Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Đề ra: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
(Nguyễn Minh Châu)
HƯỚNG DẪN
I. MỞ BÀI
“Chiếc thuyền ngoài xa” là sáng tác tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Minh Châu
thời kì đổi mới sau 1975. Tác phẩm rất tiêu biểu cho hƣớng tiếp cận đời sống từ
góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Có thể nói, đây là một trong
những tác phẩm chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc.
II. THÂN BÀI
1. Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thuộc giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà
văn Nguyễn Minh Châu. Tác phẩm kể về tình huống của nghệ sĩ Phùng khi anh về
chụp bức tranh cảnh biển tại một bãi biển miền Trung. Tại đây anh phát hiện bức
tranh thiên nhiên đẹp mà trong cuộc đời cầm máy ảnh anh chƣa bao giờ đƣợc thấy.
Nhƣng đằng sau bức tranh đẹp ấy là cả một sự thật nghiệt ngã về cuộc sống của
một gia đình hàng chài. Cảnh ngƣời chồng vì đói nghèo thất học đã xem việc đánh
vợ là phƣơng thức giải tỏa những khổ đau cho mình. Rồi ở tòa án huyện anh đã
chứng kiến câu chuyện đầy cảm động của ngƣời đàn bà hàng chài khiến anh ngộ ra
biết bao điều về cách tiếp cận cuộc sống. Tất cả đƣợc đều nhìn qua cái nhìn đầy
nhân đạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính
đƣợc tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của những con
ngƣời, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà văn còn thể hiện
sự nâng niu, trân trọng với những nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vƣơn
dậy của con ngƣời dù trong bất kỳ hòan cảnh nào của cuộc đời.
2. Giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”:
a. Biểu hiện thứ nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền
ngoài xa” đó là sự đồng cảm của nhà văn đối với cuộc đời người lao động sau
chiến tranh. Qua đó nhà văn lên án thói bạo hành trong cuộc sống gia đình
đang diễn ra trong xã hội: nhà văn đã miêu tả cuộc sống ấy với bao nỗi nhọc
III. KẾT BÀI
Tóm lại, tinh thần nhân đạo trong “Chiếc thuyền ngoài xa” chính là tấm lòng yêu
thƣơng, thông cảm, băn khoăn , trăn trở của Nguyễn Minh Châu trong việc phát
hiện đời sống và con ngƣời ở bình diện đạo đức thế sự. Qua đó tác phẩm thể hiện
quan niệm nghệ thuật của nhà văn ở giai đọan sáng tác thứ hai : Văn học nghệ
thuật phải gắn bó với cuộc sống, phải vì con ngƣời...Quan niệm ấy đã khiến tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu ở giai đọan này giàu nhân bản.Đọc tác phẩm của
ông, ngƣời ta đau đớn, day dứt về thân phận con ngƣời và cùang tràn đầy khát
vọng làm ngƣời cao đẹp
2|Page
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Đề ra: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm "Đời thừa" của nhà văn Nam
Cao (Sách giáo khoa 11 - Nâng cao, NXB Giáo Dục 2012)
HƯỚNG DẪN
(GIÁO VIÊN PHAN DANH HIẾU)
I. MỞ BÀI
Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một cây bút xuất sắc của văn học hiện thực phê
phán trƣớc năm 1945. Nhà nhân đạo ấy đã để lại cho đời những tác phẩm thật sự
có "tấm lòng lớn" nhƣ "Đời thừa", "Chí Phèo". Trong đó, "Đời thừa" thực sự đã để
lại dấu ấn của Nam Cao về giá trị nhân đạo sâu sắc và mới mẻ.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát: Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của một tác phẩm văn học dựa trên
niềm cảm thƣơng sâu sắc của nhà văn đối với số phận nhân vật. Nhà văn từ lòng
thƣơng ngƣời mà lên án tố cáo những thế lực đã chà đạp lên quyền sống của con
ngƣời. Cũng từ lòng nhân đạo, nhà văn cũng phát hiện và ngợi ca những phẩm chất
tốt đẹp của con ngƣời và kêu gọi giải phóng cá nhân ra khỏi những khổ đau và bất
nông bằng một thứ văn quá ƣ bằng phẳng dễ dãi” của chính mình. Anh dằn vặt ghê
gớm, anh lên án chính mình "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất
lƣơng, còn sự cẩu thả trong văn chƣơng thì thật là đê tiện".
Chính nỗi lo về tiền bạc đã buộc anh phải viết những bài trái với lƣơng tâm
và trách nhiệm. Trong đầu anh luôn quay cuồng với những tính toán về giá cả sinh
hoạt, về bữa ăn hằng hàng… thì đâu còn chỗ cho văn chƣơng nữa. Anh phải viết
thật nhanh, thật nhiều để ngƣời vợ, đàn con và chính anh khỏi chết đói. Giá nhƣ
anh cứ bỏ dứt cái mộng văn chƣơng thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế !
Nhƣng anh cần nghĩ tới tác phẩm của anh – các tác phẩm cho toàn nhân loại nên
anh lại càng đau đớn, càng khổ đau. Chao ôi ! “Đau đớn thay cho những kiếp sống
muốn cất cánh bay cao nhƣng lại bị áo cơm ghì sát đất” (Sống mòn). Đó chính là bi
kịch của cuộc đời viết văn của anh – bi kịch của những giấc mộng văn chƣơng
chính là ở chỗ đó !
Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi
kịch thứ hai – bi kịch của một con ngƣời. Giấc mộng văn chƣơng sụp đổ qua
những bài viết ẩu. Thế nhƣng Hộ vẫn còn chút an ủi. Đó chính là cuộc sống, sự tồn
tại của vợ con anh. Quả là một sai lầm khi anh kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho
sự sụp đổ các giấc mộng văn chƣơng chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia.
Thất vọng trong văn chƣơng, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến anh tìm
niềm vui trong men rƣợu. Và rƣợu - kẻ "làm đỏ mặt và đen danh dự" đã đƣa Hộ
thành kẻ vi phạm nguyên tắc tình thƣơng. Anh trở thành kẻ vũ phu, kẻ vô học.
Rƣợu đẩy Hộ đến bờ vực của sự tha hóa. Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về
đƣợc đến nhà. Anh chỉ biết anh đã tỉnh dậy trên giƣờng nhà mình khi tay chân rã
rời. Men rƣợu “chết tiệt” ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất
hiện. Anh đã đánh đập vợ, ngƣời vợ hiền lành tận tuỵ của mình không biết bao
4|Page
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Hộ lên án thứ văn chƣơng rẻ tiền, hời hợt, dễ dãi. Thứ văn chƣơng "cẩu thả", "bất
lƣơng". Hộ yêu cầu văn chƣơng phải sáng tạo, bởi "văn chƣơng chỉ dung nạp
những ngƣời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chƣa ai khơi và sáng tạo
những gì chƣa có". Hộ đầy hoài bão về giấc mơ chinh phục đỉnh cao. Anh là nhà
văn chân chính.
5|Page
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Không chỉ vậy, Nam Cao còn phát hiện ra Hộ là con ngƣời giàu lòng nhân ái.
Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tƣơng lai của mình, anh đã nói: tác
phẩm có giá trị là tác phẩm “ca tụng lòng tƣơng, tình bác ái, sự công bình”. Trong
văn chƣơng, anh muốn ca ngợi tình thƣơng và trong cuộc đời thực, tình thƣơng là
tất cả. Chính vì lẽ sống tình thƣơng của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi
những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Những giọt nƣớc mắt
của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động. Họ muốn khóc cho đến
khi “bao nhiêu xƣơng thịt cứ tan ra thành nƣớc mắt” nhƣng gặp anh, tình thƣơng
của anh đã toả rạng đến giúp họ thoát khỏi những đớn đau. Một ngƣời dám bỏ cái
đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là ngƣời dũng cảm lắm sao
! Chính tình thƣơng - lẽ sống tình thƣơng đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp
biết dƣờng nào!
d. Biểu hiện cuối cùng của giá trị nhân đạo là niềm tin của Nam Cao vào khả
năng vươn dậy của nhân vật. Cuối tác phẩm là hình ảnh Hộ ôm từ vào lòng. Bao
nhiêu đau đớn, bao nhiêu hối hận dồn nén lại ở Hộ để rồi bật lên thành tiếng khóc.
Tiếng "khóc nức nở, tiếng khóc bật ra như quả chanh người ta bóp mạnh" của Hộ
cho ta thấy sự hối hận và đau khổ lên đến tột cùng của ngƣời trí thức tiểu tƣ sản
nghèo có nhân cách. Giọt nƣớc mắt ấy đã nâng đỡ Hộ, thanh lọc tâm hồn anh, giúp
anh đứng vững trên bờ vực thẳm của sự tha hoá. Chắc chắn đằng sau những giọt
nƣớc mắt ấy là sự "trở về" của nhà văn Hộ.
Hồ Chí Minh
BÀI GIẢNG ĐÃ CÔ ĐÚC, NGẮN GỌN, DỄ HIỂU
BẢN QUYỀN - PHAN DANH HIẾU
Phục vụ cho đề: Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh qua Tuyên
ngôn độc lập (hoặc tính luận chiến)
I. KHÁI QUÁT CHUNG
(Học thuộc lòng phần này để làm mở bài và khái quát trƣớc khi phân tích)
1. Tác giả: Hồ Chí Minh không chỉ biết đến là một vị lãnh tụ tài ba, kiệt xuất của
dân tộc Việt Nam mà còn đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà văn, nhà thơ lớn.
