VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM CÔNG TRÌNH
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN HỮU TRÁNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo quy định của Học viện
Khoa học xã hội.
Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học Viện Khoa
học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng Hình sự
HSST
Hình sự sơ thẩm
NXB
Nhà xuất bản
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
Trách nhiệm hình sự
luật cũ chưa được khắc phục trong khi những sai sót mới lại phát sinh. Do đó,
Quốc hội đã phải ban hành Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 lùi hiệu
lực thi hành của Bộ luật Hình sự 2015 để sửa đổi bổ sung; kể từ 01/7/2016, các
1
quy định có lợi cho người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015
vẫn được thực hiện. Nghiên cứu Bộ luật Hình sự 2015 để tìm ra những ưu điểm
và hạn chế còn tồn tại, nhất là đối với chế định quyết định hình phạt, từ đó đề xuất
những giải pháp hoàn thiện là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là địa bàn có diện tích rộng, có nhiều
tuyến giao thông huyết mạch đi qua, tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính
khác, kinh tế tương đối phát triển dẫn tới dân số tăng nhanh về cả tự nhiên và
cơ học; tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp. Trong những năm qua, công
tác xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định về cơ bản đạt kết
quả tốt, đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tại
địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng phát sinh nhiều bất cập, nhất là
trong quyết định hình phạt tù có thời hạn. Nguyên nhân xuất phát từ cả yếu tố
khách quan và chủ quan dẫn tới quyết định hình phạt không chính xác đối với
người phạm tội.
Vì vậy, nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn quyết định hình phạt tù có
thời hạn, trên cơ sở đó đề xuất những phương án hoàn thiện pháp luật hình sự,
giải quyết những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra, đảm bảo sự nhận thức
thống nhất trong thực thi pháp luật là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa
quan trọng. Đây cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài “Quyết định hình phạt tù
có thời hạn theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định” làm luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chế định quyết định
Luận án Phó Tiến sỹ Luật học; Nguyễn Sơn (2002) Các hình phạt chính trong
Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học; Trần Văn Sơn (1996), Quyết
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội;
Hoàng Chí Kiên (2004), Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt,
Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Đào Tú Hoa (2006), Hình phạt tù trong luật
hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học,
Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Hằng (2014), Các căn cứ quyết định hình phạt trong
3
Bộ luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Nguyễn Mạnh
Tuấn (2014), Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo Luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở số liệu thực tiễn của địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội.
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu về chế định quyết định hình
phạt trên cơ sở lý luận và từ thực tiễn các địa phương khác nhau. Tuy nhiên, cho
đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, chuyên sâu về
vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn một cách đầy đủ riêng biệt dưới góc
độ pháp lý hình sự và tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định;
nhiều nội dung liên quan chưa có được cách giải quyết thống nhất, hơn nữa các
công trình này nghiên cứu khi Bộ luật hình sự năm 2015 chưa được ban hành.
Do vậy, việc nghiên cứu về quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn xét
xử tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là đòi hỏi khách quan, cấp thiết vừa có tính
lý luận vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ lí luận và thực tiễn
của việc quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định, luận văn hướng đến mục đích kiến nghị các giải pháp bảo đảm quyết định
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
Để hoàn thành đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu đặc thù như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp
lịch sử và hệ thống, phương pháp phân tích,... để giải quyết những vấn đề khoa
học được đặt ra một cách linh hoạt, đan xen lẫn nhau để đạt được kết quả nghiên
cứu cao nhất của đề tài. Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa vào các văn bản
pháp luật của Nhà nước và những văn bản hướng dẫn do Tòa án nhân dân tối
cao ban hành có liên quan đến nội dung của đề tài, những số liệu thống kê, báo
5
cáo tổng kết năm công tác (từ tháng 01/10 năm trước tới 30/9 của năm liền sau)
của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và Tòa án nhân dân huyện Ý Yên để phân
tích, tổng hợp các luận chứng, các vấn đề được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lí luận: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu
một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt
tù có thời hạn. Luận văn góp phần hoàn thiện lí luận về quyết định hình phạt tù
có thời hạn.
- Về thực tiễn: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng
trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung trong quyết định
hình phạt tù có thời hạn. Luận văn sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo quan trọng dùng trong quá trình học
tập và nghiên cứu của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn
vậy định khung hình phạt là bước đầu tiên quan trọng của quyết định hình phạt,
là cơ sở để quyết định hình phạt đúng nên định khung hình phạt thuộc về quyết
định hình phạt. Trên cơ sở khung hình phạt đã xác định, Hội đồng xét xử phải
tiến hành quyết định hình phạt chính trước, sau đó mới quyết định hình phạt bổ
sung. Điều này cho thấy trong quyết định hình phạt thì quyết định hình phạt
chính có tính chất bắt buộc đối với người phạm tội bị kết án.
Nội dung của quyết định hình phạt thể hiện hai điểm sau: 1) Tòa án lựa
chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản
7
điều luật) tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo. 2) xác định một mức hình
phạt cụ thể đối với bị cáo căn cứ trên tính chất mức độ nguy hiểm cho hành vi
phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
người phạm tội.
Hình phạt tù với tư cách là một hình phạt chính trong hệ thống hình phạt
thường được áp dụng đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội bình thường một
thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo họ. Như vậy, có thể định nghĩa: Quyết
định hình phạt tù có thời hạn là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở
việc Toà án có thẩm quyền lựa chọn khung và mức phạt tù cụ thể được quy định
trong điều luật theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội
thể hiện trong bản án buộc tội.
Tiếp cận từ khái niệm và các thuộc tính cơ bản của lí luận về quyết định hình
phạt, có thể suy ra những đặc điểm cơ bản của quyết định hình phạt tù như sau:
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn là một giai đoạn của quá trình xét
xử và chỉ do một cơ quan duy nhất có thẩm quyền tiến hành là Tòa án.
- Đối tượng của quyết định hình phạt tù có thời hạn là cá nhân người
phạm tội, con người cụ thể đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi
tắc này có tính độc lập tương đối của nó và cùng tồn tại. Nhưng mặt khác, các
nguyên tắc quyết định hình phạt luôn có những phần, những nội dung xâm nhập
nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn
nhau và ở dạng tổng thể tạo thành một hệ thống thống nhất.
Quyết định hình phạt tù có thời hạn là trường hợp riêng phổ biến của Tòa
án khi quyết định hình phạt, vì vậy cũng phải tuân thủ bốn nguyên tắc nêu trên:
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa,
nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng.
* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc quan trọng
và cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tư tưởng
9
cơ bản của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nói đến sự tuân thủ
triệt để pháp luật của Nhà nước, các cơ quan tổ chức và công dân. Đối
với quyết định hình phạt nguyên tắc này được thể hiện ở việc Tòa án chỉ
áp dụng hình phạt đối với những hành vi phạm tội được quy định trong
Bộ luật hình sự. Điều 2 BLHS 1999 khẳng định: Chỉ người nào phạm một
tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự
[26]. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt tù
có thời hạn thể hiện ở việc Tòa án phải tuân theo trình tự tố tụng nhất
định, các điều kiện áp dụng hình phạt tù và đặc biệt Tòa án chỉ có thể tuyên
trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong BLHS (trừ trường hợp
quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật). Mặt khác, nội dung nguyên
tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt tù có thời hạn đòi hỏi các quy
định về mục đích hình phạt, căn cứ lập luận phải được Tòa án ghi rõ trong bản
án định tội.
Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt tù có thời hạn
hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, mức độ tham gia thực hiện
tội phạm. Việc các nhà làm luật quy định các khung hình phạt trong một tội
danh cũng như quy định mức thấp nhất và mức cao nhất của khung hình phạt
chính là quy định khả năng cá thể hóa đối với những đối tượng chủ mưu, cầm
đầu, chỉ huy, những đối tượng ngoan cố chống đối, lưu manh, tái phạm nguy
hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội và khoan hồng đối với người tự
thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn
hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra…
Trong áp dụng pháp luật hình sự, khi quyết định hình phạt tù có thời hạn,
Tòa án phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như
hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ để cá thể hóa TNHS đối với người bị kết án.
* Nguyên tắc công bằng
11
Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng là sự tương xứng giữa tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự
của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu.
Như vậy, thứ nhất nguyên tắc công bằng đòi hỏi việc quyết định hình
phạt tù phải tương xứng với hành vi của người phạm tội. Thứ hai, khi quyết
định hình phạt tù Tòa án phải cân nhắc cả nhân thân người phạm tội và các tình
tiết khác có trong vụ án. Thứ ba, hình phạt tù được tuyên cần phải phản ánh một
cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức
thuyết phục mọi người.
1.2 Quy định của pháp luật về quyết định hình phạt tù có thời hạn
1.2.1 Quy định của pháp luật về hình phạt tù có thời hạn
Hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt chính trong hệ thống hình phạt
của Bộ luật hình sự 1999.
hạn tù tối đa là hai mươi năm. Theo điều 50 Bộ luật hình sự 1999, trong trường
hợp phạm nhiều tội, mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn là ba mươi năm.
1.2.2 Căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa vào những căn cứ cụ thể để
đảm bảo hình phạt được tuyên là đúng đắn, chặt chẽ và thống nhất; đồng thời
tránh được tình trạng tùy tiện trong quyết định hình phạt và đảm bảo đạt được
mục đích của hình phạt. Do đó, căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ
bản có tính nguyên tắc do Bộ luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà
có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện
tội phạm [48, tr.395].
Điều 45 BLHS 1999 quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau:
Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân
nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì
vậy, căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn cũng bao gồm:
- Các quy định của Bộ luật hình sự;
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho hành xã hội cỉa hành vi phạm tội;
13
- Nhân thân người phạm tội;
- Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đây là những căn cứ chung, có tính chất bắt buộc trong mọi trường hợp
đối với tòa án khi quyết định hình phạt. Các căn cứ này tuy có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau nhưng đều có tính độc lập tương đối.
* Các quy định của Bộ luật hình sự
Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào
các quy định của Bộ luật hình sự để lựa chọn khung và xác định mức hình phạt
cụ thể áp dụng đối với người phạm tội. Đó là những quy định liên quan đến
tội có thể bị tuyên phạm tội cố ý gây thương tích hoặc giết người, tùy từng
trường hợp có thể bị định khung tăng nặng, khung cơ bản hoặc khung giảm nhẹ
tương ứng với mức hình phạt khác nhau.
Như vậy trong căn cứ thứ nhất đã chứa đựng một phần nội dung của căn
cứ thứ hai. Tuy nhiên, vẫn cần thiết quy định trong Bộ luật Hình sự một căn cứ
quyết định hình phạt độc lập đó là: tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội.
Tính nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở tổng thể của hai khái niệm
“tính chất” và “mức độ” nguy hiểm của hành vi phạm tội [48, tr.397].
Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của hành vi phạm tội,
là thuộc tính khách quan của tội phạm [48, tr.398]. Mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội là thuộc tính về lượng nhất định của cùng một chất tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội [48, tr.398]. Những tội phạm giống
nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội nhưng có thể khác nhau về mức độ
nguy hiểm cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng là thuộc tính khách
quan của tội phạm.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ
thuộc vào các yếu tố cấu thành tội phạm, bởi vì tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, nếu hành vi đó tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy
15
hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm (khoản 4 Điều 8 Bộ
luật hình sự).
Các yếu tố đó bao gồm:
- Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ
thuộc vào tính chất quan trọng của khách thể bị xâm phạm. Quan hệ xã hội về
an ninh quốc gia và quan hệ xã hội về tính mạng, sức khỏe danh dự nhân phẩm
của con người được ưu tiên bảo vệ và tội phạm xâm phạm các quan hệ này bị
có tính chất mức độ nguy hiểm lớn hơn, khung hình phạt nặng hơn.
nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội; những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh khả
năng giáo dục, cải tạo người phạm tội; những đặc điểm về nhân thân người
phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội mà Tòa án phải xem
xét khi quyết định hình phạt.
Khoản 2 Điều 224 BLTTHS 2003 quy định: “Trong bản án cần phải ghi
rõ: … họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ
văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; …” [28]. Điều này
không những để định danh người phạm tội mà còn buộc Tòa án phải xem xét
các yếu tố nhân thân này khi quyết định hình phạt. Ngoài những đặc điểm thuộc
về nhân thân người phạm tội có thể được chỉ rõ trong luật (mang tính pháp lý),
Tòa án có thể cân nhắc những đặc điểm không được chỉ rõ trong luật nhưng
được pháp luật cho phép khi chúng có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt
(không mang tính pháp lý).
* Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
Khi quyết định hình phạt nói chung hình phạt tù có thời hạn nói riêng,
Tòa án không những phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội mà còn cân nhắc các tình
tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự .
Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 46 Bộ
luật hình sự 1999 với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết giảm
17
nhẹ TNHS do Tòa án xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, để khi cá thể
hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong
phạm vi một khung hình phạt.
Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 48
Bộ luật hình sự 1999 với tính chất là tình tiết tăng nặng chung, để khi cá thể hóa
Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, quyết định hình phạt tù
có thời hạn trong trường hợp đặc biệt bao gồm một số trường hợp sau đây:
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của BLHS
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều tội
- Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đồng phạm
- Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên
phạm tội.
*Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Hình sự.
Quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn của BLHS trước hết xuất
phát từ nguyên tắc nhân đạo XHCN mà nhà làm luật đã xây dựng lên nhằm
mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ có thể trở thành công dân có
ích cho xã hội. Đây là mục đích hàng đầu thể hiện thái độ khoan hồng của
Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội khi họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ,
đồng thời cũng thể hiện rõ nguyên tắc cá thể hoá là hình phạt phải tương xứng
với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Điều 47 BLHS 1999 quy định: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng
phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp
điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình
phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới
19
mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ
tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một
ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo nguyên tắc nêu trên.
* Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
Thực tiễn xét xử cho thấy không phải trong tất cả các trường hợp phạm
nhiều tội đều được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần. Nếu tất cả các tội
phạm đều được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần thì quyết định hình
phạt trong trường hợp này bao gồm quyết định hình phạt đối với từng tội và
quyết định hình phạt chung đối với các tội theo quy định tại Điều 50 BLHS
1999. Nếu tất cả các tội phạm được xét xử ở các lần khác nhau thì việc tổng
hợp hình phạt nói chung và hình phạt tù nói riêng ở nhiều bản án sẽ được thực
hiện theo quy định tại Điều 51 BLHS 1999.
Về bản chất thì đây cũng là quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội nên việc quyết định hình phạt trong trường hợp này được thực hiện
giống như quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội nhưng do
khác nhau về thời điểm phạm tội và thời điểm xét xử nên việc người phạm tội
phải chấp hành hình phạt trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
có sự khác biệt. Điều 51 BLHS 1999 quy định việc tổng hợp hình phạt trong
nhiều bản án bao gồm 3 trường hợp:
- Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực
pháp luật lại bị đưa ra xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án đó.
Trường hợp này được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 1999
Trong trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị
xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 BLHS
1999. Do người phạm tội đã chấp hành được một phần hình phạt của bản án
trước nên thời gian này được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
- Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực
pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử. Trường hơp này được quy định
tại khoản 2 Điều 51 BLHS.