MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU .........................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài ..............................................................................................1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .......................................................................3
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................3
1.4. Kết cấu của luận văn .........................................................................................3
CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT THANH KHOẢN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU TRƢỚC ĐÂY ....................................................................................................4
2.1. Lý thuyết nghiên cứu về thanh khoản...............................................................4
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới ......................................................11
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................18
3.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu .........................................................................18
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................18
3.2.1. Các phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................18
3.2.2. Quy trình nghiên cứu ................................................................................19
3.2.3. Mô tả biến và giả thiết nghiên cứu ...........................................................19
3.2.4. Mô hình nghiên cứu: ................................................................................28
3.2.5. Các phƣơng pháp kiểm định mô hình: .....................................................32
CHƢƠNG 4: CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..........................................33
4.1. Tình hình hoạt động của các ngân hàng qua các năm từ 2007-2012..............33
4.2. Kết quả nghiên cứu mô hình định lƣợng ........................................................37
4.2.1. Thống kê mô tả các biến giai đoạn từ 2007 – 2012 .................................37
4.2.2. Kết quả hồi quy: .......................................................................................42
Ngân hàng Nhà nƣớc
NHTM
:
Ngân hàng thƣơng mại
NHTMCP:
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần
NHTW
:
Ngân hàng trung ƣơng
TGHĐ
:
Tỷ giá hối đoái
TCTD
:
Tổ chức tín dụng
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM) ...........................44
Bảng 4.8: Kiểm định lựa chọn mô hình ....................................................................47
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Xoắn ốc tổn thất và xoắn ốc đòn bẩy (Brunnermeier (2009) ) ...................6
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác trong hoạt
động của NHTM (G.A. Vento, P. La Ganga, (2009)).................................................8
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn một thập kỉ qua, sự phát triển của thị trƣờng tài chính cũng nhƣ
sự bùng nổ của thị trƣờng xuyên quốc gia đã dần làm rủi ro thanh khoản trong
ngành ngân hàng diễn biến với xu hƣớng ngày càng phức tạp và nguy hiểm.
Khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống các tổ chức tín dụng tại nhiều nƣớc
trên thế giới bắt nguồn từ sự gia tăng nợ xấu trong các khoản cho vay thế chấp
dƣới chuẩn, điều này đã cho thấy cơ chế quản lý rủi ro thanh khoản còn bị xem
nhẹ. Bắt đầu từ sau cuộc khủng hoảng, trên thế giới đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến thanh khoản của các ngân hàng. Trong
khi một vài nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu khả năng thanh khoản ngân
hàng ở một khu vực, một nhóm các quốc gia: nghiên cứu của Moor (2010) ở các
nƣớc vùng biển Caribbean, Bunda và Desquilbet (2008) ở các quốc gia mới nổi;
Lucchetta (2007) ở các quốc gia Châu Âu… thì một số nghiên cứu khác lại tập
trung vào một quốc gia cụ thể: Rauch and et al (2009) ở Đức; Aspachs and et al
(2005) ở Anh; Vodova (2011) ở Cộng hòa Sec; Fadare (2011) ở Nigeria. Đồng
thời, một loạt các chính sách, các quy chuẩn mới đƣợc ban hành nhằm đổi mới
và thắt chặt an toàn công tác quản trị rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng trên
toàn thế giới.
tố liên quan là cần thiết, để các NH có thể lựa chọn cho mình chiến lƣợc quản trị
thanh khoản phù hợp để hạn chế rủi ro thanh khoản là xu hƣớng chung của các
quốc gia trên thế giới hiện nay. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đo
lường các nhân tố tác động đến thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam”
cho luận văn của mình.
3
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu trong đề tài hƣớng đến mục tiêu:
Nghiên cứu lý thuyết và tìm ra các nhân tố tác động đến thanh khoản
của hệ thống NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, xem xét và kiểm định tác
động của các nhân tố đến thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam.
