ngày được viết lại từ những điều tai nghe mắt thấy và từ kí ức của chính
nhà văn. Đó là những chuyện kí ức về tuổi thơ, về quê hương và những người
bạn của nhà văn. Có chuyện có thật, nhưng cũng có chuyện được bịa như thật.
Nội dung trong tản văn được truyền tải bằng giọng văn triết lý, chiêm nghiệm.
12
rõ nét quan niệm của ông về nghệ thuật, về văn chương, cái đẹp, tình yêu, nỗi
tuyệt vọng, niềm hy vọng, sự sống, cái chết, nỗi ám ảnh, sự hối hận…tất cả trở
13
thành khát vọng sáng tạo in dấu trong các sáng tác của ông. Trong đó, vấn đề
có tính khái quát trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều chính là nỗi yêu
thương thống thiết đối với cái đẹp bị lâm nguy. Bởi lẽ, trong cuộc sống đô thị
hóa, đồng hành với cuộc sống hiện đại cũng là sự suy tàn của môi trường thiên
nhiên, bên cạnh đó là nỗi lo âu về sự xuống cấp đạo đức, sự đánh mất những giá
trị tinh thần cao quý của con người.
Nói về quan niệm thi ca Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Quan
điểm thơ ca của tôi là làm sống lại những cái đã chết và làm mới lại những
cái đã cũ. Tôi không xây dựng lên một thế giới mới mà tôi chỉ làm sống lại tất cả
những vẻ đẹp của đời sống này” [60, tr. 31]. Với ông, sứ mệnh của nhà thơ là:
“Phải mang đến những tiếng khèn mới, những giai điệu mới đầy sức sống” và
“ Khai mở - là sứ mệnh lớn nhất của nhà thơ”. Đây có thể được coi là tuyên
ngôn nghệ thuật của nhà thơ, nó cho người đọc thấy được vai trò cũng như
nhiệm vụ quan trọng của người nghệ sĩ đó là phải mang đến cái mới cho thi ca
nói riêng và cho nghệ thuật nói chung. Điều này còn được Nguyễn Quang
Thiều phát biểu trực tiếp trong tản văn Những con chim đập cánh vào ô cửa:
“Trong cuộc đời, mỗi chúng ta ít nhất có một lần sững sờ trước một khung cảnh,
một đồ vật hay một con người mà chúng ta từng gặp trước đó nhưng chúng ta lại
không hề để ý. Nhưng đến một ngày, một nhà văn hay một họa sỹ cho chúng ta
đọc hay nhìn những tác phẩm của họ viết và vẽ những cảnh vật hay những con
người mà chúng ta từng biết đến, chúng ta bỗng rung động lạ kỳ (…). Sự sáng
tạo của nhà văn hay họa sỹ đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn mới với
những gì đã quá quen thuộc và trở thành sáo mòn trong cảm xúc chúng ta”[62,
tr. 161]. Như vậy, theo ông, thế giới này vốn đã tồn tại như vậy, không có
đẹp của sự tưởng tượng, thức nhận về cuộc sống.
Với Nguyễn Quang Thiều, vẻ đẹp, sự kỳ diệu nằm ở những điều bình dị
nhất. Khát khao đi tìm cái đẹp, bám lấy cuộc sống, tìm kiếm vẻ đẹp diệu kỳ
trong những gì thân thuộc nhất. Cái đẹp có khi nằm ở một trạng thái giản dị
nhất hay ở một chuyển động thô sơ nhất. Với ông thiên đường không phải là
cái gì cao siêu, huyền bí mà là một đời sống tinh thần kỳ diệu ở ngay thế gian
này... Đó có thể chỉ là một chiều chân trần trên cánh đồng rực vàng của lúa chín
với cõi lòng thanh sạch vô cùng, được đắm chìm trong hương lúa. Từ những
con đường đất đỏ với bước chân trần mẹ đi về sau mỗi chiều vất vả đến
những mái ngói, bờ tre của những thôn quê nghèo khó... Có thể là một đêm
15
khuya tĩnh lặng được ngồi ngắm trăng hay một buổi chiều ngồi trên triền đê
ngắm hoa tầm xuân. Khi chúng ta nhận biết được vẻ đẹp của thiên nhiên và
sự sống thì nghĩa là chúng ta biết được thiên đường.
