B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
s ư PHẠM
HẢ NỘI
_____
■____■
_________■
______
• 2
ĐẶNG HƯONG LAN
THÉ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC s ĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2015
B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
s ư PHẠM
HẢ NỘI
_____
■____■
những thiếu sót. Tác giả luận văn kính mong nhận được sự thông cảm và góp
ý chân thành của tất cả các thầy cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Hương Lan
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu riêng của tôi.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã kế thừa những thành quả nghiên cứu
của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu với sự trân trọng và lòng biết ơn sâu
sắc nhất.
Những vấn đề trình bày trong luận văn là sự tìm hiểu của riêng tôi và
không trùng lặp với luận văn khác.
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Hương Lan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................ 5
5. Phưong pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Đóng góp của luận văn..................................................................................6
2.2.1. v ề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học................................. 63
2.2.2. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương............. 65
2.2.2.1. Thòi gian phi tuyến tính.................................................................... 65
2.2.2.2. Thòi gian "trắng"................................................................................ 69
2.3. Sự song hành, xoắn vặn không gian và thòi gian nghệ thuật................. 71
Chương 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU.............................................. 76
3.1. Ngôn ngữ...................................................................................................77
3.1.1. v ề ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.................................................. 77
3.1.2. Ngôn ngữ tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương........................................ 79
3.1.2.1. Ngôn ngữ sinh hoạt, đời thường, thông tục, suồng s ã ...................... 80
3.1.2.2. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, lạ hóa và đầy chất thơ............................... 84
3.2.
Giọng điệu............................................................................................89
3.2.1. v ề giọng điệu trong tác phẩm văn h ọ c................................................ 89
3.2.2. Giọng điệu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương....................................... 90
3.2.2.1. Giọng điệu thờ ơ, lãnh đạm, trung tính khách quan (lối viết ở độ
không)...............................................................................................................91
3.2.2.2. Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư, triết l ý ......................................... 94
KẾT LUẬN.....................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................101
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chon
* đề tài
1.1. Thế giới nghệ thuật là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
giá là một trong những nhà văn đi tiên phong trong việc hiện đại hóa và cách
tân tiểu thuyết. Sau khi “trình làng” cuốn tiểu thuyết đầu tay Vào cõi (Nxb.
Thanh niên, 1991), bút danh nhà văn đã trở nên quen thuộc trong đời sống
văn học. Nguyễn Bình Phưong được bạn đọc biết đến nhiều hon với sự xuất
hiện liên tiếp những cuốn tiểu thuyết có cách viết mới mẻ cả về nội dung và
hình thức: Những đứa trẻ chết già (Nxb. Văn học, 1994), Người đi vẳng
(Nxb. Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nxb. Thanh niên, 2000), Bả giời
(Nxb. Quân đội nhân dân, 2004), Thoạt kỳ thủy (Nxb. Hội nhà văn, 2004),
Ngồi (Nxb. Đà Nang, 2006). Trong khoảng mười lăm năm, không kể các thể
loại khác, Nguyễn Bình Phưong đã có tới bảy cuốn tiểu thuyết. Chưa phải là
một khối lượng đồ sộ nhưng đặt trong bối cảnh thực tế của đòi sống văn học
nước nhà những năm gần đây thì không nhiều nhà văn Việt Nam làm được
điều đó. Không những vậy các tác phẩm của Nguyễn Bình Phưong còn có
tính hệ thống ở những vấn đề mà nhà văn lựa chọn, có sự thống nhất về nghệ
thuật viết, với quan niệm “nghệ thuật tiểu thuyết ở một chừng mực nào đó là
nghệ thuật của sự nối kết các điểm chính với nhau chứ không phải sự nhẫn nại
đi theo lộ trình tuần tự, đều đặn của thời gian và sự kiện”. Nguyễn Bình
Phương đã viết trong sự “trôi dạt” của cảm xúc, đào sâu vào miền vô thức.
Chính điều đó đã tạo nên trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương một thế giới
nghệ thuật độc đáo. Thế giới ấy là sự tổng hòa mối quan hệ của các yếu tố
như: nhân vật, thời gian - không gian, ngôn ngữ - giọng điệu... và chúng tạo
thành một chỉnh thể thống nhất.