Ngƣời để lại nhiều tác phẩm lớn ở nhiều thể loại truyện, ký, thơ ca, văn chính luận.
Trong đó “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu mực, một nghệ
thuật lập luận tài tình có một không hai trong lịch sử văn học dân tộc.
2. Tác phẩm:
Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền khắp cả nƣớc về tay nhân dân.
Ngày 2.9.1945, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn này trƣớc hàng vạn đồng bào
thủ đô, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên độc lập tự chủ. Tác phẩm là
kết tinh của chủ nghĩa yêu nƣớc của khát vọng tự do, hòa bình và tự chủ.
II. NỘI DUNG TÁC PHẨM
1. Mở đầu, Người nêu lên cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản Tuyên
7|Page
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Ngôn:Ngƣời trích dẫn hai bản tuyên ngôn độc lập của Pháp và Mỹ: Tuyên ngôn
độc lập của Mĩ (1776): “Tất cả mọi ngƣời sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa
đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đƣợc. Trong những quyền ấy,
có quyền đƣợc sống, quyền sung sƣớng và quyền tự do”. Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền của Pháp (1791) cũng đã nói: “Ngƣời ta sinh ra tự do bình đẳng về
quyền lợi và phải luôn tự do bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai
8|Page
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
những luật pháp dã man. Chúng ... ngăn cản việc thống nhất nƣớc nhà của ta, để
ngăn cản dân tộc ta đoàn kết… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trƣờng học...Chúng
thẳng tay chém giết những ngƣời yêu nƣớc thƣơng nòi của ta. Chúng tắm các cuộc
khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dƣ luận, thi hành chính
sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rƣợu cồn để làm cho nòi giống ta suy
nhƣợc”.
Chưa hết, về mặt kinh tế: chúng bóc lột dân ta đến tận xƣơng tủy, khiến cho dân
ta nghèo nàn, thiếu thốn, nƣớc ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cƣớp không ruộng đất,
hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất
là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tƣ sản ta ngóc
đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Ở hai đoạn văn trên, cái tài tình của Hồ Chủ Tịch là nghệ thuật lập luận: câu
văn lặp cấu trúc, phép điệp liên tục “chúng tuyệt đối... chúng thi hành...chúng lập
ra...chúng tắm các cuộc khởi nghĩa... chúng dùng thuốc phiện...chúng cƣớp
không...” tạo nên một liên hoàn lời, tố cáo mạnh mẽ, đanh thép khiến chúng
“không thể chối cãi” và trở tay không kịp. Mặt khác, Bác cũng tranh thủ quan tâm
đến giai cấp tƣ sản, công nhân, nông dân khơi dậy tình đoàn kết hữu ái giai cấp.
Đặc biệt từ tội ác trên của thực dân bác đanh thép kết án chúng đã gây ra cái chết
thảm thƣơng cho hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc vào nạn đói năm 1945.
Pháp kể công “Bảo hộ”: bảo hộ nghĩa là bảo vệ nhƣng chúng đã không làm
đƣợc. Bác đã tố cáo tội ác của chúng: Tội ác trong 5 năm (1940 – 1945). Trong
năm năm chúng đã bán nƣớc ta hai lần cho Nhật. Đó là mùa thu năm 1940, Nhật
xâm lăng Đông Dƣơng để mở rộng căn cứ đánh Đồng Minh... bọn thực dân Pháp
quỳ gối đầu hàng mở cửa nƣớc ta rƣớc Nhật. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi Nhật
tƣớc khí giới của quân đội Pháp, bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là quỳ
độc lập và thực sự đã trở thành một nƣớc tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lƣợng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do và độc lập ấy”.
5. Nghệ thuật:
“Tuyên ngôn độc lập” có lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực,
giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm. Giọng văn linh hoạt,
đa giọng điệu khi mãnh liệt hùng hồn, khi trang nghiêm tha thiết. Tuyên ngôn Độc
lập của Bác đã trở thành một áng văn chính luận mẫu mực nổi tiếng.
III. TỔNG KẾT
"Tuyên ngôn Độc lập" xứng đáng là một áng văn mẫu mực về nghệ thuật lập luận.