Với người nghệ sĩ, để tạo ra được một tác phẩm lớn thì cần phải có sự sáng
tạo, có tình yêu đối với cuộc sống, có trách nhiệm với bản thân và đồng loại. Vì
vậy, Nguyễn Quang Thiều cũng từng nói: Chính đời sống không trung thực, một
đời sống thiếu sự sáng tạo, thiếu cảm hứng, thiếu trách nhiệm với bản thân và
đồng loại sẽ vô cùng khó khăn để sinh ra những tác phẩm lớn. “Không thể nào
trên một mảnh đất hoang hóa, khô cằn lại có thể sinh ra những mùa màng trù
phú” (Trần Thị Trường: Nguyễn Quang Thiều: Kẻ đa tài). Tranh bàn thế nào là
tác phẩm lớn, nhà văn cho rằng: “Đó là một tác phẩm khi người ta đọc xong,
người đọc thay đổi. Tác phẩm mang đến cho người đọc một thế giới mới hơn,
rộng lớn và sâu sắc hơn. Trong một khía cạnh nào đó, con người đó đã được khai
sáng, và họ thầm cúi đầu tôn kính cuốn sách ấy”.
Không chỉ nêu ra quan niệm của mình về thơ ca, về văn chương, nhà văn
cũng đã bày tỏ rõ quan niệm của mình về vẻ đẹp của con người mà đặc biệt là
nhà thơ là: Sự sống bất diệt, sự sống mang vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp hoàn hảo của
thế gian. Đó cũng là cảm hứng thống nhất làm nổi bật khát vọng sáng tạo
không chỉ trong thơ mà còn xuyên suốt trong các sáng tác văn xuôi của
Nguyễn Quang Thiều.
Với một quá trình sáng tác không ngừng nghỉ, từ thơ ca, báo chí, kịch
bản, hội họa đến văn xuôi, với khao khát sáng tạo, chủ động đổi mới Nguyễn
Quang Thiều đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Xuất phát từ quan
niệm như một tuyên ngôn trong văn chương: “làm mới lại những gì đã cũ,
làm sống lại những gì đã chết”, Nguyễn Quang Thiều đã đem đến những
cách tân nghệ thuật đáng chú ý cho văn học nước nhà. Có thể khẳng định
rằng cùng với một đội ngũ nhà văn hùng hậu thời kì đổi mới, Nguyễn Quang
Thiều với những truyện ngắn và ký của mình đã góp phần làm mới thể loại văn
xuôi đương đại đồng thời đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của thời đại và công chúng.
1.2. Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình thời kỳ
đổi mới
1.2.1. Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình
Trong đời sống phức tạp, sôi động và sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi
Việt Nam đương đại có một dòng chảy lặng thầm, nhỏ nhẹ. Dòng chảy này đã
17
nhanh chóng trở thành một xu hướng sáng tạo mang vẻ đẹp riêng với tính chất độc
đáo, đặc sắc của văn xuôi đổi mới đó chính là văn xuôi trữ tình. Văn xuôi trữ tình
sau đổi mới đã góp một tiếng nói riêng để tạo nên những thành tựu chung của văn
học thời kỳ này trong đó phải kể đến đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang Thiều.
Nói tới yếu tố trữ tình là nói tới tính thơ, chất thơ trong thi ca. Theo Giáo
trình lý luận văn học tập 2 (Tác phẩm và thể loại văn học) của Trần Đình Sử chủ
biên thì trữ tình được xác định là một trong những phương thức nhằm tạo dựng hình
tượng trong văn bản văn học cùng với các phương thức khác như: Trần thuật, miêu
sau chiến tranh, sự vật lộn trong cuộc sống mới theo cơ chế thị trường... tất cả đều
được đưa vào các trang viết một cách sinh động. Song bên cạnh những nội dung đó,
trong văn xuôi sau 1975 vẫn tồn tại một mạch truyện ngắn theo phong cách trữ tình
của nhiều cây bút tiêu biểu là Nguyễn Quang Thiều, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc
Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương, Đỗ Bích Thúy... Đọc những truyện ngắn
của họ, người đọc bắt gặp một mạch ngầm da diết như tiếp nối dòng mạch trữ tình
sâu thẳm của văn chương truyền thống.
