Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi nguyễn ngọc tư - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐINH VĂN ĐÔNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƢ

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TÔN THẢO MIÊN HÀ NỘI, 2014



LỜI CAM ĐOAN

Luận văn với đề tài: Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ
đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp cả PGS. TS Tôn Thảo Miên. Tôi xin
cam đoan rằng:
Luận văn này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của cá nhân tôi có tham khảo ý
kiến của những ngƣời đi trƣớc.
Kết quả thu đƣợc là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong công
trình nào khác. Học viên Đinh Văn Đông
muội, tầm thƣờng mang tính bản năng 53

2.3. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ 54
2.3.1. Kiểu nhân vật tƣ tƣởng 54
2.3.3. Kiểu nhân vật tha hoá 65
Chƣơng 3. MỘT VÀI PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI
NGUYỄN NGỌC TƢ 69
3.1. Khái niệm không gian và thời gian nghệ thuật 69
3.1.1. Không gian nghệ thuật 69
3.1.1.1. Không gian môi trƣờng tự nhiên 70
3.1.1.2. Không gian tâm lý 71
3.1.2. Thời gian nghệ thuật 74
3.1.2.1. Thời gian hiện thực 75
3.1.2.2. Thời gian tâm trạng 76
3.1.2.3. Thời gian lồng ghép 78
3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu 80
3.2.1. Ngôn ngữ 80
3.2.1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ 80
3.2.1.2. Ngôn ngữ đậm chất hiện thực đời thƣờng 80
3.2.1.3. Sử dụng yếu tố kỳ ảo 82
3.2.1.4 Miêu tả tâm lý nhân vật trong sự giằng xé nội tâm 83
3.2.1.5. Xây dựng nhân vật theo nguyên tắc tƣơng phản 85
3.2.1.6. Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ 87
3.2.1.7. Ngôn ngữ giàu chất thơ 90
3.2.2. Giọng điệu 91
3.2.2.1. Giọng điệu trầm lắng, suy tƣ 91
3.2.2.2. Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 95
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103


chú ý hơn cả. Có thể thấy ở bất cứ thời đại nào vấn đề thân phận con ngƣời luôn
đƣợc xem là vấn đề trọng tâm và chủ yếu trong văn học.
Trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ thân phận ngƣời phụ nữ vừa mang
nét chung của ngƣời phụ nữ xƣa nhƣng cũng vừa mang những nét riêng độc đáo, cá
tính và đầy bản lĩnh. Cách khám phá thân phận ngƣời phụ nữ ở nhiều cung bậc, đa
chiều, đa diện đã cho ta thấy một con ngƣời không toàn vẹn mà là con ngƣời với
những vết trầy xƣớc, bầm dập cả về thể xác lẫn tinh tinh thần. Những ngƣời phụ nữ

2
trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tƣ có những số phận khác nhau, nhƣng hầu nhƣ
không có một ngƣời phụ nữ nào của chị đƣợc hƣởng hạnh phúc trọn vẹn. Mỗi ngƣời
khổ một kiểu, mỗi ngƣời có một nỗi niềm riêng. Nhƣng điều kì lạ là chúng ta không
cảm thấy sự bi quan hay bóng tối bao trùm cuộc đời họ. Chính điều này đã tạo nên
sự khác biệt về thân phận những ngƣời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
so với các nhà văn trƣớc đây và các nhà văn cùng thời. Đóng góp này cho thấy chân
dung con ngƣời, đặc biệt là những ngƣời phụ nữ trong thời đại mới đƣợc hiện lên
sâu sắc và đậm nét hơn.
Nguyễn Ngọc Tƣ là cây bút nữ trẻ đƣợc biết đến nhiều trong thời gian khoảng
một thập niên trở lại đây. Cho đến nay, chị đã có nhiều truyện ngắn và tập truyện
ngắn đƣợc xuất bản nhƣ: Biển ngƣời mênh mông (2003),Ngọn đèn không tắt (2000),
Nƣớc chảy mây trôi(2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc tƣ (2005), Cánh đồng bất tận
(2005), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), Khói trời lộng lẫy (2010) , cùng với sự
kiện chuyển thể thành công bộ phim Cánh đồng bất tận từ tác phẩm cùng tên của
mình. Tập truyện ngắn mang tên Cánh đồng bất tận và truyện ngắn Cuối mùa nhan
sắc do Hội nhà văn Việt Nam đề cử đã đƣợc dịch sang tiếng Anh, tiếng Hàn và nhận
giải thƣởng văn học quốc tế ASEAN tại Thái Lan vào tháng 10/ 2008.
Trong hành trình lao động nghệ thuật, Nguyễn Ngọc Tƣ đã có những tìm tòi,
thể nghiệm riêng và đã xây dựng nên một thế giới nghệ thuật độc đáo. Thế giới ấy
là sự tổng hoà mối quan hệ của các yếu tố nhƣ: nhân vật, thời gian, không gian,
ngôn ngữ, giọng điệu,… tất cả tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Nguyễn Ngọc