Do đó, để giải quyết mục tiêu trên câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là:
Tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam chịu
ảnh hƣởng của các nhân tố nào trong giai đoạn từ 2007 - 2012 ?
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là thanh khoản và các nhân tố tác động đến thanh
khoản của hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm các nhân tố bên trong và các
nhân tố bên ngoài.
Giai đoạn nghiên cứu kéo dài 6 năm từ năm 2007 đến 2012
Nhóm ngân hàng nghiên cứu bao gồm 20 ngân hàng thƣơng mại nhƣ trong
phụ lục 1
1.4. Kết cấu của luận văn
Đề tài bao gồm 5 chƣơng. Chƣơng 1 trình bày tổng quát các nội dung của
luận văn và lý do chọn đề tài. Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý luận và các kết quả
của nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây về các yếu tố tác động đến thanh khoản
hệ thống ngân hàng, kể cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Chƣơng 3 mô tả
mẫu, phƣơng pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, và giải thích các biến đƣợc
năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến
5
hạn với một chi phí hợp lý. Đối với ngân hàng thƣơng mại thì tính thanh khoản
là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, rút tiền và xin vay mới theo
các yêu cầu cấp tín dụng hợp lệ của khách hàng.
Nhƣ vậy một ngân hàng đƣợc coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp
ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh với một chi phí hợp lý đúng
vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu.
Tính thanh khoản của một ngân hàng đƣợc tạo lập bởi tính thanh khoản của
tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ và tính thanh khoản của nguồn, tức là từ tài sản
hiện có (dự trữ) và nguồn vốn có thể huy động mới. Một ngân hàng có tính thanh
khoản cao khi có nhiều tài sản thanh toán hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn
nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai điều trên.
Rủi ro thanh khoản là tổn thất xảy ra cho ngân hàng khi nhu cầu thanh
khoản thực tế vƣợt quá khả năng thanh toán dự kiến. Nói cách khác, rủi ro thanh
khoản là rủi ro mà ngân hàng không thể có đƣợc đủ số vốn khả dụng để thực
hiện các nghĩa vụ tài chính của mình khi chúng đến hạn thanh toán.
Rủi ro thanh khoản rất dễ bị lây lan ra toàn hệ thống. Rủi ro thanh khoản
phát sinh từ vai trò cơ bản của các ngân hàng trong việc chuyển đổi kỳ hạn giữa
tiền gửi ngắn hạn với các khoản cho vay dài hạn. Thực tế này xuất phát từ đặc
điểm mang tính đặc thù của bảng cân đối tài sản: ngân hàng đã dùng các nguồn
vốn ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ
hạn…) trong khi đó phần lớn các tài sản có lại có thời hạn dài hơn nhƣ tín dụng,
các khoản đầu tƣ, cho thuê…ngân hàng dùng nguồn vốn ngắn hạn bên tài sản Nợ
để tài trợ cho các tài sản bên tài sản Có với thời hạn dài hơn. Đặt tình huống tất
cả hoặc một lƣợng lớn nguồn vốn bên tài sản Nợ đều bị rút ra thì ngân hàng phải
đối mặt với rủi ro thanh khoản do không thể ngay lập tức thu hồi các tài sản bên
khỏi mức cơ bản
Thiệt hại ở vị trí
hiện tại
Hình 2.1: Xoắn ốc tổn thất và xoắn ốc đòn bẩy (Brunnermeier (2009) )
Xoắn ốc tổn thất có thể bắt đầu từ một cá nhân tham gia thị trƣờng bị thiệt
hại bởi cú sốc thanh khoản. Điều này có thể xảy ra do bất kỳ tổn thất nào. Ngƣời
tham gia có thể phải điều chỉnh danh mục đầu tƣ của mình bằng cách bán tài sản
(ngay cả với giá thấp) để duy trì tỷ lệ đòn bẩy. Những vụ mua bán này làm giảm
giá hơn nữa. Xoắn ốc đòn bẩy củng cố xoắn ốc tổn thất. Vì đòn bẩy tài chính
tăng, nhà đầu tƣ phải bán nhiều hơn vì họ cần phải giảm tỷ lệ đòn bẩy. Vì vậy,
7
cơ chế hoạt động nhƣ sau: vấn đề vốn buộc các nhà đầu tƣ thay đổi vị thế của họ.