Nguyễn Bình Phương luôn có ý thức đem đến cho bạn đọc một thế
giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần có giá trị cao về mặt nghệ
3
thuật. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương hấp dẫn người đọc trước hết ở sự
mới lạ. Chính sự mới lạ ấy thu hút giới nghiên cứu và phê bình văn học, đã có
rất nhiều những nghiên cứu, đánh giá về tiểu thuyết của cây bút tài năng này.
v ề kết cấu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phưong, tác giả Thụy Khuê
trong Bài viết “Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cậm Cam hoang vu của Nguyễn
Bình Phương” đánh giá Thoạt kỳ thủy là cuốn tiểu thuyết khác thường, khó
đọc bởi lối hành văn và cấu trúc truyện rất lạ... Những yếu tố vừa kịch, vừa
phi kịch, vừa thơ, vừa phi thơ là những mấu chốt cấu trúc tiểu thuyết [30].
Tác giả Nguyễn Chí Hoan trong “Hành trình qua trống rỗng” quan tâm
đến kỹ thuật của tiểu thuyết Ngồi ở lối kết cấu lập thể, kết cấu thời gian đồng
nhận, lối hành văn với sự giản yếu của các câu văn.
Ngoài ra, còn một số bài phê bình, giới thiệu tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương của Nxb. Hội nhà văn, của các trang báo mạng và các công trình
nghiên cứu đề cập đến phạm vi tiểu thuyết Việt Nam đương đại lấy các sáng
tác của Nguyễn Bình Phương như là các minh chứng để làm sáng tỏ vấn đề. Có
thể kể đến một số công trình như: “Nhận diện thi pháp thể loại tiểu thuyết mới
ở Việt Nam sau 1990” của Phùng Phương Nga, “Tiểu thuyết Việt Nam những
năm đầu thế kỷ XXI” của Cao Thị Hà, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986 - 2006) của Mai Hải Oanh...
Chúng tôi cũng tham khảo một số bài phỏng vấn giới thiệu về nhà văn
Nguyễn Bình Phương được đăng tải trên cac website:
“Nguyễn Bình Phương: Văn học mênh mông như cuộc sống”
(diendan.thotre.com).
“Xôn xao với Ngồi của Nguyễn Bình Phương” (Evan.com.vn).
“Nguyễn Bình Phương tạo nét mới cho tiểu thuyết Việt Nam”
(VnExpress)...
Bên cạnh đó, tác giả luận văn còn tham khảo một số bài báo trong
nước và các tạp chí trên mạng Internet: Báo Pháp luật, Văn hóa, Văn nghệ
trẻ..., các trang website: , ,
, phongdiep.net...
5
6
biểu hiện của nó, người viết có sự liên hệ so sánh với một số tiểu thuyết
đưong đại khác nhằm làm sáng tỏ nét độc đáo trong sáng tạo của nhà văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thế giới nghệ thuật là một phạm vi rộng thể hiện qua nhiều phương
diện như: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian, quan niệm nghệ
thuật... Các yếu tố này thể hiện đan xen vào nhau trong tác phẩm và phụ thuộc
vào tư duy của nhà văn, góp phần làm nên tính sinh động của cái được miêu tả.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và qua thực tiễn khảo sát tác phẩm, chúng
tôi chỉ khai thác một số biểu hiện rõ nhất của thế giới nghệ thuật, đó là: Thế giới
nhân vật, không gian và thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu.
Nhóm tác phẩm chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu gồm 3 tiểu
thuyết quan trọng của Nguyễn Bình Phương:
- Thoạt kỳ thủy, Nxb Văn học (2005).
- Người đi vắng, Nxb Phụ nữ (2006).
- Ngồi, Nxb Đà Nang (2006).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống;
- Phương pháp phân tích - tổng họp;
- Phương pháp so sánh, so sánh hệ thống và so sánh loại hình.
6. Đóng góp của luận văn
Khái quát lý thuyết về thế giới nghệ thuật, vận dụng để tìm hiểu thế
giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
Chỉ ra và phân tích những khía cạnh mới của thế giới nghệ thuật tiểu
thuyết Nguyễn Bình Phương trong tương quan với một số nhà văn đương
thời. Qua đó, khẳng định vị trí, đóng góp của Nguyễn Bình phương trong đời
sống văn chương đương đại.