ruộng vƣờn. Sau 9 năm bậc trung học, chị phải rời nhà trƣờng vì ông ngoại già yếu.
Chị bắt đầu viết tại làng quê. Ba truyện đầu tay, đƣợc thân phụ mang gửi đến tạp chí
Văn Nghệ Bán đảo Cà Mau và đƣợc chọn đăng. Về sau, chị đƣợc nhận vào làm văn
thƣ và học làm phóng viên báo này .
Thành công khởi nghiệp của Nguyễn Ngọc Tƣ là tác phẩm Ngọn đèn không
tắt, tác phẩm đầu tay đoạt giải 3 báo chí trong năm 1997 đã chính thức đƣa Nguyễn
Ngọc Tƣ vào nghề văn với những thành công tốt đẹp tiếp theo: Giải nhất văn học
tuổi 20 do báo Tuổi trẻ tổ chức, giải B của Hội Nhà Văn Việt Nam về truyện ngắn
năm 2001; giải Tác giả trẻ nhất của Ủy ban Toàn quốc Liên Hiệp các hội Văn học
Nghệ thuật Việt Nam. Mặc dù không gây xôn xao dƣ luận, nhƣng Ngọn đèn không
tắt dành đƣợc nhiều cảm tình của dƣ luận và của các nhà chuyên môn. Mở đầu cho

4
hàng loạt bài viết về Nguyễn Ngọc Tƣ có lẽ là bài viết của nhà văn Dạ Ngân:
“Nguyễn Ngọc Tƣ nhƣ thế nào” bằng tâm trạng thú vị khi nhớ đến lời khen mà
ngƣời ta từng dành cho Solokhov: “Trên bầu trời văn học nƣớc Nga, một con đại
bàng non vừa cất lên đôi cánh mênh mông từ sông Đông” (27;1). Khi kể về phản
ứng của bạn đọc với: Ngọn đèn không tắt, nhà văn Dạ Ngân rất hào hứng: “Khi tập
truyện Ngọn đèn không tắt vào giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2000, ban
văn (của báo Văn Nghệ) chúng tôi mới thú vị nhận ra chính Văn Nghệ đã in cho tác
giả ngôi sao này một truyện đậm chất Nam Bộ dù truyện khá mảnh. (…). Nhiều
tiếng khen, nhiều bài báo trong Nam ngoài Bắc phát hiện về Nguyễn Ngọc Tƣ một
hiệu ứng đọc ít thấy từ lâu”[27;1]
Nhà văn Huỳnh Kim - Một nhà văn khá thân thiết với Nguyễn Ngọc Tƣ đã
nhận xét: “Đọc tập truyện Ngọn đèn không tắt đoạt giải, thật là thích vì văn
chƣơng sâu sắc mà dung dị , tinh tế mà lại tràn trề tính nết của ngƣời Nam Bộ trong
khi tác giả mới 24 tuổi. Với tôi, truyện của Nguyễn Ngọc Tƣ là những câu chuyện
nhà quê. Ở trong đó, ai đọc, dù không hợp gu, cũng nhƣ tìm gặp đƣợc bóng dáng
quê nhà của riêng mình”.
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên cũng cho rằng: “…Truyện Ngọn đèn không tắt