Nó đã kế tục truyền thống vinh quang của "Nam quốc sơn hà" và "Bình Ngô đại
cáo". Nó là lời nƣớc non cao cả và thiêng liêng, thể hiện sâu sắc tƣ tƣởng vĩ đại:
"Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Đọc đoạn văn cuối bản "Tuyên ngôn Độc
lập", chúng ta càng thấm thía tự hào về độc lập, tự do mà dân tộc ta đã giành đƣợc
bằng xƣơng máu của bao thế hệ, của bao anh hùng liệt sĩ.
10 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Đề 1: Cảm nhận về khát vọng nghệ thuật và bi kịch của người nghệ sĩ trong “Đàn
ghita của Lorca” và “Vĩnh biệt cửu trùng đài” – Nguyễn Huy Tưởng.
DÀN Ý
1. Khát vọng nghệ thuật:
- Vũ Nhƣ Tô là một kiến trúc sƣ tài năng. Ông khao khát điểm tô cho non sông một
“kỳ quan muôn thuở” để dân ta ngàn thu hãnh diện. Đây là một khát vọng chân
chính của một ngƣời nghệ sĩ có cái tâm, cái tài.
- Lorca khao khát cách tân nền nghệ thuật đã già nua của đất nƣớc Tây Ban Nha:
trong Vĩnh biệt cửu trùng đài – trích Vũ Như Tô.
BÀI LÀM
Trong thế giới của những ngƣời cầm bút, đôi khi mỗi ngƣời có một lối đi
riêng, một con đƣờng riêng. Nghệ thuật là thứ độc đáo trong thế giới độc đáo của
nhà văn mà không ai lặp lại trong cảm hứng sáng tạo của ngƣời khác. Tuy nhiên,
đôi lúc họ lại gặp nhau, đồng điệu với nhau đến ngỡ ngàng về điểm nhìn về niềm
cảm thông nhƣng tác phẩm vẫn là của riêng không trộn lẫn. Hộ trong “Đời thừa”
và Vũ Nhƣ Tô trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là sự “gặp gỡ và khám phá riêng
về ngƣời nghệ sĩ” của hai nhà văn Nam Cao và Nguyễn Huy Tƣởng.
Nam Cao đƣợc biết đến với tƣ cách là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực phê phán
trƣớc năm 1945 với rất nhiều tác phẩm xoay quanh nỗi khổ đau, cùng cực, không
12 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
lối thoát của con ngƣời. “Trăng sáng”, “Đời thừa”, “Sống mòn” là những tác phẩm
về tiếng kêu cứu của ngƣời trí thức nghèo”. Còn tác phẩm “Chí Phèo” là tiếng kêu
cứu đầy tuyệt vọng của ngƣời nông dân lƣơng thiện bị đẩy vào con đƣờng cùng.
Nguyễn Huy Tƣởng lại đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà văn, nhà viết kịch
hiện đại với những tác phẩm tên tuổi mang tầm lịch sử nhƣ “Bắc Sơn”, “Vũ Nhƣ
Tô”. Trong đó, “Vũ Nhƣ Tô” là một vở bi kịch lịch sử có quy mô hoành tráng nhất.
Giữa Vũ Nhƣ Tô và Hộ, là khoảng thời gian cách xa hàng thế kỷ nhƣng ở họ vẫn
có những điểm tƣơng đồng khiến khi tìm hiểu ta không khỏi ngạc nhiên.
Trƣớc hết ta thấy, sự gặp gỡ giữa Nguyễn Huy Tƣởng và Nam Cao chính là ở chỗ,
họ đều xây dựng nhân vật trí thức ở cái tài hoa, nghệ sĩ. Trong mắt của hai nhà
văn, những ngƣời nghệ sĩ là những ngƣời có khát vọng lớn, muốn đem cái tài để
phục vụ cho cuộc đời. Hộ và Vũ Nhƣ Tô là hai ngƣời nghệ sĩ nhƣ thế.
chống trả những đợt tấn công gay gắt, quyết liệt buộc Tƣơng Dực phải đi từ nhân
nhƣợng này đến nhân nhƣợng khác và cuối cùng phải chấp nhận thực hiện hai điều
kiện mà ngƣời thợ cả nêu ra: “thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này,
không thay đổi một li nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi
công ngang sĩ”. Những lời đanh thép, gan ruột của ông đã hé lộ bao nhiêu suy cảm
tinh tế, sâu xa về chân tài và sự khổ luyện để đạt đƣợc chân tài; về vai trò, trách
nhiệm của nhân tài đối với nƣớc non và những điều phải làm để phát hiện, bồi
dƣỡng nhân tài – nguyên khí của quốc gia; về mối quan hệ gắn bó và bình đẳng lẽ
ra nên có giữa công và sĩ (đặt trong thang bậc phong kiến: sĩ, nông, công,
thương)…Những điều mà dƣờng nhƣ đến tận thời điểm này không thể nói là không
còn nóng bỏng thời sự. Xây Cửu Trùng Đài, với ông còn chính là thi thố tài năng
với trời đất, tranh tinh xảo với hóa công. Nhƣ vậy, rõ ràng, khát vọng cao đẹp gắn
liền với ý thức về tài năng đã mang đến một Vũ Nhƣ Tô thật hoàn hảo giữa đời.
