Luận văn quyết định hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện ý yên, tỉnh nam định - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN .................................................................................7

1.1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn ........................ 7
1.2. Quy định của pháp luật về quyết định hình phạt tù có thời hạn ...................... 12
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH ...............................................27

2.1. Khái quát tình hình quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện
Ý Yên, tỉnh Nam Định
............................................................................................ 27 2.2. Những kết quả
đạt được trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định........................................................................... 30 2.3. Những bất cập,
hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện
Ý Yên, tỉnh Nam Định....................................................... 34 CHƯƠNG 3: CÁC
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH ĐÚNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI
HẠN .........................................................................................................55 3.1. Giải

pháp về hoàn thiện quy định của pháp luật .............................................. 56 3.2. Giải
pháp về áp dụng pháp luật........................................................................ 65 3.3. Giải
pháp đối với những cơ quan tiến hành tố tụng......................................... 67 KẾT
LUẬN .................................................................................................... ....... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................. 73


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật Hình sự

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác
định: Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp… Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
[30]. Nhiệm vụ quan trọng trên đặt ra yêu cầu cho Tòa án nhân dân phải nâng
cao hơn nữa chất lượng xét xử trong bối cảnh đất nước hội nhập và phát triển,
quyền con người ngày được coi trọng và đề cao. Hình phạt tù có thời hạn tước
tự do và hạn chế một số quyền nhân thân của người bị kết án, ảnh hưởng rất lớn
tới người đó cũng như gia đình họ. Vì vậy, quyết định hình phạt tù có thời hạn
đòi hỏi cần phải chính xác, hợp tình, hợp lý, đủ sức răn đe giáo dục với người bị
kết án và giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.
Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân cho thấy việc quyết định hình phạt
còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế; nhất là quyết định hình phạt tù có thời hạn.
Trong nhiều trường hợp hình phạt đối với bị cáo không tương xứng với tính chất
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Có những trường hợp, những người
phạm cùng một tội danh, có cùng tính chất, mức độ nguy hiểm và nhân thân
người phạm tội tương tự nhau, nhưng hình phạt do Tòa án quyết định lại rất
khác nhau hoặc có trường hợp được hưởng án treo, có trường hợp không được
hưởng án treo. Điều này làm giảm hiệu quả của hình phạt, gây mất niềm tin của
xã hội vào các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Mặt khác, Bộ luật hình sự 2015 được ban hành trong đó sửa đổi bổ sung
nhiều quy định so với Bộ luật hình sự 1999, tuy nhiên một số điểm hạn chế của
luật cũ chưa được khắc phục trong khi những sai sót mới lại phát sinh. Do đó,
Quốc hội đã phải ban hành Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 lùi hiệu
lực thi hành của Bộ luật Hình sự 2015 để sửa đổi bổ sung; kể từ 01/7/2016, các

1


2


chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2001 do GS.TS Lê Cảm chủ biên;
Chương Quyết định hình phạt trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I,
NXB Công an nhân dân, 2011 của Trường Đại học Luật Hà Nội; Chương Quyết
định hình phạt trong Đề tài Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 (Phần chung), Chủ nhiệm đề tài TS. Uông Chu Lưu, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội - 2001; Sách Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình
sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 của tác giả TS. Lê Văn Đệ.
Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận cũng như làm rõ
các đặc trưng pháp lý của quyết định hình phạt, mối liên hệ giữa quyết định hình
phạt với các vấn đề khác của luật hình sự.
Ngoài ra, một số bài viết cũng được công bố trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành như: Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của pháp luật hình
sự của tác giả Trần Thị Quang Vinh, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 2/2000, tr.
17; Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự của tác
giả Dương Tuyết Miên, tạp chí Luật học Số 6/2000, tr. 30 – 34; Quyết định hình
phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội của tác giả Lê Văn Đệ, tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, Số 1/2003, tr. 58 – 62; Quyết định hình phạt tù đối với người
chưa thành niên phạm tội của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Toà án nhân dân,
Số 5/2003, tr. 6 – 8.
Ở cấp độ luận án Tiến sĩ Luật học và luận văn Thạc sĩ Luật học có các đề
tài: Võ Khánh Vinh (1993) Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam,
Luận án Phó Tiến sỹ Luật học; Nguyễn Sơn (2002) Các hình phạt chính trong
Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học; Trần Văn Sơn (1996), Quyết
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội;
Hoàng Chí Kiên (2004), Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt,
Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Đào Tú Hoa (2006), Hình phạt tù trong luật

quyết định hình phạt tù có thời hạn, trong đó phải làm rõ khái niệm, căn cứ
quyết định hình phạt tù có thời hạn, vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn
trong những trường hợp đặc biệt…

4


- Phân tích làm rõ thực tiễn quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa
bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giai đoạn 2012-2016, từ đó phân tích những
hạn chế, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc,
bất cập trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định.
- Kiến nghị các giải pháp bảo đảm quyết định đúng hình phạt tù có thời
hạn nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt trong phòng, chống tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn về
quyết định hình phạt tù có thời hạn theo luật hình sự Việt Nam, từ thực tiễn
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề lý luận và pháp lý có liên quan tới chế
định quyết định hình phạt tù có thời hạn dưới góc độ luật hình sự và thực tiễn
quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
Để hoàn thành đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu đặc thù như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp

Ý Yên, tỉnh Nam Định
Chương 3. Các giải pháp bảo đảm quyết định đúng hình phạt tù có thời hạn.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
1.1 Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm quyết định hình phạt tù có thời hạn
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong
những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Hiện chưa có một văn
bản quy phạm pháp luật nào xác định khái niệm quyết định hình phạt. Tuy
nhiên tựu chung lại cơ thể nhận định: “Quyết định hình phạt là một giai đoạn,
một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn
loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật)
theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong
bản án buộc tội” [48, tr.386]
Hoạt động xét xử của Tòa án thường được trải qua ba giai đoạn là: Định
tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt
chỉ diễn ra sau khi Tòa án đã tiến hành hoạt động định tội danh và trong trường
hợp người phạm tội bị khẳng định là có tội thì mới có thể bị áp dụng hình phạt.
Nếu lấy giai đoạn định khung hình phạt để so sánh thì định khung hình phạt sai
sẽ dẫn đến quyết định hình phạt sai, nhưng có thể định tội danh vẫn đúng. Vì
vậy định khung hình phạt là bước đầu tiên quan trọng của quyết định hình phạt,
là cơ sở để quyết định hình phạt đúng nên định khung hình phạt thuộc về quyết
định hình phạt. Trên cơ sở khung hình phạt đã xác định, Hội đồng xét xử phải
tiến hành quyết định hình phạt chính trước, sau đó mới quyết định hình phạt bổ
sung. Điều này cho thấy trong quyết định hình phạt thì quyết định hình phạt

cải tạo người phạm tội. Đối tượng này phân biệt với pháp nhân thương mại
phạm tội trong BLHS 2015 bởi vì không thể xử phạt tù đối với pháp nhân.
- Hậu quả pháp lý sau khi Tòa án quyết định một mức hình phạt tù giam
cụ thể đối với người phạm tội là sẽ tước tự do của người bị kết án trong một
thời hạn và một số quyền nhân thân của người đó.


8


- Quyết định hình phạt tù có thời hạn là hoạt động nhận thức và áp dụng
pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử. Trong quan hệ pháp luật hình sự, trách
nhiệm hình sự của người phạm tội không mặc nhiên phát sinh nếu không có
hoạt động xét xử của Toà án để chứng minh người đó phạm tội và áp dụng các
biện pháp chế tài của luật hình sự đối với họ. Do đó, quyết định hình phạt luôn
là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Hội đồng xét xử tiến
hành trên cơ sở căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định hình
phạt đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể.
1.1.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt tù có thời hạn
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng xuất phát, tư
tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác
định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối
với người phạm tội [48, tr.388].
Các nhà nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam đều thống nhất quan
điểm việc quyết định hình phạt nói chung phải dựa trên bốn nguyên tắc:
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa,
nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng [48, tr.389]. Các nguyên
tắc này có tính độc lập tương đối của nó và cùng tồn tại. Nhưng mặt khác, các
nguyên tắc quyết định hình phạt luôn có những phần, những nội dung xâm nhập
nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn

tội cụ thể áp dụng để quyết định hình phạt đúng đắn.
* Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc nhân đạo XHCN là một nguyên tắc tiến bộ thể hiện ở việc
khi quyết định hình phạt Tòa án phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo, cân nhắc
lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể
thống nhất biện chứng, hài hòa và hợp lý. Ở nước ta, tư tưởng nhân đạo luôn thể
hiện rõ nét trong đường lối chính sách của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà
nước. Nguyên tắc nhân đạo XHCN trong quyết định hình phạt tù có thời hạn thể
hiện ở Điều 3 BLHS 1999 - Nguyên tắc xử lý tội phạm: "… khoan hồng đối với
người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc
tội,


10


ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra" [26].
Bộ luật hình sự cũng quy định các tình tiết định khung giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt buộc
Tòa án phải cân nhắc khi quyết định hình phạt tù có thời hạn. Hình phạt tù có
thời hạn bị hạn chế áp dụng đối với một số chủ thể đặc biệt như người chưa
thành niên, người già, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức khả năng điều khiển hành vi.
* Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Cá thể hóa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng của chế
định hình phạt và là nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt nói chung. Nội
dung của nguyên tắc cá thể hóa khi quyết định hình phạt tù có thời hạn được thể
hiện trong BLHS cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Khi quyết
định hình phạt tù, hình phạt mà tòa án tuyên đối với người bị kết án phải phù
hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, mức độ tham gia thực hiện

phạt chính và hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính gồm có: a) cảnh cáo; b)
phạt tiền; c) cải tạo không giam giữ; d) trục xuất; đ) tù có thời hạn; e) tù chung
thân; g) tử hình. Các hình phạt bổ sung gồm có: a) cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định; b) cấm cư trú; c) Quản chế;
d) tước một số quyền công dân; đ) tịch thu tài sản; e) phạt tiền, khi không áp
dụng là hình phạt chính; g) trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại
trại giam trong một thời hạn nhất định [26]. Hình phạt tù có thời hạn tước
quyền tự do và hạn chế một số quyền nhân thân của người bị kết án, cách ly họ
khỏi đời sống xã hội bình thường, buộc họ phải sống trong môi trường riêng
biệt có sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
giáo dục và cải tạo họ. Đây là hình phạt phổ biến trong hệ thống hình phạt của
mọi quốc gia. So với hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn có nội
dung cưỡng chế nghiêm khắc hơn nhiều. Điều này thể hiện ở việc người bị kết

12


án cải tạo không giam giữ không bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mọi hoạt
động sinh hoạt với gia đình, cộng đồng không bị ảnh hưởng mà chỉ bị chính
quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục. Trong khi đó người bị kết án tù
bị tước tự do hoàn toàn, bị giam giữ trong một môi trường chịu sự quản lý chặt
chẽ và nghiêm khắc, việc tiếp xúc với môi trường sống xã hội bị hạn chế đáng
kể. Hạn chế tự do đối với người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ
yếu của loại hình phạt này. Việc hạn chế tự do của người phạm tội còn có mục
đích phòng ngừa chung. Khi bị kết án tù và phải chấp hành án tại cơ sở giam
giữ, họ không còn có những điều kiện nhất định để phạm tội mới gây thiệt hại
đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Điều 33 Bộ luật hình sự 1999 quy định thời hạn tù tối thiểu là ba tháng,
thời hạn tù tối đa là hai mươi năm. Theo điều 50 Bộ luật hình sự 1999, trong

cụ thể áp dụng đối với người phạm tội. Đó là những quy định liên quan đến
nguyên tắc xử lí, đến hình phạt và quyết định hình phạt. Thuộc về những quy
định này bao gồm:
- Các quy định trong Phần chung của BLHS 1999 như: Quy định về
Nguyên tắc xử lí (Điều 3), về hình phạt tù có thời hạn (Điều 33), về căn cứ
quyết định hình phạt (Điều 45), về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
(Điều 46), các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 48), về tái phạm,
tái phạm nguy hiểm (Điều 49), quy định về án treo (Điều 50).
- Các quy định trong phần các tội phạm của BLHS 1999 về khung hình
phạt tù có thời hạn cho từng loại tội.
Căn cứ vào quy định của BLHS bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc
pháp chế XHCN trong hoạt động xét xử của Tòa án. Vì vậy, chỉ quyết định hình
phạt khi đã có đủ căn cứ xác định một người đã phạm vào một tội mà Bộ luật
hình sự quy định, tức là phải định tội danh trước rồi mới quyết định hình phạt
sau. Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Toà án phải áp dụng đúng khung
hình phạt và không được phạt cao hơn mức cao nhất của khung hình phạt đã
quy định. Việc áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phải tuân theo
quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự.