không sẽ quanh quẩn và lặp lại.” [31;1].
Và ngay lúc đó, Cánh đồng bất tận đã ra đời (2005), nó đã hâm nóng bầu
không khí văn học, nhiều bài báo , nhiều phản hồi của ngƣời đọc cũng đƣợc đƣa ra.
Phạm Xuân Nguyên công bố: “Tôi muốn nói Cánh đồng bất tận đã chia đoạn
sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ thành những truyện trƣớc và sau nó” [32,1].
Ở một bài báo khác, Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng: “Cánh đồng bất tận là
một truyện hay, nó chứng tỏ bút lực của Nguyễn Ngọc Tƣ trong việc đào sâu vào
thể hiện cuộc sống và khơi sâu vào thân phận con ngƣời. Viết đƣợc một truyện nhƣ
thế chứng tỏ Tƣ có tài năng văn chƣơng và có lòng thƣơng ngƣời. Đúng vậy,
thƣơng ngƣời bằng những nỗi đau của con ngƣời, bằng cái nhìn thẳng vào những
vùng sáng tối chồng chéo trên những khuôn mặt ngƣời và trong những cõi lòng
ngƣời” [33;1].
Tháng 4 năm 2006, xảy ra “Sự cố cánh đồng bất tận”. Bắt đầu là việc ban
Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Cà Mau đề nghị Hội VHNT kiểm điểm Nguyễn Ngọc Tƣ.
Rồi đến bài viết của ông Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao tỉnh. Có thể nói đó là

6
sự kiện hâm nóng không khí văn chƣơng vốn buồn tẻ trƣớc đó. Các báo mở diễn
đàn tranh luận. Độc giả và các nhà chuyên môn trong và ngoài nƣớc lên tiếng, tham
gia. Thành phần ngƣời tham gia rất đa dạng, số lƣợng các ý kiến cũng phong phú,
bề bộn.
2.2. Điểm lại các bài viết chúng tôi chia thành hai nhóm cơ bản sau:
2.2.1. Những công trình, bài viết nghiên cứu về thế giới nghệ thuật
Những công trình bài viết đánh giá chung về Nguyễn Ngọc Tƣ thì cho rằng
tác phẩm Cánh đồng bất tận không có tính giáo dục, bôi nhọ ngƣời nông dân, viết
về cái xấu, cái ác, về sex….Bên cạnh đó có những bài viết lại ca ngợi, đánh giá cao
quan điểm và sự đổi mới về phong cách của tác giả.
Nhiều luồng ý kiến khác nhau khá phức tạp, nhƣng đa số là phản ứng nội
dung không tốt, tập trung nhiều đối tƣợng, lứa tuổi, phản ứng rất gay gắt, thậm chí
đòi thu hồi cuốn sách vì không mang tính giáo dục…Cho nên Ban Tuyên giáo tỉnh

Hồng Ngọc, bà đã cho rằng: “Cô rất dễ có đƣợc những sự trầm trồ, bù lại độc giả
bình thƣờng thân thiết của cô, những ngƣời nhƣ tôi, cảm thấy nuối tiếc, hụt hẫng,
cảm thấy nhƣ mình đã mất đi một niềm tin chẳng hạn!”(29;1)
Và gần đây nhất, tại hội nghị BCH Hội nhà Văn Việt Nam lần thứ 6 khóa VII
họp ngày 13/10/2006 ở Hà Nội đã quyết định trao tặng giải thƣởng: Hiện tƣợng văn
học trong năm của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 cho truyện vừa Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và tập thơ Thƣơng lƣợng với thời gian của Hữu Thỉnh.
Điểm lại các ý kiến về Nguyễn Ngọc Tƣ và Cánh đồng bất tận, có thể tạm
rút ra một vài kết luận sau:
Nguyễn Ngọc Tƣ là nhà Văn Nam Bộ luôn trăn trở với cuộc sống và số phận
của ngƣời nông dân vùng đồng bằng sông nƣớc nói riêng, ngƣời nông dân nói
chung. Chị là ngƣời không ngần ngại chạm vào những vấn đề phức tạp, đồng thời
có cái nhìn tinh tế, rất mới đối với các hiện tƣợng của đời sống. Ngoài ra, chị là nhà
văn có cách thể hiện các vấn đề của cuộc sống rất riêng, ám ảnh ngƣời đọc.
Không có nhiều ý kiến về thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tƣ, phần lớn
các ý kiến khen chê đều đề cập đến nội dung nhiều hơn là phƣơng diện kĩ thuật viết
trong các tác phẩm của chị. Tuy còn tản mạn chƣa thành hệ thống, và rất trân trọng
những suy nghĩ, nhận xét khách quan của độc giả khi đã từng đọc văn Nguyễn Ngọc