Nhà văn Hộ cũng thế, ƣớc mơ cao đẹp luôn gắn liền với ý thức tài năng. Hộ ghét
cay ghét đắng cái thứ văn chƣơng “vô vị, nhạt nhẽo, quấy loãng trong một thứ văn
chƣơng bằng phẳng, dễ dãi”. Ý thức của ngƣời cầm bút mách bảo hộ phải có lòng
tự trọng với nghề nghiệp bởi “văn chƣơng không cần đến những ngƣời thợ khéo
tay làm theo một vài kiểu mẫu đƣa cho, văn chƣơng chỉ biết dung nạp những ngƣời
biết đào sâu tìm tòi, sáng tạo, khơi những nguồn chƣa ai khơi và sáng tạo những gì
chƣa có”. Hộ chăm chút cho cái tài của mình ngày một thêm nảy nở, anh đọc
“chăm chú quá…Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông
khắc khổ đến thành dữ tợn”. Hộ say mê đọc sách, và đọc sách theo anh là một cách
để chăm chút tài năng: “Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tƣởng không
biết chán”. Với anh khi “gặp đƣợc một đoạn hay lắm nên ngừng đọc, ngẫm nghĩ
và để cho cái khoái cảm ngân ra trong lòng”. Anh coi văn chƣơng nhƣ một thứ đạo
lành để ngƣỡng vọng, để nguyện ngắm và đi theo. Tâm hồn anh thật sáng trong
biết bao. Không chỉ thế, Hộ còn rất coi trọng tình thƣơng. Tình thƣơng với anh là
một thứ đạo cao đẹp nhất. Anh đã từng nhủ lòng rằng mình “có thể hi sinh tình yêu
chứ không thể hi sinh tình thƣơng” bởi anh muốn làm “ngƣời” đúng nghĩa. Mất
tình thƣơng con ngƣời thành sỏi đá cao hơn sẽ trở thành dã thú. Mất tình thƣơng,
con rối cái thứ văn “rất nhẹ, rất nông” quấy loãng trong những tình cảm hời hợt,
phải viết những bài báo mà ngƣời ta đọc là quên ngay, phải “đỏ mặt” vò nát sách
khi thấy tên mình ở đó. Điều đó cắt vào tâm trí Hộ những nỗi đớn đau, bế tắc,
không lối thoát. Một kẻ coi văn chƣơng là lẽ sống, coi nghệ thuật là tất cả, ngoài
nghệ thuật ra không còn gì đáng quan tâm, kể cả đói rét cũng không thể tàn phá
đƣợc tình yêu và nỗi say mê ấy. Một kẻ đã luôn miệng nói về một tác phẩm tầm
cỡ, phá vỡ mọi giới hạn để đƣa con ngƣời đến với yêu thƣơng, bác ái công bằng.
Một kẻ luôn khao khát giải văn chƣơng cao quý để nâng tầm giá trị. Kẻ đó nay đâu
còn. Hắn là một kẻ khốn nạn, đê tiện. Một kẻ đáng khinh. Bởi hắn không mang lại
một giá trị gì cho văn chƣơng cả ngoài những thứ vô vị. Bi kịch của Hộ là ở đó.
Khổ đau của Hộ cũng từ đó mà ra.
15 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Bi kịch vỡ mộng văn chƣơng lại đẩy Hộ vào vòng xoáy của bi kịch thứ hai. Rƣợu –
màu trắng nhƣng đã làm Hộ đỏ mặt và đen danh dự. Anh hành động nhƣ một kẻ vũ
phu tàn ác, nhẫn tâm trƣớc ngƣời vợ thảo hiền, yếu đuối với bàn tay da “xanh trong
xanh lọc” đã yêu anh nhƣ cái tình “của con chó dành cho ngƣời chủ”. Bởi anh đổ
lỗi cho hoàn cảnh là vì vợ con. Anh đã vi phạm vào nguyên tắc tình thƣơng của
chính mình đạp đỗ hết bao khuôn vàng thƣớc ngọc mà anh đã đặt ra. Anh đã rơi
vào biên giới của sự xấu xa, sa đọa. Phần “ngƣời” cao đẹp trong anh từng bƣớc bị
chính anh hủy hoại. Con ngƣời lúc này của anh bị đạp đổ đã giết chết “con ngƣời”
anh lúc trƣớc, anh tự giết mình để một lúc nào đó đau đớn bất lực thốt lên “Thôi ta
đã hỏng thật rồi”.
