Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

NGÔ THỊ QUỲNH OANH ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2013Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

2
MỤC LỤC
Mục lục 1
Mở đầu 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3. Lịch sử vấn đề 7
4. Phương pháp nghiên cứu 12
5. Cấu trúc luận văn 13
Chương 1: Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư trong đời sống văn học Việt Nam
đương đại. 14
1.1. Khái quát văn học Việt Nam đương đại 14
1.1.1. Đội ngũ sáng tác 14
1.1.2. Những thay đổi tư duy 14
1.1.3 Vị trí của truyện ngắn, tạp văn, tản văn 16
1.1.4. Đặc điểm văn xuôi Nam Bộ 20
1.2.“Hiện tượng” Nguyễn Ngọc Tư 24
1.2.1. Vài nét về cuộc đời nhà văn 24
1.2.2. Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư 27
1.2.3. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 31
Chương 2: Hiện thực nông thôn Nam Bộ và các kiểu nhân vật tiêu biểu
Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

4
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1. 1.Từ năm 1975, đất nước bước sang một giai đoạn mới. Văn học cũng
chuyển mình trong tư thế dò tìm những phương thức thể hiện tốt nhất để kịp
phản ánh đời sống xã hội đa dạng trước yêu cầu mới của thời đại. Do vậy mà
các thể loại văn học có sự vận động và phát triển. Văn xuôi đã có những khởi
sắc và những tín hiệu mới: truyện ngắn, tạp văn, tản văn đang ngày càng được
chú ý và là những thể loại phát triển mạnh của văn học đương đại.
1.2. Là một thể loại tự sự, truyện ngắn có những đặc trưng riêng về tính
chất, về dung lượng so với các thể loại khác. Với hình thức ngắn gọn, cơ
động, truyện ngắn phù hợp việc đáp ứng nhu cầu của độc giả trong thời đại
công nghiệp. Gần như nhà văn nào cũng ít nhiều thử mình qua truyện ngắn.
Truyện ngắn đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của công chúng
Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn văn học đương đại. Trong truyện ngắn
Việt Nam, truyện ngắn của các nhà văn nữ là một bộ phận rất đáng chú ý. Có
thể nói, trong văn học đương đại, các nhà văn nữ có phần lấn át nam giới trên
phương diện truyện ngắn. Tiếp nhận cái mới nhanh nhạy, táo bạo trong cách
viết, không ngừng đi về phía trước, nhiều nhà văn nữ đã làm nên sự kiện:
Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh trong
đó, “hiện tượng” Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn, tạp văn, tản văn có lẽ
được độc giả đón nhận nhiệt tình nhất, gây được nhiều dư âm trong lòng độc
giả bởi giọng văn nhẹ nhàng, dung dị, “bình dân” với ngôn ngữ không cầu kì,
kiểu cách.
1.3. Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ Nam Bộ đang trên đường định
hình phong cách sáng tác. Những năm gần đây chị đã gặt hái được nhiều

một công trình nghiên cứu nào về đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư trên cơ
sở khái quát, hệ thống hóa nội dung, nghệ thuật cũng như phong cách văn
xuôi của chị, nếu có chỉ là những bài viết nhận xét đơn lẻ ở một khía cạnh của
một tác phẩm cụ thể. Vì vậy dẫu biết con đường sáng tác phía trước của chị Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

6
còn rất dài, nhưng chúng tôi cũng mạnh dạn căn cứ vào những tác phẩm đã
xuất bản thời gian qua, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn, tạp văn và tản văn
để nghiên cứu, xem như bước đầu khảo sát về đặc điểm văn xuôi Nguyễn
Ngọc Tư. Với đề tài “Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư”, chúng tôi
muốn tìm hiểu một số đặc điểm tiêu biểu về nội dung, nghệ thuật, về văn hóa
nông thôn Nam Bộ và ngôn ngữ Nam Bộ trong hành trình sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu khảo sát và nghiên cứu thể loại truyện ngắn, tạp văn và
tản văn - ba thể loại đóng vai trò khẳng định phong cách, tên tuổi của Nguyễn
Ngọc Tư.
* Luận văn tập trung khảo sát 3 tập truyện ngắn, 2 cuốn tạp văn, 1 cuốn
tản văn:
1- Cánh đồng bất tận (Tập truyện, NXB Trẻ - 2008)
2- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện, NXB Trẻ - 2008)
3- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, NXB Thời đại - 2010)
4- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Trẻ - 2006)
5- Ngày mai của những ngày mai (NXB Phụ Nữ - 2007).
6- Yêu người ngóng núi (NXB Trẻ - 2011)
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát một số truyện ngắn đăng trên web, hay