Thay đổi này gây ra nhiều tổn thất và đòn bẩy cao hơn, do đó làm trầm trọng
thêm các vấn đề vốn và nhƣ vậy theo Brunnermeier (2009) cơ chế này có thể
giải thích đƣợc vì sao mà một cú sốc tƣơng đối nhỏ có thể gây ra tính thiếu thanh
khoản tăng lên một cách đột ngột.
Các ngân hàng huy động tiền gửi và đầu tƣ vốn này vào các tài sản dài hạn
và ít thanh khoản chẳng hạn nhƣ các khoản vay. Vì lý do này các ngân hàng có
thể dễ bị tổn thƣơng trƣớc những cú sốc thanh khoản phát sinh chủ yếu từ phía
bảng cân đối kế toán. Nếu một lƣợng lớn ngƣời gửi tiền có nhu cầu tiền mặt, các
ngân hàng có thể cần phải thanh lý tài sản kém thanh khoản. Vì điều này kéo
theo tổn thất lớn, sự thiếu hụt thanh khoản có thể biến thành một cuộc khủng
hoảng khả năng thanh toán (Aspachs et al, 2005). Gần đây, nhiều ngân hàng đã
vỡ nợ không phải vì thiếu lợi nhuận mà vì những vấn đề thanh khoản ngắn hạn
(Ozdincer, C. Ozyildirim (2008)).
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác trong
hoạt động của NHTM (G.A. Vento, P. La Ganga, (2009))
Ví dụ, nếu một ngân hàng thất bại trong việc đáp ứng nghĩa vụ đến hạn, vậy
ngoài rủi ro thanh khoản của ngân hàng, còn có thể làm phát sinh những vấn đề
liên quan đến pháp lý và rủi ro danh tiếng (Zarei, 2011)
Prelipcean và Boscoianu (2011) đề cập đến mối quan hệ giữa đổi mới tài
chính và khả năng thanh toán: các sản phẩm tài chính mới trong thị trƣờng mới
nổi tạo ra một cảm giác kích thích thanh khoản, nhƣng các nhà quản lý phải tính
đến sự mong manh của các thị trƣờng này, do tính thống nhất và biến động. Rất
khó để ngăn chặn những cú sốc tài chính và quy định càng bị siết chặt thì các
ngân hàng càng thiếu tính thanh khoản.
Rochet (2008) đề cập đến ba nguồn chính của rủi ro thanh khoản:
1) Ở bên Nợ của bảng cân đối kế toán, khó có thể ƣớc tính cụ thể và chắc
chắn khối lƣợng rút tiền gửi hoặc gia hạn các khoản vay liên ngân hàng, đặc biệt
9
là khi các ngân hàng bị nghi ngờ về mất khả năng thanh toán hoặc khi có sự
thiếu hụt thanh khoản tạm thời.
2) Ở bên Có của bảng cân đối kế toán, khó có thể ƣớc tính cụ thể về nhu
cầu cho vay của ngân hàng trong tƣơng lai,
3) Hoạt động ngoại bảng, nhƣ dòng tín dụng và các cam kết khác, đƣợc
thực hiện bởi các ngân hàng trên thị trƣờng phái sinh.
Theo Crockett (2008), tính thanh khoản không chỉ đơn giản phụ thuộc vào
các yếu tố ngoại sinh (nhƣ cơ sở hạ tầng thị trƣờng hiệu quả, chi phí giao dịch
thấp, số lƣợng lớn ngƣời mua và ngƣời bán, tài sản giao dịch minh bạch), mà còn
chịu ảnh hƣởng bởi các yếu tố nội sinh, đặc biệt là phản ứng năng động của
ngƣời tham gia thị trƣờng khi đối mặt với sự không chắc chắn và những thay đổi
trong giá trị tài sản. Trong điều kiện thuận lợi, thanh khoản luôn có sẵn, giá rẻ và
giám sát ngân hàng Basel đã đạt đƣợc thoả thuận về những chuẩn mới trong
Basel III với nhiều yêu cầu khắt khe, chặt chẽ hơn và đƣợc ban hành vào tháng
12/2010.