8
Tƣ vì đó là những gợi ý quý báu đối với chúng tôi, giúp chúng tôi có tƣ liệu để hoàn
thành luận văn “Thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ”.
2.2.2. Những công trình, bài viết đánh giá chung về Nguyễn Ngọc Tư
- Đề cập đến thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ, giảng viên
Trần Ngọc Hiếu - tổ lý luận văn học khoa ngữ văn - ĐHSPHN có bài viết Hiện
tƣợng tác giả “best-seller” trong Văn học Việt Nam: trƣờng hợp Nguyễn Ngọc Tƣ
đăng trên trang web: hieeutn1979.blogst.com (24/11/2006/0, trong đó trình bày khá
chi tiết và cụ thể về cốt truyện, ngôn ngữ kể chuyện, quan điểm đạo đức và hệ thống
nhân vật đƣợc phản ánh trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ.
Thể loại truyện ngắn - là một hƣớng sáng tác chủ lực, và mở đầu cho những

ngƣời nông dân Nam Bộ và hình tƣợng dòng sông. Sau khi phân tích vẻ đẹp của
từng hình tƣợng, tác giả cũng đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết nhƣ
nói của Nguyễn Ngọc Tƣ. Nếu chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồng thời
cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình.
Vài ý tƣởng trong Sông đã hình thành trong một truyện ngắn, rất ngắn trƣớc
đó. Tựa đề Sông dễ khiến ngƣời đọc liên tƣởng đến câu chuyện của những con
ngƣời sống cuộc sống nơi sông nƣớc. Nhƣng kì thực con sông chỉ là bối cảnh, để
những câu chuyện, kỉ niệm hiện lên. Con sông cũng tƣợng trƣng cho dòng chảy tự
nhiên, và Ân (nhân vật chính trong Sông) thì khao khát đƣợc sống tự nhiên nhƣ thế.
Cậu đi tìm mình, ngay cả giới tính của cậu trong sự hoang mang.
Nguyễn Ngọc Tƣ đã có một chuyến hành trình dài, từ Cà Mau ra tới Hà Nội,
để trò chuyện về Sông - cuốn tiểu thuyết đầu tay của chị. Độc giả, bạn bè yêu mến
Nguyễn Ngọc Tƣ đến chật kín khán phòng giao lƣu chiều 18 tháng 9 năm 2012,
trong không gian Hội chợ sách quốc tế tại trung tâm triển lãm Giảng Võ, Hà Nội.
Viết tiểu thuyết là việc mà trƣớc đây Nguyễn Ngọc Tƣ chƣa từng biết đến, cho đến
khi một ngƣời bạn nói: “Ngƣời viết văn xuôi mà không viết tiểu thuyết thì cũng phí
đời”. Thế là chị viết! Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng, ngay từ Cánh
đồng bất tận Nguyễn Ngọc Tƣ đã mang vào đó Chất tiểu thuyết. Nhƣng Sông mới
là cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh đầu tiên.
Chuyển sang thể loại tạp văn, Nguyễn Ngọc Tƣ không viết nhiều nhƣ truyện
ngắn nhƣng khi cuốn tạp văn đầu tiên ra đời cũng đã có khá nhiều bài viết, bài cảm
nhận trên báo, tạp chí và chủ yếu là qua mạng internet. Và tiếp sau đó là một giọng

10
văn trƣởng thành hơn, mang triết lý sâu sắc và trầm lắng hơn qua tạp văn Ngày mai
của những ngày mai và Biển của mỗi ngƣời. Nhận xét về tạp văn “đầu tay” của
tác giả trẻ này, Thanh Vân trên trang web viet-studies có viết bài “Tạp văn Nguyễn
Ngọc Tƣ” nhƣ một lời giới thiệu với độc giả về những nội dung mới - khác hẳn với
những truyện ngắn đã đƣợc Nguyễn Ngọc Tƣ viết trƣớc đó.
Qua thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy phần lớn độc giả đều rất hƣởng