Vũ Nhƣ Tô cũng rơi vào bi kịch nhƣ thế, bi kịch vỡ mộng. Ngƣời kiến trúc sƣ vĩ
đại ấy đã rơi vào bi kịch của ngƣời nghệ sĩ có tài và có hoài bão lớn, nhƣng không
giải quyết đƣợc mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt là
cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt hoảng
đến báo cho Vũ Nhƣ Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ bị giết, nhƣng Vũ Nhƣ Tô
vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi có tội gì? Tôi làm gì nên tội?
Làm gì phải trốn?”. Khi tất cả chỉ là ảo vọng. Đan Thiền và ông bị bắt, Cửu Trùng
Đài bị thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai
oán tuỵệt vọng “Trời ơi! Phú cho ta cái tài để làm gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm!
Ôi Cửu Trùng Đài!”. Vậy đó, trong xây dựng nghệ thuật, không có cái đẹp tách rời
cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần tuý, nó
phải có mục đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời. “Văn chƣơng
không chỉ là văn chƣơng mà thực chất là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát và là
nơi đi tới của văn chƣơng”. Ngƣời nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng
tạo những công trình vĩ đại cho muôn đời, nhƣng cũng biết xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn
dân. Vũ Nhƣ Tô thì không nhƣ thế. Cho nên đến khi chết Vũ Nhƣ Tô mới tỉnh giấc
mộng của mình.
Nhƣng Hộ thì ngƣợc lại, anh không phải là bị mù quáng nhƣ Vũ Nhƣ Tô đến nỗi
không nhận ra đúng sai. Hộ đam mê nhƣng không đến nỗi mù quáng. Hộ biết xấu
hổ trƣớc những hành động sai trái của mình. Tự biết phải mắng mình nhƣ một
thằng khốn nạn bởi sự cẩu thả bất lƣơng của mình đối với văn chƣơng. Biết ân hận
về những việc đã làm. Nam Cao có lẽ cũng đã rơi lệ khi miêu tả sự giằng xé, khổ
tâm, sự ân hận của Hộ khi sau một cơn say dài anh tỉnh dậy và ôm lấy Từ mà khóc.
Nƣớc mắt anh nhƣ “quả chanh bị bóp mạnh”. Nƣớc mắt ấy là nƣớc mắt của con
ngƣời có nhân cách có phẩm giá. Nƣớc mắt của một tâm hồn khổ hạnh nhƣng ấm
áp tình ngƣời.
Leptonxtoi từng nói “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu
con ngƣời, ƣớc mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn
thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng
bầu máu nóng của mình cho nhân loại”. Tác phẩm “Đời thừa” và “Vũ Nhƣ Tô”
cùng ra đời một thời điểm. Và phải chăng hai nhà văn đều cùng chung một nỗi
niềm với những ngƣời nghệ sĩ đã dành trọn cuộc đời cho nghệ thuật ? Hƣớng đến
(RẤT QUAN TRỌNG CHO THI TỐT NGHIỆP)
HƯỚNG DẪN
(Bài của Thầy Phan Danh Hiếu, chủ biên cuốn sách CẨM NANG LUYỆN
THI ĐH NGỮ VĂN - NXB ĐHQG Hà Nội 2014. Mua online gọi số chú Toàn:
0908588758)
I. MỞ BÀI
18 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
Nguyễn Trung Thành là nhà văn đã gắn bó máu thịt với chiến trƣờng Tây
Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Chính vùng đất
và con ngƣời nơi đây đã để lại nhiều dấu ấn trong những trang viết của ông qua
“Đất nƣớc đứng lên” và “Rừng xà nu”. Tác phẩm “Rừng xà nu” ra đời trong giai
đoạn kháng chiến chống Mĩ ác liệt. “Rừng xà nu” có thể đƣợc xem là bản anh
hùng ca mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân
dân Tây Nguyên anh hùng. Để viết nên bản giao hƣởng anh hùng ca đấy, ngoài
những con ngƣời Tây Nguyên đáng yêu nhƣ Tnú, cụ Mết, Mai, Dít…, phải kể đến
một hình tƣợng không kém phần hấp dẫn. Đó là cây xà nu, một hình tƣợng vừa
giàu ý nghĩa thẩm mĩ, vừa giàu ý nghĩa nhân sinh.
II. THÂN BÀI
1. Khái quát: Tác phẩm “Rừng Xà Nu” ra đời vào thời điểm mùa hè năm 1965
khi đế quốc Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ. Tác phẩm đƣợc in trong
tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”. Bối cảnh của thiên truyện là
mảnh đất Tây Nguyên với những con ngƣời anh hùng, kiên trung, bất khuất.
