TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
MỐI LIÊN QUAN GIỮA THANG ĐIỂM OSWESTRY
VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ
Ở BỆNH NHÂN ĐAU THẦN KINH TỌA DO THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
Nguyễn Văn Hùng, Phạm Hoài Thu, Phạm Hoài Giang
Trường Đại học Y Hà Nội
Sử dụng các thang điểm lâm sàng trong lượng giá mức độ nặng của đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm
đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu (1) áp dụng thang điểm Oswestry
đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm; (2) đánh giá mối liên quan giữa
thang điểm Oswestry và các yếu tố lâm sàng, cộng hưởng từ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành trên
70 bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Bạch Mai, từ 03/2014 đến 08/2014,
chẩn đoán đau thần kinh tọa theo tiêu chuẩn của Koes và chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng có thoát vị
hoặc phồng đĩa đệm. Kết quả cho thấy mức độ bệnh theo thang điểm Oswestry chủ yếu gặp ở ba mức độ là
độ 2 (25,7%), độ 3 (42,9%), độ 4 (24,3%). Điểm Oswestry trung bình là 49,64 ± 16,43. Điểm Oswestry trung
bình cao hơn ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng của hội chứng cột sống và một số triệu chứng của hội
chứng rễ (p < 0,05). Điểm Oswestry trung bình theo số tầng thoát vị đĩa đệm, thể thoát vị đĩa đệm không có
sự khác biệt (p > 0,05) nhưng tăng khi mức độ hẹp ống sống tăng lên (p < 0,05). Nên sử dụng thang điểm
Oswestry đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm. Điểm Oswestry trung
bình có mối liên quan với mức độ hẹp ống sống.
Từ khoá: Đau thần kinh tọa, thang điểm Oswestry, cộng hưởng từ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau thần kinh tọa còn được gọi là đau thần
xem như một phương pháp có giá trị trong hỗ
kinh ngồi hay thần kinh hông to, là một bệnh lý
trợ chẩn đoán và định hướng điều trị đau thần
kinh tọa [4]. Tuy nhiên, do giá thành và các yêu
tính và thường xuyên tái phát [3]. Hiện nay,
trên lâm sàng [5]. Hiện nay trên thế giới có
khoảng 20 thang điểm, trong đó có 7 thang
chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng được
điểm thường được sử dụng bao gồm thang
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Văn Hùng, Trường Đại học Y
Hà Nội
Email:
Ngày nhận: 6/8/2015
Ngày được chấp thuận: 10/9/2015
42
điểm Oswestry, Quebec, SF-36, thang điểm
của hội chỉnh hình Nhật Bản (JOA), thang
điểm Roland - Morris, bảng lượng giá
Greenough và Fraser…[6 - 8]. Ở Việt Nam,
việc sử dụng các thang điểm đánh giá đau
TCNCYH 97 (5) - 2015
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
thần kinh tọa nói chung và thang điểm
- Đánh giá các tổn thương trên cộng
ngủ, sinh hoạt tình dục, hoạt động xã hội, đi
du lịch.
1. Đối tượng: bệnh nhân điều trị nội trú tại
khoa Khớp, bệnh viện Bạch Mai, từ tháng 03
Cách tính điểm Oswestry: với mỗi tiêu chí
cho điểm tăng dần từ 0 đến 5 điểm.
năm 2014 đến tháng 08 năm 2014.
1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Điểm thực tế: là tổng điểm của các tiêu
chí được chọn.
- Điểm lý thuyết: là số điểm tối đa của mỗi
- Bệnh nhân được chẩn đoán đau thần
kinh tọa trên lâm sàng theo tiêu chuẩn của
tiêu chí x số tiêu chí được chọn.
- Điểm Oswestry (%) = (điểm thực tế/điểm
Koes [4] và được chụp cộng hưởng từ cột
lý thuyết) x 100%.
Cách đánh giá kết quả:
sống thắt lưng có thoát vị hoặc phồng đĩa đệm.
- Bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia
chính, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày bắt
đầu bị ảnh hưởng. Giai đọan này cần có kế
hoạch điều trị cụ thể.
- 61 - 80% (tàn phế): Đau ảnh hưởng đến
cả hoạt động, tâm lý, đời sống của bệnh nhân.
Giai đoạn này cần phải điều trị tích cực.
- 81 - 100% (tồi tệ): Bệnh nhân chỉ sinh
hoạt trên giường bệnh.
Đánh giá mối liên quan giữa mức độ nặng
theo thang điểm Oswestry và các yếu tố lâm
43
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
sàng, cộng hưởng từ.
nhất là từ 50 - 59, chiếm 31,4%.
- Bệnh gặp nhiều hơn ở nữ (58,6%).
3. Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng
phần mềm SPSS 16.0.
- Đặc điểm lâm sàng hội chứng cột sống:
100% các bệnh nhân đều có biểu hiện đau tại
4. Đạo đức nghiên cứu
cột sống thắt lưng, nghiệm pháp tay đất
hẹp ống sống 74,3%.
cứu và đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ
- Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên
cứu là 51,1 ± 13,3 tuổi. Nhóm tuổi mắc cao
2. Áp dụng thang điểm Oswestry đánh
giá mức độ nặng của bệnh nhân đau thần
kinh tọa do thoát vị đĩa đệm
p < 0,05
42,9%
0,60%
0,20%
0,20%
22,3%
25,7%
0,40%
4,3%
2,9%
0,00%
Độ 1
Độ 2
Triệu chứng
Tính chất
X ± SD
n
Có
32
56,28 ± 17,86
Không
38
43,47 ± 13,94
Có
40
55,12 ± 16,33
Không
30
Co cứng cơ cạnh sống
Mất đường cong sinh lý
Khoảng cách tay đất > 0 cm
p
< 0,05
< 0,05
< 0,05
< 0,05
Điểm Oswestry trung bình của nhóm bệnh nhân có triệu chứng như co cứng cơ cạnh sống,
mất đường cong sinh lý, nghiệm pháp Schober dương tính, khoảng cách tay đất > 0 cm cao hơn
ở nhóm không có triệu chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05.
Bảng 2. Điểm Oswestry trung bình của bệnh nhân theo các triệu chứng
của hội chứng rễ thần kinh
Triệu chứng
Dấu hiệu Valleix dương tính
Dấu hiệu bấm chuông dương tính
Dấu hiệu Lassègue
Rối loạn cảm giác
Rối loạn phản xạ gân xương
44,24 ± 15,39
Có
63
51,10 ± 16,72
Không
7
33,43 ± 10,11
Có
27
56,78 ± 16,06
Không
43
44,65 ± 16,02
Có
19
n
X ± SD
Có
12
56,00 ± 15,69
Không
58
47,95 ± 17,05
Có
1
68
Không
69
49,06 ± 16,96
p
46,24 ± 14,09
Hẹp tuyệt đối
23
56,96 ± 17,89
Tổng
70
49,64 ± 16,34
p
< 0,05
Mức độ hẹp ống sống càng nặng thì điểm Oswestry trung bình càng tăng. Sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê, p < 0,05.
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
gặp ở độ 3 cao nhất vì biểu hiện lâm sàng độ
khi lượng giá mức độ nặng của đau thần kinh
3 là các triệu chứng bộc lộ rõ, bắt đầu ảnh
lực trong khoang màng cứng. Như vậy bệnh
ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động di chuyển,
biệt về điểm trung bình giữa hai nhóm cũng có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Các dấu hiệu
thay đổi tư thế và gắng sức của bệnh nhân.