những sáng tác trƣớc đó. Thế nhƣng, khi theo dõi những tác phẩm ra đời sau Cánh
đồng bất tận, chúng tôi vẫn nhận thấy một Nguyễn Ngọc Tƣ của nông thôn Nam Bộ
hiền lành với những nỗi đau, nỗi buồn phảng phất, với những số phận nhỏ bé thiệt
thòi, với những mối tình lỡ làng, trắc trở muôn thuở, vẫn chất giọng nhỏ nhẹ đó có
thể buồn hơn, tỉnh táo hơn những vẫn là một giọng điệu văn chƣơng bình dân, hào
sảng mà chỉ đất Nam Bộ mới sản sinh ra đƣợc.
Giáo sƣ kinh tế Trần Hữu Dũng là một Việt Kiều Mỹ vì quá “mê” văn
Nguyễn Ngọc Tƣ đã tự nguyện “thiết kế và trông nom” cả một thƣ viện điện tử về
tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tƣ. Ông đã có bài viết “Nguyễn Ngọc Tƣ, đặc sản miền
Nam”. Bài viết này đã đánh giá một cách tổng hợp về nghệ thuật viết truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tƣ từ những điều giản dị của ngôn từ, giọng điệu đến nhân vật,
cấu trúc câu. Đặc biệt Trần Hữu Dũng đã chỉ ra điểm khác biệt, một cái riêng đặc
sắc không thể trộn lẫn với bất kỳ nhà văn nào khác đƣợc.
Trong một bài viết của Phạm Phú Trọng cho thấy“Lời đề từ” trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ, đăng trên Tạp chí Văn học số 6, đã đi vào phân tích và
nhận xét rất kĩ về ngôn ngữ, giọng văn, hiệu quả sử dụng những lời đề từ trong cách
viết văn của chị. Ông cũng khẳng định thêm cái đáng quý cần phải phát huy ở chị
chính là chất Nam Bộ trong sáng tác của chị.
Trên đây là những bài phỏng vấn, đánh giá về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ dựa
trên hai thể loại chủ lực là truyện ngắn và tạp văn. Còn rất nhiều bài viết khác nữa
đã đƣợc đăng nhƣng do khuôn khổ luận văn nên chúng tôi chỉ điểm qua một số bài
viết cơ bản. Đa phần các bài viết này đều đƣợc đăng tải trên các báo, hay một số
trang web chứ chƣa có một công trình nghiên cứu nào. Ngoài ra, phần nhiều các
bài viết đều dựa trên tinh thần giới thiệu một tác phẩm của chị vừa xuất bản, hay
phê bình một truyện cụ thể nào đó. Nhƣng chúng tôi đánh giá rất cao những ý kiến

12
đánh giá đúng đắn và chừng mực của các nhà văn và nhà phê bình nhƣ Phạm Xuân
Nguyên, Nguyên Ngọc, Chu Lai…
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Chỉ ra đƣợc điểm độc đáo, mới mẻ của thế giới nghệ thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
5.2. Mục tiêu của luận văn
Luận văn hƣớng tới mục tiêu tìm ra những điểm độc đáo, mới mẻ của thế
giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ. Trên cơ sở đó, đánh giá tài
năng và những đóng góp cũng nhƣ vị trí của Nguyễn Ngọc Tƣ trong nền văn học
Việt Nam đƣơng đại.
6. Đóng góp của luận văn
- Chỉ ra nét đặc sắc trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
- Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn Ngọc Tƣ đối với sự phát triển
của nền văn học Việt Nam đƣơng đại.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn đƣợc chia thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Truyện ngắn nữ đƣơng đại và hành trình sáng tác của Nguyễn
Ngọc Tƣ
Chƣơng 2: Thế giới nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ.
Chƣơng 3: Một vài phƣơng diện nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tƣ. 14
PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1. TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƢƠNG ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ

1.1. Khái quát truyện ngắn nữ đƣơng đại Việt Nam
- Những chuyển biến về nội dung, khuynh hƣớng phản ánh.
Tình hình kinh tế, xã hội và văn học những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ
XXI có nhiều thay đổi nhanh chóng. Kinh tế phát triển nhanh một mặt đem đến diện