Như vậy, có thể thấy, cùng với nhiều nhà văn thế hệ sau 1975, nhà văn
Nguyễn Quang Thiều đã có sự tiếp nối dòng mạch trữ tình của văn chương truyền
thống. Chất trữ tình thấm đẫm trên các trang văn của ông ngay từ nhan đề của tác
phẩm: Chiều hoa tầm xuân, Giấc mơ hoa cỏ trắng, Khúc hát của dòng sông, Người
nhìn thấy trăng thật... Và dù viết về đề tài nào thì đọc truyện ngắn của ông người
đọc luôn thấy phảng phất âm hưởng cổ tích giữa đời thường và có sự hòa trộn cái
thực và cái ảo. Mùa hoa cải ven sông, Tiếng gọi cuối mùa đông, Ngựa trắng...vừa là
những câu chuyện của hiện tại nhưng cũng là những câu chuyện tình thi vị, lãng
mạn. Trong những tác phẩm đó, nhà văn đã khắc họa những diễn biến nội tâm của
nhân vật với sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và ảo làm cho cốt
truyện đôi khi bị mờ hóa nhiều lúc chỉ là dòng tâm trạng chắp nối như: Chiều hoa
tầm xuân, Hương khúc nếp cuối cùng... Đọc những trang văn của Nguyễn Quang
Thiều người đọc sẽ khó có thể quên hình ảnh một làng Chùa với những bến sông,
bờ đê, ruộng lúa, những đêm trăng và một mùa hoa cải nở vàng trên bến sông.
1.2.2. Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong bối cảnh đổi mới
Năm 1986 là một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
cũng như văn hóa của nước ta. Đối với văn học, năm 1986 là năm văn học chính
thức bước vào giai đoạn đổi mới một cách toàn diện. Đây là giai đoạn bừng nở và
phát triển mạnh mẽ của văn xuôi. Nhiều cây bút đã lựa chọn các thể loại văn xuôi
19
20
những mảnh đời, số phận. Trong khả năng ấy, quan niệm nghệ thuật về con người
chẳng những được sâu sắc, đa dạng và phong phú hơn mà còn khẳng định được thành
tựu từng bước trong quá trình phát triển của nó. Các nhà văn Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Lê Lựu,
Thái Bá Lợi,… đã không ngừng nỗ lực mở rộng những chiều kích về tâm hồn, đạo
đức, lối sống, đào sâu con người ở bản thể nhà văn trên cơ sở sở trường của mình, để
từ đó có sự nhìn nhận, lý giải riêng về con người hôm nay.
Văn xuôi sau 1975 đặc biệt quan tâm đến con người cá nhân, xây dựng
được khá nhiều kiểu loại nhân vật, vốn chưa từng có hoặc ít thấy trong giai đoạn
trước như: nhân vật cô đơn, con người bi kịch, con người lạc thời, nhân vật tư
tưởng, nhân vật kì ảo,… Các nhân vật tồn tại như một nhân cách, một tính cách
riêng biệt chứ không còn là một ý niệm. Và nó đã trở thành đối tượng thẩm mỹ
quan trọng của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Cùng với sự đổi mới về đề tài, chủ đề, là sự cách tân vượt bậc về nghệ thuật.
Cần phải ghi nhận một số xu hướng nghệ thuật nổi bật trong văn xuôi sau 1975 là
sự đa dạng hóa về thi pháp thể loại, điểm nhìn trần thuật, phương thức tiếp cận,
ngôn ngữ, giọng điệu,… Với sự thay đổi điểm nhìn trần thuật theo từng kiểu loại
nhân vật, từng vị trí khác nhau, hoặc nhà văn có thể là người kể chuyện hoặc hóa
thân vào nhân vật trong tác phẩm, mà nhờ đó văn xuôi mang tính thông tin cao,
phản ánh và lý giải được các chiều sâu, rộng của cuộc sống. Nghệ thuật độc thoại
nội tâm, dòng ý thức và nghệ thuật đồng hiện đã mở ra cho nhà văn những hướng
tiếp cận khác nhau. Có thể kể đến các tác phẩm như Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai,
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thời xa vắng của Lê Lựu, Phiên chợ Giát của
Nguyễn Minh Châu, Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của
Y Ban. Đặc biệt là sự cách tân về giọng điệu và ngôn ngữ. Có thể tìm thấy những
giọng điệu chủ âm trong văn học giai đoạn này là: giọng hài hước, hóm hỉnh;
đầu tìm thấy ý nghĩa và sự cần thiết của thể loại này như một nhu cầu được lắng
lòng giữa những bộn bề cuộc sống. Và thực tế cho thấy thể loại này đã gặt hái
được nhiều thành tựu đáng kể, làm nên một vị trí riêng khá đặc biệt trong bối cảnh
đổi mới văn học giai đoạn sau 1975. Đặc biệt là trong vòng mươi, mười lăm năm
trở lại đây, nhiều tác phẩm tản ký ra đời đã góp phần làm nên sự thành danh cho
nhiều nhà văn. Tuy lực lượng sáng tác không đông đảo, và cũng không có
những nhà văn viết riêng cho thể loại này, song đây vẫn là thể loại có sức hấp dẫn
22