Truyện có hai cuộc đời lồng vào nhau: cuộc đời của Tnú và cuộc đời của rừng xà
nu.
2. Nội dung phân tích
yên vì “Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn”. Đổi
lại, vì bảo vệ cho dân làng nên cánh rừng xà nu lại chịu nhiều đau thƣơng mất
mát: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. C
những cây bị đạn đại bác chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận
bão”. Ở chỗ khác, nhà văn miêu tả kỹ hơn: “C những cây con vừa lớn ngang tầm
ngực người đã bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi, ở những cây này nhựa còn trong,
chất dầu còn loãng, chỉ năm mười hôm là cây chết ”.
Qua việc miêu tả ấy, bằng nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ tƣợng trƣng tác giả đã làm
hiện lên nỗi đau thƣơng mất mát của dân làng Xô Man và tố cáo tội ác của kẻ thù.
Viết về nỗi đau của cây mà ta cứ ngỡ nhƣ nỗi đau của con ngƣời. Mỗi một cây xà
nu ngã xuống ta cứ ngỡ nhƣ một con ngƣời Xô Man ngã xuống. Phải chăng đó là
hình ảnh của anh Xút, bà Nhan, mẹ con Mai, anh Quyết… những ngƣời đã ngã
xuống vì chính nghĩa dƣới bàn tay tàn bạo của kẻ thù. Nhƣng trong đau thƣơng,
cây xà nu vẫn hiện lên bởi những vẻ đẹp thăng hoa đến sững sờ. Đẹp trong dáng
ngã kiêu hùng, bất khuất “đổ ào ào như một trận bão”. Đẹp bởi đƣờng nét, màu
sắc, hình khối, trong đau thƣơng mà vẫn hiện hữu hƣơng thơm và ánh sáng “nơi
chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi
dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành cục máu lớn”. Đó chính là vẻ đẹp gắn
liền với chất bi tráng, chất sử thi hào hùng của vùng đất thiêng Tây Nguyên hùng
vĩ.
c. Trong bom đạn chiến tranh, thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên
ngang vươn lên mạnh mẽ như người dânTây Nguyên kiên cường bất khuất,
không khuất phục trước kẻ thù tàn bạo.
20 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
+ Bằng bút pháp miêu tả tác giả đã mang đến cho ngƣời đọc sức sống
hoang dại, mãnh liệt của rừng xà nu: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở
chúng. Những vết thương của chúng ch ng lành như trên một cơ thể cường tráng.
Cứ thế ba năm nay , rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho cả dân
21 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
làng”. Hình ảnh ấy của cây rừng xà nu khiến ta liên tƣởng đến hình ảnh của cụ
Mết với giọng nói uy nghiêm, của sức sống Tnú, của Mai, của Dít… Đó là vẻ đẹp
của bức thành đồng kiên cố, tấm lá thép vĩ đại của làng Xô man. Vì vậy mà suốt
năm năm chƣa hề có cán bộ nào bị giặc bắt hoặc chết trong rừng làng này. Bởi
rừng xà nu đã mang tầm vẻ đẹp “Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”. Tất cả nối
tiếp nhau tạo thành một đội ngũ trùng trùng điệp điệp nối tiếp nhau chạy đến tận
chân trời.
Khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu cùng sự rộng lớn, bạt ngàn của
rừng xà nu gợi nghĩ đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ ngƣời dân Tây Nguyên đoàn
kết bên nhau kháng chiến. Phải chăng đó là vẻ đẹp của cụ Mết, ngƣời truyền và giữ
ngọn lửa tinh thần cách mạng với chân lí ngời sáng “Chúng n đã cầm súng, mình
phải cầm giáo”. Là vẻ đẹp của ngƣời anh hùng Tnú với tinh thần kìm nén đau
thƣơng để biến thành sức mạnh quật khởi. Là vẻ đẹp của Dít với đôi mắt mở to
trong suốt, bình thản. Dít nhƣ cây xà nu nhanh chóng trƣởng thành, nhanh chóng
trở thành bí thƣ chi bộ cùng cụ Mết lãnh đạo dân làng Xô Man đánh giặc. Vẻ đẹp
của bé Heng, thế hệ xà nu măng non, chƣa trƣởng thành nhƣng tinh thần thì
đã “nhọn hoắt như những mũi lê”... Có thể nói hình tƣợng xà nu nổi bật xuyên
suốt tác phẩm, câu chuyện mở ra trong vẻ đẹp mãnh liệt của sự sống trƣớc đau
thƣơng mất mát để rồi khép lại vẫn là hình ảnh hào hùng của sự thách thức . Bên
cạnh“bốn năm cây xà nu đã bị đánh ngã đã c vô số những cây con đang mọc
lên”. Mới mọc thôi nhƣng tinh thần chiến đấu lại rất mãnh liệt “C những cây mới
nhú khỏi mặt đất nhọn hoắt như những mũi lê”.