bút pháp, tạo sự chuyển động đáng mừng cho dòng chảy chung của văn chƣơng
nƣớc nhà, bƣớc đầu tạo những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của văn học
tƣơng lai.
- Sự đổi mới, phong phú về nghệ thuật biểu hiện
Nguyễn Ngọc Tƣ cũng đặc biệt quan tâm đến số phận con ngƣời, những sáng
tác của chị đều là những day dứt, suy tƣ về cuộc đời bi kịch, những cảnh đời bi
thƣơng, lầm lỡ nhƣng dù là kiểu sắc thái nào thì cũng luôn khao khát vƣơn tới cái
chân, thiện, mỹ.
Ta cũng thấy điều ấy trong văn Nguyễn Ngọc Tƣ khi chị viết về nông thôn
Nam Bộ, nơi những cô gái hôm qua móng chân còn lấm phèn, hôm sau đã giẫm lên
đôi guốc cao gót đi làm tiếp viên nhà hàng, làm điếm; nơi những ngƣời hôm xƣa
không còn tiếc xƣơng máu cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, thì hôm
nay đã ăn chặn mồ hôi nƣớc mắt của ngƣời lao động… Con ngƣời ở đó hiện lên với
tất cả các sắc thái, các bình diện: cao thƣợng có, bản năng có, ý thức có, tâm linh
cũng có… Những thay đổi, biến chuyển ấy đƣợc các nhà văn trẻ đƣa vào trang viết
của mình với biết bao nồng nhiệt muốn cảnh tỉnh, cảnh báo con ngƣời trƣớc sự
xuống cấp của nhiều loại giá trị.
Theo nhận xét Lê Hƣơng Thủy (Viện Văn học): truyện ngắn nữ đã dần có
“thƣơng hiệu”.
Những thập niên gần đây, con số các nhà văn nữ tăng lên đáng kể - một sự
tăng lên đột biến với đông đảo các cây bút văn xuôi (nhất là truyện ngắn) có lối viết
và giọng điệu khác nhau. Khuynh hƣớng “thiên nữ” hay “âm hƣởng nữ quyền” đã
đƣợc nói tới trong thực tiễn đời sống văn học Việt Nam đƣơng đại. Điều này xuất

16
phát từ thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ. Những cây bút nhƣ Nguyễn Thị Thu
Huệ, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh đã sớm thành danh
với những giải thƣởng trên các báo và tạp chí có uy tín cũng nhƣ giải thƣởng của
các hội nghề nghiệp. Quan trọng hơn sáng tác của họ đã tạo đƣợc dƣ luận, gây đƣợc
sự chú ý của độc giả. Những năm đầu thiên niên kỷ mới, các cây bút nữ lại thêm

trong dạng thức nguyên thủy truyền thống. Nữ tính nguyên bản biểu hiện rõ nét nhất
trong những đoạn miêu tả nội tâm, miêu tả thiên nhiên đầy chất thơ và trong cách
xử lý các mối quan hệ đầy cảm tính…”.
Họ chú trọng đổi mới hình thức tác phẩm từ ngôn ngữ đến cách kể nhằm tạo
ra những tác phẩm khác lạ, khiến ngƣời đọc phải năng động, sáng tạo hơn trong quá
trình đọc mới có thể chiếm lĩnh đƣợc tác phẩm. Đặc biệt là việc chuyển từ ngôn ngữ
một giọng sang ngôn ngữ đối thoại, nhiều giọng, có sự tác động, hòa trộn giữa ngôn
ngữ tác giả, ngôn ngữ ngƣời kể, ngôn ngữ nhân vật. Văn xuôi giai đoạn này đóng
góp nhiều tên tuổi mới nhƣ: Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Bình Phƣơng, Mạc Can, Thuận, Đoàn Minh Phƣợng, Bảo Ninh, Nguyễn
Ngọc Tƣ… họ đều là những cây bút viết hay và cảm nhận sâu sắc về đời sống nội
tâm, những cuộc đấu tranh ngầm nhƣng dữ dội và không khoan nhƣợng của con
ngƣời. Đó còn là cuộc đời của bà Tƣ chẳng có gì ngoài tuổi thơ im lặng đầy nƣớc
mắt trong nỗi ám ảnh và sợ hãi cái chết, để rồi về già sống lay lắt trong nỗi đau câm
lặng. Ẩn chứa trong mỗi nhân vật của các tác phẩm là cả một thế giới đầy giông
bão, dƣờng nhƣ chỉ đợi cơ hội, dù là nhỏ nhất trong tầng sâu của tâm hồn con ngƣời
để đƣợc nổi sóng. Đó là ông Ba trong Tấm ván phóng dao của Mạc Can, luôn chênh
vênh giữa hai bờ thực ảo với những ràng buộc, những ranh giới vô hình nhƣng đầy
khắc nghiệt trong tâm hồn ông. Trong Cõi ngƣời rung chuông tận thế của Hồ Anh
Thái, ngƣời đọc lại nghe vang vọng lời của thánh John trong chƣơng kinh Tân ƣớc
cảnh báo cho đệ tử về ngày phán xử cuối cùng cho các tội ác do loài ngƣời gây ra.
Những năm cuối thế kỉ XX xuất hiện cả loại “truyện ngắn mi ni” hàm súc, cô
đọng về cả nội dung lẫn ngôn ngữ…Về hình thức, truyện ngắn khá đa dạng và cốt
truyện đan xen nhiều mạch truyện, giàu chi tiết sự kiện.
1.2. Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
1.2.1. Những đổi mới về quan niệm sáng tác, quan niệm về cuộc đời và con người
của Nguyễn Ngọc Tư
Những đổi mới về quan niệm sáng tác, theo nhà văn Phạm Thị Hoài thì: “Một
quan điểm nghệ thuật bao giờ cũng dẫn tới một phong cách nghệ thuật riêng của


