Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, dạy học môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh có
những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố
hình học và thống kê đơn giản; hình thành các kĩ năng thực hành, đo lường, giải bài
toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống, góp phần bước đầu phát triển
năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng. Nội dung cơ bản môn
Toán ở Tiểu học bao gồm 5 tuyến kiến thức chính : Số học, đại lượng và đo đại
lượng, hình học, thống kê mô tả, giải toán có lời văn. Trong tuyến kiến thức đó, giải
toán có lời văn là nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình môn Toán ở Tiểu học.
Dạy học giải toán có lời văn có ý nghĩa to lớn nhằm giúp học sinh củng cố lý thuyết
vận dụng vào giải bài tập, vận dụng vào đời sống, rèn các kĩ năng, phát triển tư duy,
rèn học sinh đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt
chẽ, chính xác,…
Môn Toán ở Tiểu học đòi hỏi ở mỗi học sinh sự huy động tất cả vốn kiến
thức toán học vào hoạt động giải toán và để hình thành các kĩ năng giải toán đòi hỏi
học sinh phải có lối tư duy khoa học và có vốn kiến thức tổng hợp thực tế. Mỗi bài
toán được thể hiện qua các thuật toán và ẩn dưới các dạng toán, mang tính hệ thống
các quan hệ mật thiết với nhau. Toán lớp 4 củng cố kĩ năng giải toán hợp có lời
văn, học sinh biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình
vẽ, biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, các bài toán được
sắp xếp dưới dạng các bài toán điển hình như: Tìm số trung bình cộng, Tìm hai số
biết tổng và hiệu của hai số đó, Tìm hai số biết tổng( hoặc hiệu) và tỉ số của hai số
đó. Các dạng toán này tương đối khó vì nó đòi hỏi người học có khả năng tư duy
trừu tượng, những em có học lực khá và giỏi sẽ rất thích môn học này, ngược lại
những em tư duy chậm hơn thì ngại học dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn
toán chiếm tỉ lệ khá cao so với các môn học khác. Nhiều em thường không xác lập
được mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, không tìm ra được mối quan hệ
giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán. Mặt khác, các em chưa
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Một số học sinh đã đặt phép tính sai : (bài làm của năm học 2013 – 2014)
Vì đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập
trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững, thích học nhưng
chóng chán. Như vậy, vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học
toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo
trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Giáo viên phải có phương pháp dạy học
như thế nào để truyền đạt kiến thức và khả năng học môn học này đạt hiệu quả cao,
… làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học
tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu kiến thức? Để góp phần nâng cao hiệu
quả dạy học toán ở tiểu học, khắc phục được khó khăn của người thầy và hạn chế
sai sót của người trò không bị nhầm lẫn giữa các dạng toán và biết cách xác lập mối
quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, tìm ra cách giải, phép tính và lời giải đúng
cho bài toán, đó là điều mà tôi trăn trở, suy nghĩ. Là CBQL phụ trách chuyên môn,
bản thân tôi cũng trực tiếp dạy lớp 4. Vì đặc thù học sinh của trường Tiểu học Võ
Thị Sáu chủ yếu là dân tộc Ê đê rất yếu về tiếng Việt nên kĩ năng đọc đề toán, giải
bài Toán có lời văn còn rất hạn chế. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Hướng dẫn học
sinh giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó lớp 4 đối với học
sinh DTTS” với hi vọng với một số kinh nghiệm tôi đã vận dụng để giúp học sinh
lớp 4 nắm chắc dạng toán này và sẽ là những kinh nghiệm hữu ích cho giáo viên
Tiểu học, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 4, lớp 5 ở những trường có học sinh là dân
tộc thiểu số.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
_______________________________________________________________
3
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
hình thành kĩ năng, kĩ xảo như thế nào thì quá trình dạy học sẽ không mang lại kết
quả cao. Đối với môn Toán là môn học tự nhiên nhưng rất trừu tượng, đa dạng và
logic, hoàn toàn gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, nếu học sinh
không có phương pháp học đúng sẽ không nắm được kiến thức cơ bản về Toán học
và đối với các môn học khác nhận thức sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Môn Toán là
môn học quan trọng trong tất cả các môn học, nó là chìa khoá để mở ra các môn
học khác, đồng thời nó có khả năng phát triển tư duy logic, phát triển trí tuệ cần
thiết giúp con người vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. Trong giờ Toán, bên cạnh
việc tìm tòi và sáng tạo phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối
tượng học sinh, mỗi giáo viên cần phải giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri
thức Toán học, học sinh có phương pháp học toán phù hợp với từng dạng bài Toán
thì việc học mới đạt kết quả cao, từ đó khuyến khích tinh thần học tập của các em
cao hơn.