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy chính việc không chú trọng vấn
đề thanh khoản đã khiến nhiều ngân hàng phá sản. Với Basel III, để có đƣợc sự
ổn định trong hệ thống tài chính, phải đáp ứng các quy định về tính thanh khoản
và an toàn vốn. An toàn vốn tạo nên tấm đệm để sống sót trong dài hạn, còn
thanh khoản là để sống sót trong ngắn hạn.
So sánh với Basel II, Basel III yêu cầu các ngân hàng duy trì lƣợng vốn cấp
2 là 4.5% (Basel II = 2%), vốn cấp 1 là 6% (Basel II = 4%). Thêm vào đó, Basel
II đƣa ra các nguồn vốn bổ sung (gọi là vốn đệm) nhằm bảo toàn nguồn vốn của
ngân hàng và ngăn chặn biến động của chu kỳ kinh tế. Trong đó, tỷ lệ vốn đệm
bắt buộc để bảo toàn nguồn vốn ngân hàng là 2.5% trong thời kỳ tăng trƣởng tín
dụng quá cao. Ngoài ra, Basel III còn đƣa ra tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu nhằm tránh
tình trạng lạm dụng quá mức các đòn bẩy tài chính, góp phần đảm bảo an toàn hệ
11
thống. Tỷ lệ đòn bẩy tƣơng ứng với tỷ lệ vốn trên tài sản, đƣợc tính bằng cách
chia vốn cấp 1 cho tổng tài sản hợp nhất trung bình của ngân hàng, dự kiến là
trên 3%, tỷ lệ này sẽ đƣợc thử nghiệm trƣớc khi tỷ lệ thanh khoản bắt buộc đƣợc
chính thức áp dụng vào tháng 01/2018. Đồng thời đƣa ra hai tỷ lệ thanh khoản
gồm: tỷ lệ thanh khoản an toàn yêu cầu các ngân hàng phải duy trì đủ tài sản chất
lƣợng cao, có thể chuyển ngay sang tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính
bất thƣờng trong vòng 30 ngày; tỷ lệ quỹ bình ổn ròng yêu cầu các ngân hàng
phải có sẵn nguồn tài chính dƣới dạng quỹ bình ổn để có thể đối phó với thời kỳ
khó khăn tối thiểu là 01 năm, tỷ lệ này đƣợc tính bằng tỷ lệ quỹ bình ổn thực
tế/quỹ bình ổn bắt buộc và bằng hoặc lớn hơn 1. Các quy định về quản lý rủi ro
thanh khoản sẽ đƣợc hình thành dần, để có thể đƣa vào áp dụng chính thức năm
nghiệp và biến giả của cuộc khủng hoảng tài chính trong năm 2009 có tác động
tiêu cực. Riêng kỳ vọng về tác động của quy mô ngân hàng là không rõ ràng (+ /
-). Biến phụ thuộc (tức là tính thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại) đƣợc
đo bằng cách sử dụng bốn chỉ số thanh khoản nhƣ tài sản lỏng trên tổng tài sản,
tài sản lƣu động trên tổng số tiền gửi và cho vay, cho vay trên tổng tài sản và cho
vay trên tiền gửi và tài chính ngắn hạn.