thế giới tinh thần của chị: “Lúc đầu chỉ viết để giải tỏa cảm xúc cho nó nhẹ ngƣời

19
đi, nhƣng sau này thấy cái nghiệp mình đeo đuổi nặng trĩu, đầy nợ nần. Viết vì mình
là Nguyễn Ngọc Tƣ” [12]. Và về sau, với Nguyễn Ngọc Tƣ viết văn thế nào cho
“ngon lành” lại trở thành một trách nhiệm đối với lƣơng tâm ngƣời cầm bút.
Tìm hiểu ta thấy Nguyễn Ngọc Tƣ không phải là ngƣời dễ dàng bằng lòng
với chính mình, “không muốn ngủ quên vì giải thƣởng” [18], chị nhận thấy “bạn
đọc bắt đầu chán văn tôi” [41]. Chị coi đó là một thử thách của chính bản thân
mình: “Không hẳn vì tự ái nghề nghiệp đâu. Tôi còn muốn nhìn mình thật rõ. Có
thật mình bất tài? Có thật mình không thể với tới những đề tài gan góc hơn? Có
thật mình đang buông xuôi, đang tụt dốc? Nếu không phải, thì làm thử coi. Đấy
hoàn toàn không phải thách thức bạn bè, tôi thách thức chính mình” [10]. Nhƣng
điều quan trong hơn cả việc vƣợt qua chính mình, việc thành hay bại khi thử
nghiệm “xen canh” trên cánh đồng văn chƣơng quen thuộc, với Nguyễn Ngọc Tƣ
còn là đƣợc viết những điều mình ấp ủ, trăn trở: “Câu hỏi “mình có thành công tiếp
không” lúc đầu cũng gây suy nghĩ. Điều quan trọng là Ngọc Tƣ biết ruộng mình
“hợp với loại nào” và thấy cần thiết nên làm gì” [33]. Sự tỉnh táo ấy cũng là cần
thiết khi chị hiểu “đằng sau thành công là gánh nặng”, có thể dừng lại nếu cần, vì
mỗi nhà văn chỉ có một hay nhiều khả năng nào đó thôi: “Tƣ cho rằng một ngƣời
viết chỉ có một khả năng nào đó và tốt nhất là khám phá hết toàn bộ khả năng đó
mệt mỏi thì dừng lại, nếu ép buộc thì rất khó. Và viết văn mà cứ đòi lên dốc mãi thì
cũng khó, và chẳng có cái dốc nào cao đến thế nên đôi khi cũng phải dừng lại, phải
ngoảnh lại, thậm chí đi xuống rồi mới đi lên. Một tác phẩm hay là một món quà tinh
thần tặng cuộc sống rồi, và cái hay thì luôn có hạn, nếu cứ đòi phải tặng mãi thì
đâu có đƣợc!” [59].
Nhƣng rồi niềm vui đƣợc viết, thôi thúc làm việc bên trong đã lấn át những
băn khoăn về việc vƣợt qua chính bản thân. Viết là viết thôi, gạt qua một bên hết
thảy các lo lắng “đƣợc” hay “bại”. Viết xong, là trút đƣợc hết nỗi lòng ra giấy,
không nghĩ ngợi gì nữa” [56]. Tuy cảm nhận đƣợc sự chờ đợi, kì vọng của bạn đọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status