14


* Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Các quy định của Bộ luật hình sự thuộc căn cứ thứ nhất đã thể hiện tình
thần của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Đó là khung hình phạt cũng như hình
phạt cụ thể cần quyết định cho từng trường hợp phạm tội phải tương xứng với
tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Áp dụng các quy định trên
để quyết định hình phạt cũng có nghĩa là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Ví dụ: Cùng với hành vi dùng dao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của

của con người được ưu tiên bảo vệ và tội phạm xâm phạm các quan hệ này bị
có tính chất mức độ nguy hiểm lớn hơn, khung hình phạt nặng hơn.
- Thủ đoạn, công cụ phương tiện, hình thức thực hiện tội phạm: Thủ đoạn
công cụ càng tinh vi thì tính chất nguy hiểm càng lớn.
- Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra.
- Tính chất và mức độ lỗi, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội. Cùng
là lỗi nhưng lỗi cố ý nguy hiểm hơn lỗi vô ý, cùng là lỗi cố ý nhưng lỗi cố ý
trực tiếp thì nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián tiếp; cùng là lỗi cố ý trực tiếp, nhưng
sự quyết tâm phạm tội của người phạm tội cao nguy hiểm hơn người không có
ý thức quyết tâm phạm tội đến cùng; cùng là vô ý thì vô ý vì quá tự tin nguy
hiểm hơn lỗi vô ý vì cẩu thả.
- Những tình tiết thuộc về nhân thân có ảnh hưởng tới mức độ nguy hiểm
của tội phạm …
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội, nhà làm luật chia tội phạm ra làm bốn loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng. Đối với cùng một loại tội phạm, nhà làm luật cũng chia các khung hình
phạt khác nhau: khung cơ bản, khung tăng nặng, khung giảm nhẹ căn cứ trên
tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án bắt buộc phải chỉ ra trong bản án
những tình tiết cụ thể để chứng minh tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội mà Tòa án dựa vào đó để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

16


* Nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm đặc tính về mặt chính trị
-xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh lý của người phạm tội [48, tr.403]. Để có căn cứ
quyết định hình phạt có rất nhiều đặc điểm được Tòa án cân nhắc tới, trong đó

phạm vi một khung hình phạt.
Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 48
Bộ luật hình sự 1999 với tính chất là tình tiết tăng nặng chung, để khi cá thể hóa
TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong
phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này.
Về tính chất pháp lí của các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách
nhiệm hình sự, cần lưu ý như sau:
- Tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu là
những tình tiết được luật hình sự quy định tại Điều 46 BLHS 1999 hoặc có thể
là tình tiết khác được Tòa án xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
để cân nhắc khi quyết định hình phạt;
- Tình tiết chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu
được luật hình sự quy định tại Điều 48 BLHS 1999;
- Đối với các loại tội, không phải tất cả các tình tiết được nêu tại Điều 46
và 48 BLHS đều có thể là các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS bởi vì
các tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi
là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ;
- Hầu hết các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS đều chỉ được nêu
một cách khái quát mà không được mô tả cụ thể. Riêng tình tiết tăng nặng Tái
phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định cụ thể tại Điều 49 BLHS 1999.
1.2.3 Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong một số trường hợp đặc
biệt
Trong nhiều trường hợp khi quyết định hình phạt, Tòa án phải vận dụng
các quy định mang tính đặc thù để quyết định hình phạt riêng đối với bị cáo.
Các quy định đặc thù đó thể hiện tính chất nhân đạo của Nhà nước như quy
định đối với người chưa thành niên, quy định mang tính giảm nhẹ hay tăng

18





mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ
hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” [26].
Theo quy định này, khi quyết định hình phạt Toà án có thể không lựa
chọn và tuyên một hình phạt cho người phạm tội trong giới hạn của khung hình
phạt cho phép tuyên một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
hoặc chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn khi người phạm tội có nhiều tình
tiết giảm nhẹ TNHS.
Căn cứ để Toà án có thể quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ
luật là người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy
định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999. Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 đã liệt kê
tất cả các tình tiết giảm nhẹ TNHS mang tính chất phổ biến. Khi quyết định
hình phạt trong trường hợp đặc biệt này thì căn cứ “có ít nhất hai tình tiết giảm
nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46” có giá trị pháp lý bắt buộc. Đồng thời
lý do của việc giảm nhẹ khi quyết định hình phạt trong trường hợp này phải
được ghi vào bản án.
* Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều
tội Hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt chính do đó khi Tòa án
khi
tổng hợp hình phạt phải tuân theo các quy định tại khoản 1 Điều 50 BLHS
1999. Theo quy định này, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó
tổng hợp hình phạt. Khi quyết định hình phạt trong trường hợp này, hình phạt
chính đối với các tội có thể cùng là hình phạt tù có thời hạn hoặc có tội là hình
phạt tù có thời hạn, có tội là hình phạt cải tạo không giam giữ. Nguyên tắc tổng
hợp hình phạt như sau:
- Nếu hình phạt chính đã tuyên cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt
đó được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không vượt quá ba
mươi năm.
- Nếu các hình phạt chính đã tuyên là cải tạo không giam giữ và tù có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status