7
đoạn trước, đa dạng và phong phú với nhiều kiểu dạng nhân vật, tính cách.
Điều này thể hiện rõ hơn khả năng nhạy bén trong việc tiếp cận và khai thác
hiện thực của các nhà văn, đồng thời thấy được hiện thực cuộc sống luôn bộn
bề và phức tạp. Nó thể hiện cái nhìn toàn vẹn về đời sống bằng tính đa
nguyên của nghệ thuật. Tiểu thuyết thời kỳ này đã xây dựng được một số kiểu
dạng: Nhân vật tha hóa, nhân vật sám hối, tự thú, nhân vật cô đơn, nhân vật
11
phi lí...Thông qua sự xuất hiện của những kiểu nhân vật ấy, chúng ta phần nào
nhận ra tiến trình cách tân nghệ thuật ở thể loại tiểu thuyết.
1.2. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Bình Phương
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm trung tâm của thi
pháp học, nó phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của
văn học. ở một phương diện nào đó, thuật ngữ quan niệm nghệ thuật về con
người có giá trị tương đương với khái niệm "tính tư tưởng" trong tác phẩm văn
học. Nếu tư tưởng là linh hồn của tác phẩm (Korolenko) thì quan niệm nghệ
thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, chiều sâu nhân bản của tác phẩm đó,
đồng thời là thước đo sự tiến bộ của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con
người là cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lí giải
về con người của nhà văn được hóa thân thành các nguyên tắc, các phương
tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị
thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật đó. Quan niệm nghệ thuật về con người
gắn liền với vốn sống, vốn văn hóa, tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn và ý
thức hệ của cộng đồng xã hội. Nói ngắn gọn thì quan niệm nghệ thuật về con
người chính là cách cắt nghĩa của văn học về con người thông qua các phương
tiện nghệ thuật đặc thù. Mỗi nhà vãn đều có quan niệm nghệ thuật riêng và
luôn chịu sự chi phối của các quan niệm đó. Có tác phẩm văn học nghĩa là đã
tồn tại một quan niệm nghệ thuật nhất định về con người và cuộc đời.
("Chị em nhiêu, Quỳnh nọ Quỳnh kia và con mèo tam thể"), những kẻ đi tìm
kho báu (Những đứa trẻ chết già), sự suy tàn của trí nhớ (Trí nhớ suy tàn).
Nguyễn Bình Phương nhìn con người ở góc độ chân thực nhất, thấy đầy đủ
bản năng, vô thức, sự phức tạp và cả sự cô đơn, nhỏ bé của con người trước
bối cảnh mới. Vì thế, không dùng khái niệm tốt - xấu đối với nhân vật,
Nguyễn Bình Phương muốn nhìn con người như chính con người của đời
13
sống thực vậy. Với cách nhìn như vậy, ta không bắt gặp trong tác phẩm của
anh những nhân vật hành động, nhân vật anh hùng mà ở đó chỉ có những con
người có thể là thiếu hụt về nhân cách, có thể là đám đông thiếu học, có thể là
những người điên, "người đi vắng"...
Đọc Nguyễn Bình Phương, ta thấy dường như nhà văn không có ý
định hàn gắn lại, sắp xếp lại thế giới đổ nát, không mong muốn đưa chúng về
quy củ, toàn vẹn. Khác với các cây bút trước 1975 luôn cố công sắp xếp, lắp
ghép lại hiện thực, Nguyễn Bình Phương lại chấp nhận những mảnh vỡ của
hiện thực, coi sự tồn tại của chúng là tất yếu. Cũng có thể nhiều người thấy lạ,
thấy không quen, thậm chí dị ứng với lối viết của anh. Đây cũng là điều dễ
hiểu bởi lẽ có một thời, người ta đã quen với những "đại tự sự", những hiện
thực tròn trịa, đẹp đẽ với những cung bậc nhịp nhàng, uyển chuyển. Ta có thể
thấy Nguyễn Bình Phương (và một số cây bút văn xuôi đương đại) đã có cảm
quan mới mẻ về hiện thực, anh không phải gồng mình lên để tô vẽ, công kênh
hiện thực mà đã nhìn nó bằng một con mắt tỉnh táo. Ngòi bút của anh đã
hướng tới hiện thực đa chiều phức tạp và chấp nhận nó, coi đó là một phần
không thể khác được của cuộc sống - đó là một cái nhìn biện chứng về hiện
thực, về con người.