Nghiên cứu của Vodová (2011) cho thấy thanh khoản ngân hàng có mối
quan hệ tích cực đến vốn chủ sở hữu, lãi suất cho vay, phần nợ xấu và lãi suất
giao dịch liên ngân hàng. Ngƣợc lại, cuộc khủng hoảng tài chính, tỷ lệ lạm phát
và tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm trong nƣớc có tác động tiêu cực đến thanh
khoản ngân hàng. Mối quan hệ giữa quy mô của các ngân hàng và tính thanh
khoản của nó là không rõ ràng nhƣ mong đợi. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng
tỷ lệ thất nghiệp, lợi nhuận ngân hàng và tỷ lệ lãi suất chính sách tiền tệ không
có tác động đáng kể đến tính thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại Séc.
Ở khu vực Châu Phi, một nghiên cứu thực nghiệm đƣợc thực hiện bởi
Fadare (2011), về tính thanh khoản hệ thống ngân hàng và khủng hoảng tài chính
ở Nigeria với mục đích xác định các yếu tố tác động đến thanh khoản ngân hàng
13
ở Nigeria, và đánh giá mối quan hệ giữa yếu tố quyết định thanh khoản ngân
hàng và những rào cản tài chính trong nền kinh tế. Mô hình sử dụng phƣơng
pháp hồi quy tuyến tính OLS và dữ liệu bảng trong thời gian 1980-2009. Nghiên
cứu cho thấy rằng chỉ có tỷ lệ thanh khoản, lãi suất chính sách tiền tệ và biến trễ
lãi suất cho vay là có ý nghĩa để dự đoán thanh khoản hệ thống ngân hàng. Nói
chung, kết quả cho thấy trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính thì tiền gửi
ngân hàng không đảm bảo đƣợc tính thanh khoản và chính sách tiền tệ phải đảm
bảo thanh khoản trong giai đoạn này, điều này rất quan trọng trong việc đảm bảo
sự sống còn của ngành ngân hàng.
chính sách tiền tệ, nghiên cứu phát triển một mô hình hồi quy bảng. Theo nghiên
cứu này, các yếu tố sau đây có thể tác động đến thanh khoản ngân hàng: Lãi suất
chính sách tiền tệ, chính sách tiền tệ thắt chặt kỳ vọng sẽ làm giảm thanh khoản
ngân hàng, tỷ lệ thất nghiệp, đƣợc kết nối với các nhu cầu vay vốn có tác động
tiêu cực đến khả năng thanh khoản, hạn ngạch tiết kiệm ảnh hƣởng tích cực đến
thanh khoản các ngân hàng, mức độ thanh khoản trong giai đoạn trƣớc có tác
động tích cực, quy mô của các ngân hàng đo bằng tổng số lƣợng khách hàng
ngân hàng có tác động tiêu cực, và lợi nhuận ngân hàng kỳ vọng sẽ làm giảm
thanh khoản ngân hàng. Để thực hiện đo lƣờng khả năng thanh toán và phân tích
các yếu tố ảnh hƣởng đến thanh khoản ngân hàng, các nhà nghiên cứu sử dụng
dữ liệu trong ngân hàng là dữ liệu bảng cân bằng và dữ liệu kinh tế vĩ mô. Các
biến kinh tế vĩ mô nói chung cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực giữa sức
khỏe nền kinh tế và thanh khoản ngân hàng. Các nền kinh tế càng khỏe mạnh thì
tính thanh khoản càng cao. Nó chỉ ra rằng các tỷ lệ lãi trên thu nhập càng cao thì
càng tạo ra tính thanh khoản hơn. Các biến khác liên quan đến ngân hàng, chẳng
hạn nhƣ quy mô hoặc lợi nhuận cho thấy không có ảnh hƣởng đáng kể về mặt
thống kê vào việc tạo ra tính thanh khoản của các ngân hàng.
Yếu tố quyết định thanh khoản của các ngân hàng từ các nền kinh tế mới
nổi đƣợc lấy mẫu từ các ngân hàng thƣơng mại tại 36 quốc gia đang nổi lên từ
15
năm 1995-2000 và đƣợc phân tích bởi Bunda và Desquilbet (2008). Nghiên cứu
này tìm hiểu thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại bị ảnh hƣởng bởi chế độ tỷ
giá hối đoái tại các nƣớc trong mẫu nghiên cứu. Tính thanh khoản của các ngân
hàng phụ thuộc vào hành vi cá nhân của các ngân hàng, thị trƣờng và môi trƣờng
kinh tế vĩ mô và chế độ tỷ giá hối đoái, cụ thể là các yếu tố: tổng tài sản nhƣ một
thƣớc đo quy mô của các ngân hàng, lãi suất cho vay nhƣ một thƣớc đo của lợi
nhuận cho vay, và việc một cuộc khủng hoảng tài chính có thể bị gây ra bởi
hàng Anh đã đƣợc nghiên cứu bởi Aspachs and et al (2005). Các nhà nghiên cứu
sử dụng bảng cân đối kế toán chƣa hợp nhất của 57 ngân hàng Anh trong giai
đoạn từ quý 1/1985 đến quý 4/2003. Họ cho rằng tỷ lệ thanh khoản phụ thuộc
vào các yếu tố sau đây: khả năng có đƣợc sự hỗ trợ từ LOLR làm giảm động lực
nắm giữ tài sản lƣu động, lợi nhuận lãi biên đo lƣờng chi phí cơ hội nắm giữ tài
sản lƣu động kỳ vọng có tác động tiêu cực, lợi nhuận ngân hàng theo lý thuyết
tài chính tỷ lệ nghịch với khả năng thanh toán, tăng trƣởng tín dụng - các tín hiệu
tăng trƣởng tín dụng cao thì càng làm tăng tài sản kém thanh khoản, quy mô của
các ngân hàng kỳ vọng sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực, tốc độ tăng trƣởng
GDP nhƣ một chỉ số của chu kỳ kinh doanh tƣơng quan nghịch với thanh khoản
ngân hàng, lãi suất ngắn hạn đại diện cho hiệu quả chính sách tiền tệ kỳ vọng có
tác động tiêu cực đến thanh khoản. Các kết quả phân tích hồi quy cho thấy khả
năng nhận đƣợc hỗ trợ từ LOLR, lợi nhuận lãi biên, và tăng trƣởng tín dụng có
tác động tiêu cực đáng kể đến thanh khoản ngân hàng.
Cách tiếp cận của Fielding (2005) rất độc đáo. Các nhà nghiên cứu ƣớc tính
một mô hình chuỗi thời gian của thanh khoản dƣ thừa trong hệ thống ngân hàng
Ai Cập. Những yếu tố quyết định khả năng thanh toán: mức sản lƣợng kinh tế, tỷ
lệ chiết khấu, tỷ lệ mất giá của tỷ giá thị trƣờng chợ đen và tỷ lệ bất ổn chính trị
dự kiến sẽ có tác động tích cực đến thanh khoản ngân hàng trong khi đó, tỷ lệ
tiền gửi và tác động của cải cách kinh tế dự kiến có tác động tiêu cực đến thanh
khoản ngân hàng. Tác động của dự trữ bắt buộc dự kiến là không rõ ràng. Theo
kết quả của nghiên cứu, tự do hóa tài chính và ổn định tài chính đã làm giảm
thanh khoản dƣ thừa, những hiệu ứng này đã đƣợc bù lại bởi sự gia tăng trong số
17
lƣợng các vụ bạo lực chính trị phát sinh từ xung đột giữa các nhóm Hồi giáo cực
đoan và nhà nƣớc Ai Cập.
Bình luận về các nghiên cứu thực nghiệm
Bài luận văn nghiên cứu các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của hệ
thống ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam đƣợc thực hiện dựa trên bài nghiên
cứu của tác giả Pavla Vodova (2011) và sử dụng bộ dữ liệu gồm 20 ngân hàng
thƣơng mại (phụ lục 1) trong giai đoạn từ 2007 đến 2012.
- Dữ liệu sử dụng là dữ liệu thứ cấp, đƣợc thu thập từ các nguồn sẵn có nhƣ
các báo cáo thống kê và báo cáo thƣờng niên.