II.2. Thực trạng
_______________________________________________________________
4
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi :
+ Nhà trường :
- Nhà trường, tổ chuyên môn thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ,
trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn.
- Giáo viên tích cực học hỏi, nhiệt tình đóng góp ý kiến giúp đỡ lẫn nhau, sẵn
sàng chia sẻ những hiểu biết về chuyên môn để cùng nhau tiến bộ.
- Lãnh đạo nhà trường năng động, nhiệt tình, luôn tư vấn cho giáo viên những
phương pháp dạy học tích cực.
so sánh,…), trong khi đó học sinh chỉ biết làm theo, nói theo giáo viên hoặc làm
theo các bài mẫu trong sách, do đó học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển
đầy đủ khả năng của mình.
_______________________________________________________________
5
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
- Kĩ năng đọc đề toán, tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và
tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính
còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép
tính.
- Kĩ năng nhận dạng bài toán và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời văn còn
hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên
còn chóng quên các dạng toán.
- Tư duy của các em chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan. Nhưng có những
bài toán có lời văn lại cần nhiều đến tư duy trừu tượng nên học sinh lúng túng, gặp
nhiều khó khăn, thậm chí không làm được các dạng toán điển hình.
- Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học nên chưa hiểu
bài dẫn đến không làm được bài.
Theo thống kê lớp 4 tôi tham gia dạy của những năm học gần đây cho thấy
học sinh còn nhầm lẫn dạng toán “Tổng - Tỉ” với các dạng toán điển hình khác dẫn
đến giải sai bài toán. Khi dạy dạng toán này ở những bài đầu tiên của HKII:
HKII
Năm học
Lớp
SL
(%)
11
10
15
16
39,3
38,5
62,5
64,0
(%)
17
16
9
9
60,7
61,5
37,5
36,0
Đặt lời giải và đáp số
Đạt
Chưa đạt
TL
TL
TL
SL
SL
(%)
13
12
14
14
46,4
46,2
58,3
56,0
(%)
15
14
10
11
b. Thành công, hạn chế.
* Thành công :
Khi vận dụng đề tài này, tôi thấy hiệu quả là học sinh có kĩ năng nhận dạng
toán, sử dụng thành thạo và vận dụng một cách linh hoạt các công thức trong giải
toán, biết xác định, phân biệt được các dạng toán có lời văn.
* Hạn chế :
- Đa số các em còn yếu môn Tiếng Việt nên viết lời giải chưa đúng.
- Một số em tiếp thu bài chậm, lại mau quên.
44,0
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
- Một số học sinh còn thụ động, chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ và làm theo
mẫu.
- Do nhầm lẫn trong thực hiện phép tính.
- Do kĩ năng nhận dạng toán, kỹ năng phân tích tóm tắt và giải các bài toán
có lời văn của các em còn nhiều hạn chế.
- Một số em còn mải chơi, chưa chăm chỉ học tập, hoàn cảnh gia đình khó
khăn, bố mẹ chưa quan tâm,…
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
+ Về phía giáo viên :
Đa số giáo viên rất ngại dạy dạng toán này một cách chu đáo cho mọi đối
tượng học sinh bởi dạng toán có lời văn khá ẩn ý. Giáo viên chưa coi trọng việc
hướng dẫn tổ chức học sinh biết cách tìm hiểu phân tích, tổng hợp bài toán, bỏ qua
bước phân tích bài toán khi hướng dẫn học sinh thực hành giải toán, thường là cho
học sinh đọc đề toán, cho học sinh xác định điều kiện cho biết và yêu cẩu cần tìm
sau đó cho học sinh giải. Giáo viên đã bỏ qua bước quan trọng nhất để hướng dẫn
học sinh cách giải bài toán chính xác đúng với yêu cầu đặt ra là phân tích bài toán
để tìm ra mối liên quan giữa cái đã cho và cái cần tìm, xác định được dạng toán.
Mặt khác, trong thực tế giảng dạy, tôi thấy nhiều giáo viên vẫn còn áp dụng
cách dạy cũ. Như vậy cả giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào tài liệu sẵn có.
Bên cạnh đó, nhiều giáo viên lên lớp không sử dụng đồ dùng trực quan (sơ đồ, vẽ
hình, tóm tắt,…). Khả năng hướng dẫn học sinh giải toán còn hạn chế làm cho các
em tiếp thu kiến thức rất khó khăn.