3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng: Thủ pháp nghệ thuật so sánh, đối chiếu,
ngƣời của nhân vật Chí Phèo mang đến cho bạn đọc bao niềm xúc động sâu sắc.
II.
THÂN BÀI
1.
Bi kịch là gì ? Bi kịch là sự mâu thuẫn giữa hiện thực đời sống và
khát vọng cá nhân. Hiện thực đời sống không đủ điều kiện để cá nhân thực hiện
đƣợc khát vọng của mình dẫn đến cá nhân rơi vào hoàn cảnh bi đát (có thể dẫn đến
cái chết). Trong văn học Việt Nam ta đã từng bắt gặp bi kịch tình yêu của Thúy
Kiều, bi kịch nghệ thuật của nhà văn Hộ, bi kịch của Vũ Nhƣ Tô… nhƣng bi kịch
lạ lùng nhất là bi kịch “bị cự tuyệt quyền làm ngƣời” của Chí Phèo.
2.
Bi kịch ấy ngay từ đầu tác phẩm đã hiện lên qua tiếng chửi của
Chí Phèo. Chí Phèo xuất hiện lần đầu tiên trƣớc mắt ngƣời đọc không phải bằng
xƣơng bằng thịt mà là bằng tiếng chửi "hắn vừa đi vừa chửi". Đó là hình ảnh vừa
quen vừa lạ. Quen vì đó là tiếng chửi của những thằng say rƣợu. Lạ vì hắn chửi
mà không có ai chửi nhau với hắn, không ai lấy làm điều. Chí "chửi trời, chửi đời,
chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa chết mẹ
nào đã đẻ ra thân hắn". Đó là một tiếng chửi vật vã, đau đớn của một thân phận
23 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
con ngƣời ít nhiều nhận thức đƣợc bi kịch của chính mình. Chửi cũng là một cách
để giao tiếp nhƣng đớn đau thay đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo là một sự im lặng
đến rợn ngƣời. Cay đắng hơn nữa, đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo lại là “tiếng chó
cắn lao xao”. Chí đã bị đánh bật ra khỏi cái xã hội loài ngƣời. Xã hội mà dù sống
trong nó Chí cũng không còn đƣợc xem là con ngƣời nữa. Qua tiếng chửi ấy, ta
hội tàn hại. Giờ đây là Chí Phèo say, Chí Phèo với những tội ác trời không dung
24 | P a g e
Tài liệu ôn tập môn Ngữ Văn lớp 12
thứ khi hắn bỗng dƣng trở thành tay sai đắc lực cho lão cáo già Bá Kiến, quay
ngƣợc lại lợi ích của dân làng Vũ Đại, đối lập với nhân dân lao động cần lao. Từ
một ngƣời nông dân hiền lành lƣơng thiện Chí trở thành thằng lƣu manh "con quỷ
dữ của làng Vũ Đại". Đáng buồn thay, mới ngày nào chính dân làng Vũ Đại nuôi
Chí lớn lên trong vòng tay yêu thƣơng vậy mà nay Chí đã quay lƣng lại với chính
cái nơi mà hắn đƣợc yêu thƣơng và chở che. Từ đây Chí sống bằng rƣợu và máu và
nƣớc mắt của biết bao nhiêu ngƣời dân lƣơng thiện: "Hắn đã đập nát biết bao
nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân
lương thiện". Hắn làm những việc ấy trong lúc say " ăn trong lúc say, ngủ trong
lúc say, thức dậy vẫn còn say... đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi
say nữa say vô tận". Chƣa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi
vì "những cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài
mênh mang". Nam Cao đã cho ngƣời đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống
của nhân dân ta trƣớc cách mạng tháng Tám. Đó chính là cuộc sống bị bóp nghẹt
ƣớc mơ và khát vọng, ngƣời nông dân bần cùng hóa dẫn đến lƣu manh hóa. Một
cuộc sống tối tăm không ánh sáng. Nhà văn xót thƣơng cho nhân vật, cay đắng và
đau đớn cùng nhân vật. Đây chính là vẻ đẹp của tấm lòng nhân đạo và yêu thƣơng
của nhà văn dành cho những kiếp ngƣời nhƣ Chí Phèo.
5.
Gặp Thị Nở và khao khát hoàn lương. Nam Cao không trách
giận Chí Phèo, ngòi bút của ông dành cho nhân vật vẫn nồng nàn yêu thƣơng. Ông
phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thƣơng
chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị