Thể chế, năng suất các yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế nghiên cứu các quốc gia đang phát triển (tt) - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------

PHẠM DUY LINH

THỂ CHẾ, NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ
TỔNG HỢP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
NGHIÊN CỨU CÁC QUỐC GIA ĐANG
PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành:

Tài chính – Ngân hàng

Mã số:

60.34.02.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017


Công trình được hoàn thành tại: Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí
Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
2. TS. Phạm Quốc Hùng
Phản biện 1:……………………………………………
Phản biện 2:……………………………………………
Phản biện 3:……………………………………………

nước phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào khả năng tăng sản lượng trên đầu
công nhân của nước đó”. Kể từ khi Solow (1956) giới thiệu lý thuyết
tăng trưởng kinh tế của mình, khái niệm năng suất yếu tố tổng hợp
(Total factor productivity - TFP) đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu
và phân tích. Hầu hết các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế gần đây,
đặc biệt là lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã nhận định năng suất yếu tố
tổng hợp là yếu tố tạo nên sự khác biệt về tăng trưởng giữa các quốc gia.
Trong khi đó, trường phái kinh tế học thể chế mới khởi nguồn từ nhà
kinh tế Ronald Coase cho rằng thể chế là yếu tố gốc rễ ảnh hưởng tới
hiệu quả của nền kinh tế. Douglass C.North, một nhà nghiên cứu tiêu
biểu cho trường phái kinh tế học thể chế mới đã nhận xét như sau:
“Những yếu tố như mở rộng thị trường, cải tiến công nghệ và cả tăng
cường sự đầu tư cho con người đều đóng góp một phần trong tăng
trưởng năng suất. Nhưng chúng ta giải thích thế nào về sự tiếp diễn của


2
tình trạng đói nghèo ở nhiều nơi trên thế giới một khi chúng ta đã biết rõ
nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng kinh tế? Câu trả lời nằm ở sự thất bại
của con người khi đảm trách những đổi mới để gia tăng sản lượng.
Khung thể chế của một xã hội tạo ra cơ chế khuyến khích, tác động trực
tiếp đến hoạt động kinh tế và chính trị, và chúng ta biết rõ về nền tảng
thể chế cho sự tăng trưởng kinh tế thành công.” (North, 2000 trang 5).
Trước đó, North & Thomas (1973) đã phân tích nguyên nhân dẫn tới
tăng trưởng khi phân tách yếu tố quyết định tác động tới phát triển kinh
tế bao gồm yếu tố trực tiếp (Proximate determinants) và yếu tố căn
nguyên (Fundamental determinants), cụ thể hai tác giả biện luận mối
quan hệ trong đó xem thể chế là yếu tố căn nguyên dẫn tới phát triển
kinh tế.
Xuất phát từ những nhận định trên, trước bối cảnh mà các quốc gia, đặc

lý thuyết tăng trưởng truyền thống cũng mới bắt đầu thời gian gần đây.
Về mặt nghiên cứu thực nghiệm:
Thứ nhất: Đa số các nghiên cứu xem xét riêng từng mối quan hệ của
thể chế đến tăng trưởng, của TFP đến tăng trưởng, còn ít nghiên cứu
cùng đưa cả thể chế, TFP vào mô hình để cùng phân tích tác động tới
tăng trưởng. Trong khi như lập luận của lý thuyết kinh tế học thể chế
mới thì ba yếu tố này là một chuỗi quan hệ tương tác với nhau, trong đó
thể chế và năng suất có quan hệ qua lại thúc đẩy nhau từ đó tác động tới
tăng trưởng kinh tế.
Một số các nghiên cứu thực nghiệm cùng đưa thể chế, TFP và tăng
trưởng kinh tế vào chung một khung phân tích, nhưng còn một số hạn
chế như: Nghiên cứu của Henriksen & cộng sự (2011) về mối quan hệ
của thể chế, năng suất và sản lượng trong ngành sản xuất bơ, sữa của
Đan Mạch đã đi đến kết luận sự đổi mới thể chế dẫn tới sự đổi mới về
công nghệ dẫn tới sự thành công của ngành sản xuất bơ sữa, qua đó
đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Đan Mạch. Mặc


4
dù đề cập tới cả ba yếu tố, nhưng kết quả của nghiên cứu này ở phạm vi
một ngành kinh tế. Tang & cộng sự (2008) trong bài nghiên cứu về mối
quan hệ giữa thể chế, thay đổi công nghệ với biến động kinh tế vĩ mô đã
đánh giá tác động của cả chất lượng thể chế (thông qua biến đại diện là:
Nguy cơ bị quốc hữu hóa; Các ràng buộc ban đầu về quyền hành pháp)
và tăng trưởng TFP (dẫn xuất cho thay đổi công nghệ) trong cùng một
mô hình. Tuy nhiên, các tác giả sử dụng biến phụ thuộc là bất ổn kinh tế
vĩ mô hay biến động tăng trưởng kinh tế nên kết quả chủ yếu giải thích
về ảnh hưởng của chất lượng thể chế và thay đổi công nghệ trong việc
giảm bớt những bất ổn này chứ chưa đề cập tới việc chúng có làm cải
thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế hay không. Trong một nghiên cứu có

Thứ ba: Khi nghiên cứu về thể chế, có rất nhiều biến được sử dụng để
dẫn xuất cho chất lượng thể chế. Đối với các nghiên cứu có sử dụng bộ
chỉ số quản trị công của WB thì chưa thấy có nghiên cứu nào sử dụng
cùng lúc cả sáu chỉ số để ước lượng tác động của chúng tới tăng trưởng
TFP và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư: Tìm hiểu bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, các nghiên cứu
cùng chủ để mà luận án lược khảo của Nguyễn Văn Phúc (2013),
Nguyễn Hồng Nga (2013), Trần Thọ Đạt & Đỗ Thị Tuyết Nhung (2011)
đều sử dụng phương pháp phân tích, thống kê mô tả, chưa thấy có
nghiên cứu thực nghiệm nào về tác động của thể chế và TFP đến tăng
trưởng kinh tế .
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu đặt
ra gồm:
- Chất lượng thể chế có góp phần cải thiện tăng trưởng TFP hay không?
- Chất lượng thể chế, tăng trưởng TFP và sự tương tác của chúng có tác
động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế?


6
- Có sự khác biệt nào về mối quan hệ giữa chất lượng thể chế với tăng
trưởng TFP và giữa chất lượng thể chế, tăng trưởng TFP với tăng trưởng
kinh tế tại các nhóm quốc gia đang phát triển có đặc điểm tương đồng
về thu nhập bình quân?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cho các nước đang phát triển trên thế giới dựa theo
tiêu chí phân loại thu nhập bình quân của WB. Cụ thể gồm 71 quốc gia,
với thời gian nghiên cứu là 19 năm, từ năm 1996 đến 2014.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh và thống kê mô tả:

Chương 3: Mô hình, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN VỀ TFP, THỂ CHẾ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG
VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Lý thuyết về TFP và thể chế
2.1.1 Lý thuyết về TFP
2.1.1.1 Khái niệm về TFP
2.1.1.2 Phương pháp đo lường TFP
2.1.2 Lý thuyết về thể chế
2.1.2.1 Các quan điểm về thể chế
2.1.2.2 Phương pháp đo lường chất lượng thể chế
2.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Các mô hình tăng trưởng kinh tế
* Một số mô hình tăng trưởng kinh tế trước năm 1950
* Các mô hình tăng trưởng kinh tế từ năm 1950 tới gần đây.


8
2.2.2 Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế
2.3 Mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng trưởng kinh tế
2.3.1 Lý thuyết về mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng trưởng
Năng suất các yếu tố tổng hợp đã được Solow (1957) tiếp tục đề cập
trong mô hình tăng trưởng của mình để giải thích cho sự tăng trưởng
ngoài yếu tố vốn và lao động. Hàm sản xuất được Solow thể hiện dưới
dạng Cobb - Douglas như sau:
Yt  At K t L1t (2.7)


phục về sự khác biệt trong GDP bình quân đầu người giữa các quốc gia


9
là cần thiết trong nghiên cứu về tăng trưởng gần đây. Solow (2001,
trang 286) đồng ý rằng “việc nghiên cứu về tăng trưởng nên tập trung
nghiên cứu vào sự hiểu biết và phân tích các nguồn gốc của sự khác biệt
về TFP và các chính sách có thể ảnh hưởng đến nó”. Dựa trên mô hình
tăng trưởng tân cổ điển, Romer (1986,1990) và Lucas (1988) phát triển
lý thuyết tăng trưởng nội sinh để tìm lời giải thích rõ hơn cho phần dư là
yếu tố A hay được xem là TFP trong mô hình của Solow.
Trong cả hai mô hình trên vai trò của thể chế đã được đề cập tới, tuy
nhiên nó chưa được đưa vào để xem xét như một yếu tố trong mô hình.
Solow cũng thừa nhận thiếu sót này và cho rằng các yếu tố trong hàm
sản xuất còn bao hàm rất nhiều yếu tố phi kỹ thuật không đo lường
được, trong đó có thể chế. Solow (2001) cũng đề xuất phần dư trong mô
hình của mình (bao gồm cả yếu tố công nghệ và phi công nghệ) có thể
được phân tích dựa trên sự khác biệt về lịch sử thể chế của các quốc gia.
Easterly & Levine (2001) thực hiện tổng lược các nghiên cứu thực
nghiệm nổi tiếng về tăng trưởng kinh tế cũng kết luận là đa số nghiên
cứu đều nhận định TFP là yếu tố đem đến sự khác biệt về thu nhập và
tăng trưởng giữa các quốc gia chứ không phải là tích lũy vốn và lao
động, và cần xây dựng mô hình xác định TFP.
Lý thuyết về kinh tế học thể chế mới khởi nguồn bởi Ronald Coase đã
xem xét thể chế như một yếu tố căn nguyên dẫn tới những thay đổi của
các yếu tố trong hàm sản xuất từ đó tác động đến tăng trưởng. North
(1990, trang 107) nhận xét: “Tôi muốn khẳng định một vai trò rất cơ bản
của thể chế trong xã hội; chúng là yếu tố gốc rễ của hiệu suất nền kinh
tế trong dài hạn”. Khi bàn về mối quan hệ giữa thể chế và năng suất
trong lịch sử, North (1994) cũng đưa ra những kết luận về cách mà thể

điểm rằng thể chế là nguồn gốc của tăng trưởng, tác động tới tăng
trưởng qua các yếu tố trực tiếp khác trong đó có yếu tố TFP. Từ đó,
luận án nghiên cứu tác động của thể chế tới TFP và tác động đồng thời
của cả thể chế, TFP đến tăng trưởng kinh tế.


11
2.3.2 Mô hình phân tích về mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng
trưởng
2.4 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.4.1. Các nghiên cứu về mối quan hệ thể chế và TFP
Một số nhận định qua các nghiên cứu về tác động của thể chế tới
TFP:
Một số vấn đề còn tranh luận và hạn chế của các nghiên cứu
Do có rất nhiều biến dùng để đo lường, đánh giá chất lượng thể chế của
các quốc gia, vì vậy chưa thấy có sự thống nhất cao trong việc sử dụng
một bộ chỉ số đo lường chất lượng thể chế. Điều này có thể dẫn tới các
kết quả nghiên cứu và giải thích kết quả nghiên cứu chưa có sự nhất
quán cao.
Hầu hết các nghiên cứu mới phân tích trên một nhóm các quốc gia, hoặc
trên một quốc gia cụ thể, do đó chưa thể hiện được sự so sánh về ảnh
hưởng của chất lượng thể chế tới tăng trưởng TFP cho từng nhóm quốc
gia có điểm tương đồng. Việc so sánh này là cần thiết bởi mỗi quốc gia
đều có những nét riêng biệt trong thể chế của mình và do đó chất lượng
thể chế cũng sẽ là khác nhau.
2.4.2 Các nghiên cứu về thể chế, TFP và tăng trưởng kinh tế
2.4.2.1 Tác động của thể chế tới tăng trưởng kinh tế
Một số nhận định qua các nghiên cứu về tác động của thể chế tới tăng
trưởng kinh tế:
Một số vấn đề còn tranh luận và hạn chế của các nghiên cứu