1.2.2. Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Trước 1975, văn học nhìn con người với tư cách người công dân, con
người dân tộc, con người giai cấp. Bởi vậy, lí luận văn học luôn xem xét nhân
Bình Phương thực sự cho chúng ta thấy những khám phá mới về đời sống,
chứng tỏ khả năng khai mở những vùng hoang vu, bí ẩn trong tâm hồn con
người. Khảo sát tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, chúng tôi nhận thấy
nhà văn tập trung xây dựng một số kiểu nhân vật như sau:
I.2.2.I. Kỉếu nhân vật người điên
Điên là một trạng thái bệnh lý của con người chỉ những người bị tổn
thương về thần kinh dẫn đến mất khả năng kiểm soát hành động, vô hình
15
chung sống bản năng và khác biệt với những người xung quanh. Trong
"Chứng điên và văn minh", M. Foucault đã xem người điên là đối tượng bị
cưỡng bách đẩy ra ngoại biên của đời sống bởi tinh thần phản kháng và bất tín
của họ đối với thiết chế quyền lực xã hội. Bởi vì chúng ta thực sự không có
một tiêu chí cụ thể nào để xem một người điên thực sự "điên" vì mọi suy nghĩ
của họ đơn giản chỉ "khác" chúng ta, chứ không thể xem những suy nghĩ đó là
"rồ dại" hoặc nguy hiểm có tính bệnh lý. v ề vấn đề này, không chỉ M.
Foucault quan tâm, nó còn được quan tâm rộng rãi trong xu hướng "triết học
hóa về con người" của phương Tây hiện nay, được phổ biến rộng rãi trong
chủ nghĩa hậu cấu trúc và chủ nghĩa hậu hiện đại. Trên thực tế, điều mà các
nhà lí luận quan tâm là khái niệm "người khác" trong con người hay thái độ
của bản thân nó đối với "cái khác lạ trong chính nó". Đồng thời, tính chất "bí
ẩn", "vô thức" của "con người khác đó" đặt người ta mấp mé giới hạn, hoặc
thường là vượt khỏi giới hạn được xem là những chuẩn mực tâm lý, xã hội,
đạo đức, những cái cung cấp cơ sở khiến anh ta bị nhìn nhận như một kẻ
"điên khùng", "rồ dại".
Nghiên cứu về người điên trong văn chương, Đoàn cầm Thi đã khái
quát thành hai loại người điên:
Thứ nhất, kiểu điên - "vĩ đại" là "những bậc hiền triết chỉ tồn tại với
thiên hướng duy nhất là tra tấn vũ trụ và thời đại mình" như Don Quichottle
điên trong cuộc sống và trong văn học bao giờ cũng có mẫu số chung" [17].
Như vậy, quan sát và sự cố gắng dựng lại "người điên " sao cho thật sinh động
cũng trở thành một động lực sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Trong tác
phẩm của mình, nhà văn luôn tìm tòi những hình ảnh, chi tiết, những ngôn
ngữ... nhằm lột tả được cái "thần" của những người điên chứ không dừng lại
ở biểu hiện bề ngoài. Vì vậy, ta bắt gặp trong tác phẩm những đoạn viết tưởng
như được sắp xếp từ nhiều mạch suy tư, nhiều lời tâm sự của một thế giới
nhân vật đa dạng.
17
Trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, ta thấy nhân vật người điên
xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần trong các tác phẩm giống như một "mô típ".