quan điểm đạo đức và hệ thống nhân vật được phản ánh trong văn xuôi
Nguyễn Ngọc Tư.
Thể loại truyện ngắn - là một hướng sáng tác chủ lực, và mở đầu cho
những thành công của Nguyễn Ngọc Tư. Vì thế, ở thể loại truyện ngắn đã có
rất nhiều độc giả, nhà văn, nhà nghiên cứu đánh giá, phê bình về phong cách
văn chương cũng như những đặc sắc nghệ thuật của chị chủ yếu trên các báo,
tạp chí, trang web… Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

8
Thành công khởi nghiệp của Nguyễn Ngọc Tư là tác phẩm Ngọn đèn
không tắt. Tác phẩm ngay lập tức chiếm được cảm tình của đông đảo độc giả
và lần đầu tiên đạt giải 3 báo chí trong năm 1997.
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên có bài viết Truyện ngắn và cuộc sống hôm
nay, đăng trên tạp chí văn học số 2 đã nhận xét chính cách kể chuyện chân
tình của Nguyễn Ngọc Tư đã đem đến thành công cho Ngọn đèn không tắt.
Nhà văn Nguyên Ngọc có bài viết Còn rất nhiều người cầm bút có tư cách –
Chuyên đề: Tiểu thuyết đăng ở đâu đăng trên trang web
(02/01/2005) đã nhận định:“Mấy năm nay chúng ta
đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa
rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn
học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc
biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các
tác giả Nam Bộ đi trước”.
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư hàm chứa một nghịch lý: đề tài sáng
tác của chị không mới (chỉ là những câu chuyện đời thường của những
người nông dân bình dị quê mùa), thế nhưng những câu chuyện đơn sơ mà
hấp dẫn ấy vẫn lôi cuốn được người đọc bởi cái nhìn nhân hậu, bởi nghĩa

khác biệt, một cái riêng đặc sắc không thể trộn lẫn với bất kì nhà văn nào
khác, như là một “đặc sản miền Nam”.
Phạm Phú Phong với bài viết: Lời đề từ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư, đăng trên tạp chí văn học số 6, đã phân tích và nhận xét khá kĩ về ngôn
ngữ, giọng văn, hiệu quả sử dụng những lời đề từ trong văn của chị. Ông cũng
khẳng định thêm cái đáng quý cần phải phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ
trong sáng tác.
Trên mục Phê bình của trang web “Evan.com” ngày 14/06/2006 có đăng
bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư. Trần Phỏng Diều đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc tư thể hiện qua ba hình tượng: Hình tượng người nghệ sĩ, Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

10
hình tượng người nông dân Nam Bộ và hình tượng dòng sông. Sau khi phân
tích vẻ đẹp của từng hình tượng, tác giả cũng đánh giá rất cao văn phong mộc
mạc, cách viết như nói của Nguyễn Ngọc Tư. Nếu chị đánh mất đi vùng thẩm
mỹ này thì đồng thời cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác
phẩm của mình.
Thụy Khuê khi tìm hiểu một số khía cạnh về không gian và thời gian
nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã có bài viết khá chi tiết
Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả đã
phân tích và chứng minh giọng văn và tinh thần sông nước của Nguyễn Ngọc
Tư như một truyền thống nối dài từ Bình Nguyên Lộc, người đã gắn liền hai
yếu tố đất và nước, thành ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ đất nước. Không
gian Nam Bộ với đồng ruộng sông nước, với con kinh, con rạch đã trở thành
một phần không thể thiếu trong bất cứ câu chuyện kể nào của chị.
Phạm Thái Lê với bài viết “Hình tượng con người cô đơn trong truyện