13
CHƯƠNG 3
MÔ HÌNH, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
NGHIÊN CỨU
3.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu
3.1.1 Khung phân tích mô hình
𝑌 = 𝐴𝐾 𝛼 𝐿1−𝛼 ,

0 < 𝛼 < 1 (3.1)

Với Y là GDP thực; K là vốn đầu tư trong nước thực; L là số lao động
làm việc; A là năng suất các yếu tố tổng hợp; α, 1- α lần lượt là hệ số co
giãn của sản lượng theo vốn và lao động.
Biến đổi phương trình (3.1) theo dạng log-linear:
𝑙𝑜𝑔𝑌 = 𝑙𝑜𝑔𝐴 + 𝛼𝑙𝑜𝑔𝐾 + (1 − 𝛼)𝑙𝑜𝑔𝐿 (3.2)
Phương trình (3.2) viết dưới dạng chuỗi thời gian:
𝑌𝑖𝑡 = 𝐴𝑖𝑡 + 𝛼𝐾𝑖𝑡 + (1 − 𝛼)𝐿𝑖𝑡 (3.3)
Phương trình (3.3) được sử dụng như một mô hình chuẩn trong ước tính
hồi quy tăng trưởng. Trên cơ sở lý thuyết tăng trưởng nội sinh, các
nghiên cứu thực nghiệm đã đi sâu phân tích yếu tố (A) và đưa ra những
yếu tố ảnh hưởng tới nó từ đó tác động tới (Y). Islam (2008) nhận thấy
khi nghiên cứu về sự khác biệt năng suất giữa các quốc gia, các nghiên
cứu thực nghiệm thường tiếp cận theo hai phương pháp. Một là phương
pháp hồi quy tăng trưởng với thông số kỹ thuật mở rộng (extended
specification), theo phương pháp này các biến dẫn xuất hoặc các biến
được xem là nguyên nhân dẫn đến thay đổi năng suất được thêm vào
bên phải của phương trình (3.3). Cách tiếp cận thứ hai là theo phương
pháp hai giai đoạn (two-stage methodology), theo cách này năng suất sẽ

Luận án đưa thêm biến tăng trưởng TFP ban đầu (TFPGt-1) vào vế trái
của phương trình (3.4) do biến phụ thuộc tại phương trình này đã thể
hiện dưới dạng tốc độ tăng trưởng TFP, nên không cần đưa thêm biến
TFPGt-1 vào vế phải. Tiếp theo, biến thu nhập bình quân đầu người ban


15
đầu (GDP/L)it-1 được thêm vào cả hai vế của phương trình (3.6) có hai
phương trình sau:
𝑇𝐹𝑃𝐺𝑖,𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1 (𝑇𝐹𝑃𝐺)𝑖,𝑡−1 + 𝛽2 (𝐼𝑁𝑆)𝑖,𝑡 + 𝛽3 (𝑇𝐼𝑁𝑉)𝑖,𝑡
+ 𝛽4 (𝐺𝐸𝑋𝑃)𝑖,𝑡 + 𝛽5 (𝑂𝑃𝐸𝑁)𝑖,𝑡 + 𝛽6 (𝐼𝑁𝐹)𝑖,𝑡
+ 𝛽7 (𝑇𝐸𝐿𝐸)𝑖,𝑡 + 𝜀𝑖,𝑡 (3.7)
𝐺𝐷𝑃
𝐺𝐷𝑃
(
) −(
)
𝐿 𝑖,𝑡
𝐿 𝑖,𝑡−1

𝐺𝐷𝑃
= 𝛼0 + 𝛼1 (
)
+ 𝛼2 (𝑇𝐹𝑃𝐺)𝑖,𝑡 + 𝛼3 (𝐼𝑁𝑆)𝑖,𝑡
𝐿 𝑖,𝑡−1
𝑇𝐼𝑁𝑉
𝐺𝐸𝑋𝑃
+ 𝛼4 (
) + 𝛼5 (
) + 𝛼6 (𝐿𝐴𝐵𝑂)𝑖,𝑡


Std.Dev.

Min

Max

GDP bình quân đầu người

1349

4773.001

6616.97

129.782

46856.84

TFPG

1349

0.7738

3.82831

-22.18

22.70


0.78595

-2.8120

1.3468

Chất lượng luật pháp

1349

-0.1048

0.67809

-2.1492

1.6749

Tuân thủ pháp luật

1349

-0.2877

0.65907

-1.8895

1.4509


9.38335

0.552

54.549

Lực lượng lao động

1349

62.333

7.34750

46.792

85.963

Độ mở thương mại

1349

75.719

35.0479

15.58

220.40


INS2

INS3

INS4

INS5

INS6

≤ -.282 ***

≤ -.073***

≤ -.364***

≤ -.04***

≤ -.325***

≤ -.267***

≤ .322***

≤ .429***

≤ .312***

≤ .491***

TFPG (-1)

INS2
*

INS3
-0.179

**

INS4

INS5

INS6

0.068

0.975

0.135*

-0.150

0.159

Thể chế

27.21***


-0.789***

-0.218***

-0.818***

-0.198***

Lực lượng lao động

0.391

-0.328

-0.124

-0.440***

-0.408**

-0.031

Độ mở thương mại

0.138***

0.08***

0.234***


-0.003

0.007

Obs

1065

1065

994

1065

1136

1136

AR(2) test

0.102

0.718

0.112

0.113

0.74


tăng trưởng TFP.
4.1.2.2 Kết quả ước lượng cho từng nhóm mẫu
Thực hiện kiểm định trêm ba nhóm quốc gia phân loại theo tiêu chí thu
nhập. Kết quả chỉ ra tại nhóm quốc gia thu nhập trung bình khá và thu
nhập cao là đồng nhất với kết quả mẫu gộp, còn tại các quốc gia có thu
nhập trung bình thấp thì chất lượng thể chế có tác động âm tới tăng
trưởng TFP.
4.2 Tác động của tăng trưởng TFP, thể chế và tương tác của chúng
tới tăng trưởng kinh tế
4.2.1 Mô hình ước lượng
4.2.2 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
4.2.2.1 Kết quả ước lượng cho mẫu gộp
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho mẫu
gộp
Biến phụ thuộc: Δ GDP
INS1

INS2

INS3

INS4

INS5

INS6

-0.166***

-0.167***


1.575*

7.707**

6.528**

Thể chế*TFPG

0.262***

0.162***

0.136**

0.875*

0.152**

0.146**

Đầu tư trong nước

0.166***

0.176***

0.132***

0.141***


0.132***

0.113***

0.135***

0.162***

0.122***

Lạm phát

0.090***

0.073***

0.115***

0.061**

0.072***

-0.007

-0.054***

-0.050***

-0.037*


0.971

0.454

Sargan test

0.253

0.166

0.134

0.171

0.178

0.932

Cơ sở hạ tầng

***

2.174

***

2.148

***

gộp
GDP bình quân (-1)

Biến phụ thuộc TFPG

Biến phụ thuộc ∆GDP



-0.170***


20
0.132





0.897***

6.807**

6.14**



0.166*

Đầu tư trong nước


0.002

-0.039**

Obs

1065

994

24

31

AR(2) test

0.652

0.966

Sargan test

0.21

0.422

TFPG (-1)
TFPG
Thể chế (average index)


0.024

0.000***

Thể chế (average index)

-0.719

0.58

0.215

Thể chế*TFPG

0.128

0.035

0.000***

Đầu tư trong nước

0.211

0.018

0.000***

Chi tiêu chính phủ



21
Cơ sở hạ tầng

0.003

Obs

1207

Sargan test

0.26

0.002

0.135

*** ** *

, , : ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%.

Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata 13

Luận án sử dụng chỉ số trung bình của sáu chỉ số đánh giá chất lượng
thể chế để ước lượng thông qua hai phương pháp là D-GMM và FE2SLS. Việc sử dụng thêm phương pháp ước lượng khác nhằm củng cố
cho kết quả của phương pháp ước lượng chính của luận án. Kết quả cho
thấy ở cả hai phương pháp các biến giải thích chính có sự nhất quán cao
với kết quả ước lượng trước đó, trong khi các biến giải thích còn lại


nhập
trung

bình

gộp
cao

Thu

trung

nhập cao

bình

bình khá

bình khá

thấp
TFPG

nhập
trung

thấp
+ (6)


- (5)

+ (5)

+ (5)

TINV

- (3)

+ (5)

In-sign(*)

- (5)

+ (6)

+ (6)

+ (5)

+ (6)

GEXP

- (6)

- (6)


OPEN

+ (6)

+ (6)

+ (4)

+ (4)

+ (6)

In-sign

+ (6)

+ (5)

INF

- (6)

- (6)

- (6)

- (6)

+ (5)


tại mẫu các quốc gia thu nhập trung bình thấp thì sáu chỉ số đại diện
chất lượng thể chế lại có tác động âm ý nghĩa đến tăng trưởng TFP.
Điều này khá phù hợp với tình hình thực tế cho thấy đây là nhóm quốc
gia có điểm đánh giá chất lượng thể chế rất thấp, vì vậy nó trở thành rào
cản đối với các hoạt động của nền kinh tế dẫn tới không có tác động tích
cực trong việc thúc đẩy gia tăng năng suất yếu tố sản suất.
Tại mô hình ước lượng thứ hai: Đối với ba biến giải thích chính, kết
quả cho thấy sự nhất quán tại mẫu gộp khi chất lượng thể chế, tăng
trưởng TFP và biến tương tác đều có tác động dương ý nghĩa đến tăng
trưởng GDP bình quân đầu người trong cả sáu ước lượng. Phát hiện có
tính nhất quán này góp phần củng cố lý thuyết về vai trò của thể chế và


23
TFP đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời giữa chúng còn có mối quan
hệ tạo ra thêm một hiệu ứng dương đến tăng trưởng.
Kiểm tra tính vững của mô hình: Kết quả phân tích khi sử dụng chỉ số
bình quân của sáu chỉ số đánh giá chất lượng thể chế khi ước lượng
bằng phương pháp D-GMM cho thấy các biến nghiên cứu chính tại hai
mô hình trên đều ra kết quả tương tự.
Từ những phát hiện trong hai mô hình ước lượng trên cùng với việc
kiểm tra tính vững thông qua hai phương pháp khác nhau có thể nhận
định, chất lượng thể chế có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng TFP
từ đó tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời nó cũng có ảnh
hưởng trực tiếp tới tăng trưởng.
5.2 Hàm ý chính sách
5.2.1 Đối với việc cải thiện và nâng cao chất lượng thể chế
(i) Thực thi các giải pháp mạnh mẽ để giảm tham nhũng, đồng thời tăng
trách nhiệm giải trình của chính phủ.
(ii) Cải cách hành chính, áp dụng công nghệ vào quản lý nhằm nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status