Có khi đó là những nhân vật mang đầy đủ tiểu sử như Tính trong Thoạt kỳ
thủy, như Cương trong Người đi vẳng, hay Quang, Mộc trong Những đứa trẻ
chết già. Nhưng cũng có khi đó là những nhân vật vô danh như người đàn
ông điên đứng dưới gốc cây điệp vàng trong Trí nhớ suy tàn, một gã điên
đứng dưới mưa trong Ngồi. Đôi khi, họ còn tập họp thành một đám đông như
trong Thoạt kỳ thủy. Đó là những con người không bình thường về suy nghĩ,
chứa đựng một thế giới tâm lý phức tạp không dễ gì hiểu được. Sử dụng "mô
típ " này, Nguyễn Bình Phương muốn phát huy một hiệu quả nghệ thuật, giống
như sự đối ứng khi nhà văn luôn muốn đi sâu khám phá thế giới vô thức ở con
người và những người điên chính là một trong những cửa ngõ quan trọng dẫn
dắt anh vào vùng sâu tâm lý ấy. Anh đã từng nói: "Tôi cho rằng người điên
chứa trong họ một phần rất lớn phẩm chất của nghệ thuật... ai cũng có một
người điên trong chỉnh mình, chỉ cỏ đậm nhạt khác nhau mà thôi” [17].
Trong những tiểu thuyết mà người viết khảo sát thì Thoạt kỳ thủy là
tiểu thuyết mà kiểu nhân vật người điên xuất hiện nhiều nhất và cũng gây ấn
tượng nhất. Cả một làng "những người điên", "một lũ điên". Nhân vật điển
hình là Tính - một con người dị biệt, con bệnh tâm thần mắc chứng điên loạn.
trong ám ảnh của Tính, trong mơ trăng là sự thống trị của địa ngục, trăng mất
đi vẻ lung linh, thơ mộng vốn có, thay vào đó là một ánh trăng hắc ám. Tính
luôn ám ảnh bởi sự đe dọa và hủy diệt của ánh trăng. Trăng choáng ngợp hết
không gian của giấc mơ, nó hiện lên với sự biển ảo màu sắc: "Trời trắng xóa,
có một vầng trăng đen, to bằng đít chén nằm ở đỉnh. Trời đối thành đen, vầng
trăng lại đỏ. Cứ thế đổi màu liên tục cho đến lúc choàng tỉnh" [53, trl64].
Chính vì sợ trăng mà sau này, do lầm tưởng ánh sáng từ chiếc thánh giá là
trăng, Tính đã giết ông khoa như một hành vi tự vệ:
19
"Ông Khoa xoay sang trải, chiếc thảnh giả bẳt nắng vụt lóe lên rọi
thẳng vào mẳt Tinh.
- Trăngỉ
Tinh lẳp bẳp rút phắt con dao sau lưng ra, sản lại chỗ ông Khoa, vung
mạnh... Mẳt Tinh đỏ giật, nhảy liên tục... Chiếc thảnh giả trên cổ ông khoa
vẫn lóe sáng rung rinh. Tính vươn tay giật mạnh" [53, tr.156-157].
Là một người mắc chứng điên loạn, Tính luôn mang trong mình
những ham muốn dị biệt. Ngay từ nhỏ, Tính đã "thích lê la một mình, bạ gì
cũng cầm, bạ gì cũng liếm, cũng cho vào mồm" [53, ừ. 15]. Tính luôn bị ám
ảnh bởi hành vi bạo lực. Nó thấm vào máu, đi cả vào trong những giấc mơ
của Tính. Câu chuyện mà Tính say mê đầu đời là những chuyện "cẳn cổ" Mỹ,
cảnh đốt trại tù binh của Hưng, cảnh Tây thu từng đống người của ông Thụy.
Vật mà Tính say mê đầu đời không phải là đồ chơi mà là con dao chọc tiết lợn
sáng quắc của ông Điện... Lời "động viên" mà Tính lưu tâm nhất là câu nói của
Hưng: "Mày sợ gì. Hồi ở chiến trường tao giết người như ngóe" [53, tr.83].
Được Hưng kể cho nghe những câu chuyện xảy ra trong chiến tranh, trong
những giấc mơ của Tính, lửa giống như một niềm ám ảnh ma quái: "thể là lửa
vụt lên như cải lưỡi liếm mặt", "chảy đùng đùng, nó thiêu chết bao nhiêu lợn "
[53, tr.141]. Ngọn lửa là nỗi sợ hãi của Tính, ngọn lửa của sự đe dọa hủy diệt,