Nguyễn Ngọc Tư đã dự báo một “hiểm họa” về sự xơ cứng bởi cuộc sống tẻ
nhạt, sự trơ lì trước cuộc sống bon chen, bận rộn và chính tác giả đã kịp thời
giữ lại những cái tên, những kí ức, kỉ niệm đang có nguy cơ bị xóa nhòa cùng
năm tháng.
Tiếp đến thể loại tản văn, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã nhận được nhiều lời
nhận xét, tuy chưa mang tính chuyên nghiệp nhưng cũng có thể coi là những
phản hồi mang chiều hướng tích cực từ phía bạn đọc. Độc giả Nguyễn Ngọc
Tường Vân, ngày 21/07/2011, có bài viết Mộc mạc và rất trữ tình đăng trên
trang web: Tác giả
đã chia sẻ những cảm nhận của mình khi đọc tản văn Yên người ngóng núi:
“Trong cuộc sống bận rộn này, mỗi chúng ta nên dành một chút thời
gian mỗi ngày để đọc Yêu người ngóng núi và chiêm nghiệm, chỉ cần mỗi
ngày một bài tản văn, hẳn là chúng ta sẽ suy nghĩ đẹp hơn và sống tốt hơn.
Đây là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ngọc Tư mà tôi đọc, thật thì so với
Cánh Đồng Bất Tận, tôi lại thích quyển này hơn bởi nó thể hiện được cái Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

12
tình giản dị mà thấm đẫm giữa đời thường. Ngay từ tản văn đầu tiên, Nguyễn
Ngọc Tư bàn về Sài Gòn- nơi tôi sinh sống, bằng một lối văn nhẹ như dòng
nước: "Bằng cách đó, thành phố yêu anh " còn anh thì mãi ở núi này trông
núi nọ, nhưng thành phố vẫn còn đó, chờ đợi trong yêu thương, hằng ngày
vẫn thở”[68]. Nguyễn Ngọc Tư lúc nào cũng cuốn người đọc vào một thế giới
miên man tình, không chỉ là tình yêu đơn thuần như những cây bút trẻ đang
tích cực khai thác. Tình trong văn Nguyễn Ngọc Tư bảng lảng giữa những
ngã tư, những con phố, quán cà phê chiều, giữa sự đấu tranh của hoài niệm và
tương lai, giữa kỷ niệm và thực tế.
Trên đây là những bài phỏng vấn, đánh giá về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư


Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

14
Chương 1: Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư trong đời sống văn học Việt Nam
đương đại.
1.1. Khái quát văn học Việt Nam đương đại
1.1.1. Đội ngũ sáng tác
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống đế
quốc Mĩ kết thúc thắng lợi. Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới- thời kì
độc lập, tự do và thống nhất đất nước….Đây là thời kì mở cửa, cởi trói cho
giới văn nghệ sỹ trong việc tìm tòi sáng tạo. Đến với văn học thời kì này, các
cây bút có thể thỏa chí, mãn nguyện bởi sự phong phú của các đề tài nhằm đi
sâu vào từng ngõ ngách của cuộc sống. Nguyễn Mạnh Tuấn, Lưu Quang Vũ,
Lê Lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy…
là lớp “ca sĩ” đã dũng cảm “vặn cổ bài ca của chính mình” để trở thành những
cây bút tiên phong của văn học đổi mới. Mật độ các cuộc thi truyện ngắn tăng
lên ngày càng nhiều đã tạo cơ hội cho hàng loạt các tên tuổi mới xuất hiện

đề con người cá nhân với tất cả những gì nó có, đặc biệt là những vấn đề
thuộc về đời sống tâm hồn, tình cảm, ý thức, tâm linh Họ say mê khai phá
thế giới bên trong của con người từ những cung bậc tình cảm nhỏ bé nhất, đến
những ẩn ức, mong muốn nhạy cảm nhất… nhằm cho người đọc thấy một con
người thành thật nhất, rõ ràng nhất, trần trụi nhất. Con người luôn phải tự đấu
tranh, tự dò dẫm trong muôn ngàn ngã rẽ của xã hội Hiện đai, Hậu hiện đại.
Nguyễn Ngọc Tư cũng đặc biệt quan tâm đến số phận con người, những sáng
tác của chị đều là những day dứt, suy tư về cuộc đời bi kịch, những cảnh đời
bi thương, lầm lỡ. Con người ở đó hiện lên với tất cả các sắc thái, các bình
diện: cao thượng có, bản năng có, ý thức có, tâm linh cũng có nhưng dù là
kiểu sắc thái nào thì cũng luôn khao khát vươn tới cái chân, thiện, mỹ.
Văn trẻ hiện nay cũng có nhiều đổi mới trong tư duy nghệ thuật và cách
xây dựng tác phẩm. Họ chú trọng đổi mới hình thức tác phẩm từ ngôn ngữ
đến cách kể nhằm tạo ra những tác phẩm khác lạ, khiến người đọc phải năng
động, sáng tạo hơn trong quá trình đọc mới có thể chiếm lĩnh được tác phẩm. Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

16
Đặc biệt là việc chuyển từ ngôn ngữ một giọng sang ngôn ngữ đối thoại,
nhiều giọng, có sự tác động, hòa trộn giữa ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người
kể, ngôn ngữ nhân vật.
1.1.3 Vị trí của truyện ngắn, tạp văn, tản văn
Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỉ XIX)
nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh
của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng ngàn
năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm
được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên Hiện đại, Hậu hiện đại,
khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết. Con người không

bởi tên tuổi Đỗ Hoàng Diệu - Bóng đè, Nguyễn Ngọc Tư - Cánh đồng bất
tận, Khói trời lộng lẫy. Mỗi nhà văn một bút pháp riêng tạo nên “hiệu ứng”
truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, “thăng hoa”, “được
mùa”, “lên ngôi”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn đã được đổi mới.
Bên cạnh thể loại truyện ngắn vẫn giữ được thế mạnh trong nền văn xuôi
đương đại thì vị trí của thể loại tản văn, tạp văn cũng có thế đứng của riêng
mình. Cũng giống như truyện ngắn độc giả sẽ yêu thích tản văn và tạp văn bởi
quỹ thời gian của người đọc không đủ dành cho tiểu thuyết dông dài. “Tản
văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu
tả phong cảnh, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống của tản văn mang
tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật
hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách á nhân. Điều
cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã
hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính của tác giả.
Tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là
thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời và sức
sống mạnh mẽ.” [15, tr.293]. Với đặc trưng của thể loại mình thì tản văn đã
có một chỗ đứng trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Trong văn học Việt
Nam hiện đại thế kỉ XX tản văn là thể loại hầu như bị quên lãng cả một thế kỉ. Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

18
Hầu như không một cuốn văn học sử hiện đại nào nhắc đến nó, không một
giáo trình lí luận văn học nào nói đến nó, không tuyển tập văn học nào chú ý
đến nó như là một thể loại. Nhưng tản văn vẫn sống, âm thầm, dai dẳng mà
mãnh liệt và hôm nay dường như đang ngày càng khởi sắc lên: nhiều tờ báo
có mục tản văn dưới các tên mục khác nhau: “đoản văn, “tản văn”, “nói hay
đừng”, “phiếm luận” ; nhiều tập tản văn, tuyển tập tản văn của tác giả đã ra

Như Phương cũng ít nhiều gây chú ý cho người đọc, dù trước đó đã đăng rải
rác trên một vài báo. Rồi nhà thơ Đỗ Trung Quân, nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư…, tạp văn của họ đã để lại nhiều thú vị. Hầu hết trên các báo đều lần lượt
có mục tạp văn, hay tản văn , đó là mảnh đất nhiều màu mỡ lẫn màu sắc cho
các ngòi bút thể hiện đề tài mình muốn nói. Các tạp văn trong Ngôi nhà và
con người của nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương phần nhiều đã được in
trên các báo như: Người Lao Động, Phụ Nữ TP HCM, Tuổi Trẻ, Thanh
Niên Nghiêng tai dưới gió của nhà thơ Lê Giang cũng thế, chị đã cho in báo
trước khi tập hợp và chọn lọc in thành sách.
Từ lâu, các thể loại tạp bút, tạp văn, tản văn đã được nhiều nhà văn
viết, đưa in trên các báo. Đầu tiên vì độ dài của một tạp văn tương đối nên rất
tiện cho các báo xếp trang. Nhà thơ Đỗ Trung Quân cho rằng: Tản mạn khó
viết hay không là tùy người. Đã là tản mạn thì có thể viết gì cũng được và
kiểu nào cũng được. Vì theo nhà thơ họ Đỗ, tản văn không câu nệ hình thức
cũng như đề tài nên không trói buộc người viết.Tuy vậy không có nghĩa là tản
văn thấp kém hơn các thể loại khác. Mới đây, NXB Hội Nhà văn cho in tuyển
tập tản văn và truyện ngắn hay về Hà Nội thật đồ sộ gồm rất nhiều tác giả
lừng danh. Tuyển tập chia làm hai phần tản văn và truyện ngắn cho thấy sự
“bình đẳng” giá trị giữa hai thể loại. Còn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gom
chung tản văn và những kiểu lý luận phê bình viết như tản văn in chung thành
một tập Giăng lưới bắt chim cuối năm 2005 và vừa tái bản vào tháng 6 năm
nay.Trong lời tựa Nghiêng tai dưới gió, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh nhận xét:
“Tôi đọc, lại nghĩ mình đang đọc tự truyện”. Người đọc sẽ cùng chung nhận Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

20
xét với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi bắt gặp nhiều mẩu chuyện như là hồi
ký, nhật ký về những sinh hoạt đời thường của mái ấm nhà thơ Lê Giang.

Thơ, Đồng Tháp, Long An, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long. Hội văn học
nghệ thuật Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã cho ra mắt bạn đọc trong
cả nước 2460 tác phẩm với khoảng 715 tác giả. Trong cuộc kháng chiến
chống Pháp, văn học Nam Bộ có những cây bút tiêu biểu: Sơn Nam, Hoàng
Văn Bổn, Trần Kim Trắc, Phạm Tuân, người ta nhìn thấy thành tựu ấy qua
một giải thưởng khá quy mô lúc đó, giải thưởng Văn nghệ Cửu Long Nam Bộ
năm 1952. Sang chống Mỹ dòng văn học Nam Bộ bình lặng chảy cùng văn
học cả nước trong không khí hào hùng “tất cả cho tiền tuyến”. Tuy nhiên,
đứng trên bình diện khách quan mà xét, văn học Nam Bộ nghèo nàn hơn so
với hai miền Bắc, Trung. Điều dễ nhận thấy nhất, lực lượng sáng tác mỏng, bị
dàn trải trên một địa hình rộng lớn, thiếu được chăm nom, đầu tư thoả đáng,
hơn nữa hạn chế về mặt thông tin, đất rộng, người đông mà chỉ có 29 thành
viên nằm trong Hội nhà văn Việt Nam. Hiện văn học ĐBSCL đang đứng
trước thực trạng mang tính thời sự. Ngày 10/09/2004 Hội nhà văn tổ chức
“Bàn tròn văn xuôi Đồng bằng sông Cửu Long” nhằm tìm ra phương hướng
để thúc đẩy văn học nghệ thuật phát triển, đẩy văn học miền này bắt nhịp
được với văn học hai miền kia. Tại đây, nhiều ý kiến được đưa ra bàn luận,
nhà văn Nguyễn Thị Diệp Mai đã bộc lộ chân thật về con đường văn chương:
say mê cuồng nhiệt khi nhập hồn vào trang viết cùng trạng thái tâm lý hụt
hẫng khi “đẻ” xong một “đứa con tinh thần”. Say mê, háo hức là vậy nhưng
cái gánh nặng áo cơm xưa như trái đất đã làm cho giới viết văn trẻ cảm thấy
viết là “viết chơi theo kiểu tài tử” vì “chưa thể sống bằng nghề viết văn”. Vũ
Hồng phát biểu về đội ngũ viết văn trẻ như sau: số lượng ngày càng phát
triển, mỗi cây bút đều tạo được dấu ấn phong cách riêng, có sự nối tiếp giữa
các thế hệ, mà điển hình gần đây nhất có Nguyễn Thị Diệp Mai, Nguyễn
Ngọc Tư,… Một trong những hạn chế của các cây bút trẻ là tính chuyên
nghiệp chưa cao. Ở đây, hội nghị bàn tròn lưu ý nhất là “sự đóng băng trong Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư


Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

23
chảy trầm lặng cần được khơi thông để đưa văn học Nam Bộ lên tầm cao mới,
sánh vai cùng văn học nước nhà và vươn mình ra nước bạn.
Bên cạnh những mặt hạn chế thì văn xuôi Nam Bộ cũng đạt được
những thành tựu nhất định. Mặc dù đội ngũ sáng tác mỏng nhưng cây bút nào
có được sáng tác đăng trên các tạp chí thì ngay lập tức để lại dấu ấn phong
cách riêng. Ngôn ngữ, văn hoá Nam Bộ rất riêng, rất độc đáo và thú vị không
thể lẫn vào bất cứ tác giả Bắc, Trung nào. Nó giống như một bông hoa rừng
giữa muôn loài hoa, nó có giá trị bổ sung cho văn học cả nước. Chúng ta phải
nhắc tới những thế hệ nối tiếp nhau: Trương Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam,
Nguyễn Quang Sáng, đến Bình Nguyên Lộc, Ngô Khắc Tài, Dạ Ngân, gần
đây có Nguyễn Thị Diệp Mai, Lâm Thị Thanh Hà, Đỗ Tuyết Mai, Nguyễn
Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Sự góp mặt đông đảo của đội ngũ nhà văn
trẻ đã tạo nên một diện mạo mới sôi nổi và quyết liệt trên dòng chảy bình lặng
của nền văn học Nam Bộ. Các cây bút thể hiện mình ở nhiều phong cách độc
đáo khác nhau, tạo nên bộ mặt mới cho văn học, nổi bật với ba thành tựu sau:
Thành tựu thứ nhất: Các nhà văn viết về cái kì vĩ, lạ lùng trong văn
chương làm nên sức hấp dẫn, kích thích tính tò mò ở độc giả. Họ đã xây dựng
được những bức tranh Nam Bộ vô cùng phong phú và “đặc sản”. Sông nước,
kênh, rạch chằng chịt, xuồng, bè tấp nập, rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh,
rừng sình lầy, những cánh đồng bát ngát, chợ nổi trên sông, người và muôn
thú cộng sinh như nương tựa bạn bầu, hiện lên một không gian “vĩ mô” có
một không hai. Đọc truyện chúng ta cảm nhận rằng, thiên nhiên như một đối
tượng, một hình tượng, một nhân vật thực sự chứ không đơn thuần làm bối
cảnh hoặc nguyên cớ để phát triển tính cách nhân vật.
Thành tựu thứ hai: Truyện đậm dấu ấn địa văn hoá (không đâu rõ bằng
văn học Nam Bộ), được bàn đến rất nhiều trong các tác phẩm.

công nghiệp hiện đại, không thấy bóng dáng văn minh đô thị, thiếu ánh sáng
văn hóa, cuộc sống còn đầy hoang sơ và bản năng. Cuộc sống của những

Trích đoạn Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Bức tranh cuộc sống miền quê Nam Bộ Kiểu nhân vật tự nhận thức Một số nét đặc sắc về không gian nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Thời gian nghệ thuậ t đặc trưng văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status