- Dữ liệu đƣợc tổng hợp từ các trang web nhƣ: itrade.vn, cophieu68.com,
cafef.vn, vietstock.vn, stockbiz.vn và trang web của các ngân hàng trong mẫu.
- Số liệu vĩ mô nhƣ GDP, CPI, tỷ lệ thất nghiệp đƣợc lấy trong các báo cáo
tình hình kinh tế xã hội của Tổng cục Thống kê, các loại lãi suất đƣợc lấy từ số
liệu của IMF và Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.2.1. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Nghiên cứu
thực hiện kiểm định tác động của các nhân tố: vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, nợ
xấu, quy mô ngân hàng, tăng trƣởng kinh tế, lãi suất thị trƣờng tiền tệ, lãi suất
cho vay, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chênh lệch, lạm phát, thất nghiệp, chính
sách tiền tệ đến thanh khoản của các ngân hàng thông qua 4 biến phụ thuộc là
các tỷ lệ thanh khoản L1, L2, L3, L4. Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa thanh khoản
và các nhân tố tác động. Phƣơng pháp hồi quy dữ liệu bảng đƣợc sử dụng để
đánh giá tác động của các nhân tố.
Nghiên cứu sử dụng kiểm định F để kiểm định sự phù hợp của mô hình, sử
dụng Durbin Watson để kiểm định hiện tƣợng tự tƣơng quan, sử dụng hệ số nhân
19
tử phóng đại phƣơng sai VIF để kiểm định hiện tƣợng đa cộng tuyến. Sau cùng,
để kiểm định xem mô hình Pool, Fix efect hay Random effect phù hợp hơn
nghiên cứu sử dụng Reduntdan test và Hausman test.
ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng hấp thụ các cú sốc thanh khoản càng
lớn. Tuy nhiên, nếu nhƣ tỷ lệ này quá lớn cũng không có lợi. Lƣợng tài sản thanh
khoản cao đồng nghĩa với việc NH phải bỏ ra chi phí cơ hội lớn. Vì vậy cần thiết
phải tối ƣu hóa các mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận của NH. Tài sản
thanh khoản là tổng của các mục I (tiền mặt, vàng bạc, đá quý), II (tiền gửi tại
ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam), III (tiền gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng
khác), IV (chứng khoán kinh doanh) bên phần tài sản của bảng cân đối kế toán.
L2: Tài sản thanh khoản/ Tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn (liquid
assets/deposits + short term borrowing)
Tỷ lệ này cho biết khả năng đáp ứng nghĩa vụ đến hạn của ngân hàng. Công
thức L2 tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng đối với nguồn vốn huy
động đƣợc. Phần tử số, tỷ lệ thanh khoản gồm các mục I (tiền mặt, vàng bạc, đá
quý), II (tiền gửi tại ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam), III (tiền gửi tại và cho vay
các tổ chức tín dụng khác), IV (chứng khoán kinh doanh) bên phần tài sản của
bảng cân đối kế toán; phần mẫu số, tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn gồm
các mục I (các khoản nợ chính phủ và ngân hàng nhà nƣớc), II (tiền gửi và vay
các tổ chức tín dụng khác), III (tiền gửi của khách hàng) bên phần Nợ của bảng
cân đối kế toán. Tỷ lệ này càng thấp cho thấy NH càng kém thanh khoản.
L3: cho vay/tổng tài sản (loans/total assets)
L3 cho biết tỷ lệ tài sản của ngân hàng tài trợ cho các khoản cho vay của
ngân hàng. Phần tử số, cho vay đƣợc lấy từ mục VI (cho vay và ứng trƣớc khách
hàng) bên phần tài sản của bảng cân đối kế toán. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ
21
NH cho vay càng nhiều, tài sản kém thanh khoản càng lớn dẫn đến tài sản thanh
khoản của ngân hàng bị giảm dần.
L4: Cho vay/ Tiền gửi khách hàng + các khoản tài trợ ngắn hạn
(loans/deposits+short term financing)