Tiêu chí đánh giá ít bị ảnh hưởng nhất là
trên lâm sàng của hai hội chứng cột sống và
hội chứng rễ thần kinh là các dấu hiệu ảnh
“ngủ”, điều này có thể giải thích ở trạng thái
hưởng nhiều đến số điểm đánh giá theo thang
nằm bệnh nhân không phải chịu sức ép dồn
xuống chân như khi đứng hay đi lại vì vậy
điểm. Như vậy có sự phù hợp giữa mức độ
nặng đánh giá theo chủ quan của bệnh nhân
giảm được sự chèn ép rễ thần kinh do đó đỡ
gây ra khó chịu cho bệnh nhân. Đánh giá “khả
bằng thang điểm Oswestry và khám lâm sàng
của thầy thuốc.
năng tình dục” là một trở ngại lớn khi áp dụng
giá được. Vì vậy có thể sử dụng thang điểm
Oswestry sửa đổi không lượng giá tiêu chí “đi
bình càng tăng. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05. Kết quả trong nghiên
du lịch” cho phù hợp với điều kiện kinh tế của
bệnh nhân Việt Nam.
cứu của chúng tôi tương đồng với các tác giả
khác như Phan Việt Nga (2010), Nguyễn Minh
Điểm trung bình thang điểm Oswestry giữa
các nhóm tuổi không có sự khác biệt có ý
Hùng (2011), khi mức độ hẹp ống sống càng
tăng thì tình trạng lâm sàng càng nặng. Như
nghĩa thống kê (p > 0,05). Như vậy ở các độ
vậy mức độ hẹp ống sống có mối liên quan
tuổi đều có thể gặp bệnh nhân các mức độ
nặng, nhẹ khác nhau. Chúng tôi cũng không
với mức độ nặng trên lâm sàng đánh giá theo
thang điểm Oswestry. Vì vậy có thể dự đoán
nhận thấy được mối liên quan ý nghĩa giữa
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Điểm Oswestry trung bình cao hơn ở nhóm
bệnh nhân có triệu chứng của hội chứng cột
sống và một số triệu chứng của hội chứng rễ.
Điểm Oswestry trung bình theo số tầng
thoát vị đĩa đệm, thể thoát vị đĩa đệm không
có sự khác biệt nhưng tăng khi mức độ hẹp
ống sống tăng lên, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê.
Lời cám ơn
Để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi
xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Bệnh
viện Bạch Mai, Khoa Cơ xương khớp Bệnh
viện Bạch Mai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Qin Z., Liu X., Yao Q et al (2015). Acupuncture for treating sciatica: a systematic
review protocol. BMJ Open, 5(4), 1 - 5.
2. Konstantinou K, Dunn KM (2008).
Review of epidemiological studies and
prevalence estimates, Spine (Phila Pa 1976)
33, 2464 - 2472.
3. Suthar P, Patel R, Mehta C, Patel N (2015).
MRI evaluation of lumbar disc degenerative
disease. J Clin Diagn Res, 9(4), 4 - 9.
4. B W Koes, M W van Tulder, W C Peul
(2007). Diagnosis and treatment of sciatica,
evaluating the severity of patients with sciatica caused by spinal disc herniation. (2) To evaluate
the relationship between Oswestry scale and clinical symptoms, MRI. Cross-sectional descriptive
stuy was conducted on 70 patients with sciatica, diagnosed by Kose criteria, hospitalized in Rheumatology Department, Bach Mai hospital from March 2014 to August 2014. Results showed that
severity of the diseases according to Oswestry scale was observed mostly in 3 levels: level 2
48
TCNCYH 97 (5) - 2015
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
(25.7%), level 3 (42.9%) and level 4 (24.3%). The average Oswestry scale was 49.64 ± 16.43.
The average Oswestry scale was higher in patients with spinal syndrome and some symptoms of
root syndrome (p < 0.05). There was no statistical difference between the average Oswestry scale
and the number of discs herniated and types of herniation (p > 0.05). However, the average
Oswestry scale was proportionally increased with the level of spinal stenosis (p < 0.05). Oswestry
scale should be used to evaluate levels of severity of patients with sciatica caused by disc
herniation. There was the relationship between the average Oswestry scale and levels of spinal
stenosis.
Keywords: Sciatica, Oswestry scale, MRI
TCNCYH 97 (5) - 2015
49