Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015 - Pdf 42

MỤC LỤC

1


A.

LỜI NÓI ĐẦU
Để đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng theo các quy định của pháp luật trong các
vụ án dân sự đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm
bảo, thì pháp luật đã có những quy định rõ rang, cụ thể về các thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự. Trong đó có thủ tục khởi kiện và thu lý vụ án, qua thời gian đất nước
chúng ta đã trải qua nhiều văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh các vấn đề
thủ tục liên quan trong tố tụng dân sự, mới đây nhất là bộ luật tố tụng dân sự 2015
sắp có hiệu lực. Trong phạm vi bài này, em muốn đi sâu cùng tìm hiểu các quy
định cảu pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luât, tìm ra những
vướng mắc còn tồn tại để đưa những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật tố
tụng dân sự.
Sau đây em xin trình bày đề tài số 09: “ Quy định của BLTTDS 2015 về khởi
kiện và thụ lý vụ án dân sự và thực tiễn thi hành”.

2


B. LỜI NÓI ĐẦU
I. KHÁI NIỆM, ĐIỀU KIỆN, PHẠM VI VÀ HÌNH THỨC KHỞI KIỆN
VỤ ÁN DÂN SỰ
1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự
Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: " Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án
(sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

chủ thể khác, pháp luật đã quy định các điều kiện khởi kiện. Căn cứ vào các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định việc khởi kiện vụ án dân sự cần phải đáp
ứng được đầy đủ các điều kiện cơ bản sau đây
a) Điều kiện về chủ thể khởi kiện
Chủ thể khởi kiện phải là chủ thể có tư cách về mặt pháp lý và theo quy định của
pháp luật có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo hướng dẫn của Nghị quyết
05/2012/HĐTP-TANDTC ngày 03 tháng 12 năm 2012 quy định:

 Đối với cá nhân
Theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 “ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền tự mình hoặc thông qua người đai diện hợp pháp khởi kiện vụ án(sau đây
gọi là người khởi kiện ) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.” Như vậy đối với cá nhân, để đáp ứng điều kiện về chủ thể
có quyền khởi kiện thì cá nhân đó phải đáp ứng được hai điều kiện sau:
Thứ nhất về năng lực hành vi tố tụng dân sự
- Đối với cá nhân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Theo quy đinh tại khoản
2 Điều 69 BLTTDS năm 2015 thì “ Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự
mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự
cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự”. Theo các khoản 3, 4, 5, 6 BLTTDS
2015 quy định cụ thể về các trương hợp khác nếu cá nhân không đáp ứng được quy
định tại khoản 2 nhưng vẫn có quyền như người đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Ở
đó cá nhân có quyền khởi kiện mà không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không
thể tự mình khởi kiện mà việc khởi kiện phải do người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện. Thông thường một cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự khi cá
nhân đó đủ 18 tuổi và không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự.; Đối với cá nhân là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười
tám tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản
riêng của mình, thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án

+ Cơ quan, tổ chức đó có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng
quan lý Nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định;
+ Lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cần yêu cầu Toà án bảo vệ phải thuộc
lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách.
b) Điều kiện về thẩm quyền
Các chủ thể khởi kiện phải thực hiện hành vi khởi kiện vụ án tới đúng Toà án có
thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo đó các chủ thể khởi kiện phải
5


khởi kiện đúng theo quy định của pháp luật về 3 loại thẩm quyền sau đây:
- Thứ nhất: Phải khởi kiện một trong những loại tranh chấp thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án theo quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật tố tụng dân
sự 2015.
- Thứ hai: Việc khởi kiện phải thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền giải
quyết của Tòa án các cấp theo quy định tại Điều 35, 36, 37 và 38 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015.
- Thứ ba: Việc khởi kiện phải tới đúng Toà án có thẩm quyền giải quyết theo
lãnh thổ theo quy định tại Điều39 và 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
c) Điều kiện sự việc khởi kiện phải chưa được giải quyết bằng một bản án hay
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật
Về nguyên tắc, một sự việc đã được Toà án của Việt Nam giải quyết bằng một
bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện
lại, trừ các trường hợp sau đây:
- Bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật được
một năm thì lại có quyền khởi kiện trở lại yêu cầu xin ly hôn;
- Yêu cầu giải quyết việc nuôi con, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại đã được giải
quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng sau đó đương sự có
quyền khởi kiện yêu cầu xin thay đổi việc nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức

Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự là giới hạn những vấn đề mà các chủ thể có thể
khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết trong cùng một vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì phạm vi khởi
kiện vụ án dân sự được xác định như sau:
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan
với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
+ Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một tổ
chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có
liên quan với nhau1 để giải quyết trong cùng một vụ án.
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởi
kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc
nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án
4. Hình thức, nội dung và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
Để bảo đảm cho việc làm đơn khởi kiện đúng và thống nhất, Toà án yêu cầu
người khởi kiện làm đơn khởi kiện. Toà án phải niêm yết công khai tại trụ sở Toà
án mẫu đơn khởi kiện và hướng dẫn sử dụng mẫu đơn khởi kiện. Theo quy định tại
Điều 189 BLTTDS 2015, thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi
1 Xem

Điều 4 Nghị quyết 05/2012/HĐTP-TANDTC ngày 03/12 năm 2012.
7


kiện. Trong đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung như: ngày, tháng, năm làm
đơn khởi kiện; tên Toà án nhận đơn khởi kiện; tên, địa chỉ người khởi kiện; tên, địa
chỉ người có quyền, lợi ích được bảo vệ (nếu có); tên, địa chỉ người bị kiện; tên, địa
chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có); những vấn đề cụ thể yêu cầu
Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những
vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

Trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện qua phương thức trực tuyến thì Tòa án phải
in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau
đây:
+Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ;
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
+ Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện,
nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác.
+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
Như vậy sau khi nhận được đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, Toà
án sẽ phải ghi vào sổ nhận đơn và tiến hành việc xem xét việc khởi kiện đã đáp ứng
đầy đủ các điều kiện của việc khởi kiện theo quy định của pháp luật chưa. Trong
trường hợp xét thấy việc khởi kiện đã đáp ứng được đầy đủ các điều kiện khởi kiện
thì Toà án phải báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi
người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí và xuất trình cho Toà án biên lai nộp
tiền tạm ứng án phí thì Toà án chấp nhận đơn khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân
sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hoạt động này của Toà án được gọi là
thụ lý vụ án dân sự.
Thụ lý vụ án dân sự là việc Toà án xem xét chấp nhận đơn khởi kiện của người
khởi kiện, vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết.
b) Thủ tục thụ lý vụ án dân sự
Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 195 BLTTDS 2015, sau khi nhận đơn khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án thì Toà án phải xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo ngay cho
người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong
trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp đương sự được miễn
nộp tiền tạm ứng án phí.
Toà án dự tính số tiền tạm ứng, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện
để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận

sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho
mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp
luật được quyền khởi kiện lại;
- Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi
kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người
10


khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại
khách quan, sự kiện bất khả kháng;
- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm
phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.
-

Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
b) Thủ tục trả lại đơn khởi kiện
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 192 BLTTDS 2015 khi trả lại đơn khởi kiện và
các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi
rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
c) Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn
khởi kiện
Điều 194 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn
khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có
quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi
kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải
mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải
quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành

khởi kiện và giải quyết tại Tòa án trong cả nước đều tăng cao, trong đó có các tranh
chấp về thừa kế, đất đai, nhà ở, hợp đông, hôn nhân và gia đình.. chiếm tỷ lệ lớn.
Các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, kinh doanh thương mại, lao động hay các tranh
chấp có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng. Cụ thể là :2
Năm

Số vụ việc đã
Số vụ việc đã
Đạt tỷ lệ
thụ lý
giải quyết
2005
152.819
132.125
86.5%
2006
164.888
146.82
89%
2007
188.992
171.681
91%
2008
192.336
174.768
91%
2009
214.714
194,358

mà không có sự giải thích rõ ràng hoặc kéo dài thời gian nhận đơn khiến người dân
phải đi lại nhiều lần, mất thời gian. Khi người khởi kiện khiếu nại việc trả lại đơn
thì không giải quyết một cách thỏa đáng.
Trên đây là một số thành công của việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2004, đối
với các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về các quy định về khởi kiện và
thụ lý vụ án cũng không có sự thay đổi nhiều nên những thành tựu trên cũng là
thành công mà bộ luật dân sự 2015 sẽ duy trì được

2. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong việc thực thi các quy định của pháp
luật
Ngoài những thành công đã kể trên, dưới đây là một số vấn đề thực tiễn áp dụng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện và thụ lý vụ án ở nước ta
trong thời gian qua :

- Chưa áp dụng đúng thủ tục khởi kiện
Khởi kiện là quyền của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Việc khởi
kiện phải theo trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng đơn
13


khởi kiện nội dung đầy đủ nhưng không ghi năm sinh của người bị kiện, người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay chính người khởi kiện thì tòa trả lại đơn khởi
kiện.
Theo quy định của Điều 164 BLTDS 2004 cũng thì khi các cá nhân, cơ quan, tổ
chức khởi kiện thì phải làm đơn khởi kiện với đầy đủ nội dung chính được quy định
tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS ; đơn khởi kiện phải theo mẫu được ban hành kèm
theo nghị quyết 02/2006. Pháp luật không quy định đơn khởi kiện phải ghi năm
sinh của các đương sự ; tuy nhiên trên thực tiễn tố tụng lại có tòa án trả lại đơn khởi
kiện vì lý do đơn khởi kiện thiếu nội dung này.
Việc tòa án yêu cầu đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của các đương sự là không

án vào sổ thụ lý trước.

- Không đảm bảo thời gian xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án
Trong thực tế nhiều vụ án, tòa án không đảm bảo thời gian xem xét đơn khởi
kiện và thụ lý vụ án. Có những vụ án sau vài tháng kể từ ngày nhận đơn tòa án mới
thụ lý. Sau khi nhận đơn khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo, tòa án thường
mất khá nhiều thời gian để xem xét thụ lý vụ án. Việc xem xét đơn khởi kiện của
Tòa án bị kéo thời gian do tòa án không vận dụng đúng pháp luật trong giải quyết
vụ án. Ví dụ theo bộ luật lao động năm 2006 đã quy định thêm một số tranh chấp
không bắt buộc phải thông qua hòa giải cơ sở như tranh chấp về việc người lao
động kiện đòi bồi thường thiệt hại, tranh chấp về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp
đồng lao động… nhưng đến nay vẫn có tòa án trả lại đơn cho đương sự yêu cầu
phải tiến hành hòa giải cơ sở trước. Tình trạng này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự.
IV. Kiến nghị hoàn thiện

- Cần nâng cao chất lượng và số lượng của đội ngũ thẩm phán
Qua những bất cập nêu trên, chúng ta có thể thấy thực tiễn thi hành pháp luật
không tốt cũng do chất lượng và chuyên môn của đội ngũ thẩm phấn không đáp
ứng được yêu cầu công việc, nhiều thẩm phán còn lúng túng trong các quy định của
pháp luật ở những quy định cơ bản. cũng có những thẩm phán lười, lảng tránh công
việc nên không muốn làm, không muốn thụ lý giải quyết vụ án.
Cũng do số lượng thẩm phán chưa đáp ứng được hết nhu cầu giải quyết tranh
chấp của xã hội nên cac vụ án tồn đọng còn nhiều, không kịp thời bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Ngoài ra cũng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán, cần có cơ
chế quản lý chặt chẽ, và có những quy đinh rằng buộc để những thẩm phán vô trách
nhiêm sẽ bị xử lý, không để thẩm phán ngồi chơi xơi nước mà người dân thì không
được giải quyết những tranh chấp đang trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của họ.

không ngừng, đòi hỏi sự tương thích của pháp luật thực định để giải quyết những
vấn đề phát sinh trên thực tiễn, và pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án cũng
không ngoại lệ.
Nước ta đang trong tiến trình đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường đang phát
triển, vấn đề các quy định của pháp luật không tương thích với thực tiễn là điều dễ
xảy ra, đặc biệt là vấn đề thụ lý và trả lại đơn khởi kiện. do đó cần không ngừng
nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống pháp luật để phù hợp với thực tiễn trong mỗi
giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Do nhận thức còn hạn chế, trong bài viết khó tránh khỏi những sai sót, mong
thầy cô góp ý để bài em được hoàn thiện. Em xin chân thành cám ơn.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015)
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 (BLTTDS 2004)
Nghị quyết 05/2012/HĐTP-TANDTC

4.

Báo cáo số 09/BC-TANDTC ngày 9/8/2010 của TANDTC tổng kết 5 năm thi hành
BLTTDS 2004.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status