+ Về phía học sinh :
Nhiều học sinh yếu về kĩ năng phân tích đề bài, nhầm lẫn trong thực hiện
phép tính, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do kĩ năng nhận dạng toán, kỹ năng
nắm vững cách tóm tắt đề, trình bày lời giải, từ đó nâng cao chất lượng học sinh đối
với môn toán nói riêng và chất lượng toàn diện nói chung.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1 : Khắc sâu lí thuyết
Tôi cho học sinh xác định đặc điểm ngôn ngữ của tỉ số (còn tổng số các em
đã thành thạo ở dạng Tổng – Hiệu). Khi bài toán có cụm từ gấp a lần hoặc kém a
lần, a ở đây là số cụ thể : ví dụ 2, 3, 4 … thì học sinh biết đó là tỉ số ở dạng số tự
nhiên, và gặp bài có cụm từ “bằng a/b” thì gần 100% học sinh kết luận là tỉ số ở
1 1 2
dạng phân số (a/b là phân số cụ thể ví dụ : 2 , 3 , 3 , …)
Từ chỗ hiểu thấu đáo ngôn ngữ, lời văn của dạng toán điển hình trên, 80% 90% học sinh DTTS cũng đã xác định dễ dàng dạng toán Tổng - Tỉ.
Trên cơ sở đã nhận dạng toán chính xác, các em cũng dễ dàng thiết lập sơ đồ
bằng đoạn thẳng theo đặc trưng của dạng bài và cũng dựa vào sơ đồ bằng đoạn
thẳng các em sẽ đi giải bài toán đúng hướng. Đặc biệt, với bài toán dạng Tổng - Tỉ
mà khi gặp tỉ số dạng
2 3
, , … (tử > 1) thì trên sơ đồ trực quan đã lập, học sinh sẽ
3 4
tính chính xác số bé, số lớn (nếu em nào sai tôi gọi lên và hỏi : “số bé gồm có mấy
phần ? (2, 3 … phần) thì em phải lấy giá trị một phần nhân với số phần của số bé”
và từ đó suy ra cách tìm số lớn theo từng dạng. Ví dụ như toán tổng- tỉ thì số lớn
bằng tổng trừ số bé, hoặc giá trị một phần nhân với số phần của số lớn.
Trước khi giải bài toán dạng Tổng - Tỉ, tôi yêu cần học sinh nhắc lại các
bước để giải dạng toán Tổng - Tỉ. Các bước đó là :
1. Vẽ sơ đồ
2. Tìm Tổng số phần bằng nhau (Tổng số phần bằng nhau = Số phần của số
lớn + số phần của số bé)
Trở lại ví dụ 1, tôi hướng dẫn học sinh phân tích như sau :
*Cách 1 : Từ phân tích đến tổng hợp (phân tích xuôi)
Tôi yêu cầu nhiều học sinh đọc lại đề toán, đọc kĩ và trả lời :
+ Bài toán này cho biết gì ? (Lớp 4A có 35 học sinh, trong đó số học sinh
nam bằng
2
số học sinh nữ)
3
+ Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì ? (Tìm số học sinh nam, số học sinh nữ)
+ Bài toán này thuộc dạng toán gì ? (Tổng - Tỉ)
+ Tổng là bao nhiêu ? (35)
2
3
+ Tỉ là bao nhiêu ? ( )
2
2
cho ta biết điều gì ? (Số học sinh nam bằng số học sinh nữ,
3
3
2
tức là tỉ số giữa số học sinh nam và số học sinh nữ là )
3
+ Tỉ số
+ Số học sinh nam là mấy phần ?(2 phần)
+ 2 phần được xem là số nào? (số bé)
học sinh nữ).
+ Số học sinh nữ là mấy phần ? (3 phần)
+ Muốn tìm Tổng số phần bằng nhau, ta làm thế nào ?(Lấy số phần của
số học sinh nữ cộng với số phần của số học sinh nam)
+ Bài toán này thuộc dạng toán gì ? (Tổng - Tỉ)
+ Tổng là bao nhiêu ? (35)
2
3
+ Tỉ là bao nhiêu ? ( )
+ .....
Như vậy, tôi đã hướng dẫn các em tìm mối quan hệ giữa các đại lượng, xác
định được đâu là tổng, đâu là tỉ, đâu là số lớn và đâu là số bé. Thông thường, phân
tích theo cách 1 học sinh dễ hiểu hơn.
Biện pháp 3 . Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ
Đối với học sinh Tiểu học đi từ tư duy trực quan đến tư duy trừu tượng, vì
vậy, tôi đã biến những cái trừu tượng thành cái trực quan cụ thể (sơ đồ, hình vẽ,
tóm tắt,…) học sinh dễ hiểu và dễ dàng tìm ra lời giải của bài toán. Với dạng toán
Tổng - Tỉ, sơ đồ đoạn thẳng là một bước trong bài giải. Với tôi, sơ đồ đoạn thẳng
gần như là đồ dùng trực quan để các em dễ hiểu nhất. Các em vẽ được sơ đồ sẽ là
chính là thể hiện sự hiểu đề toán của các em. Sơ đồ đoạn thẳng ở dạng toán này
chính là một phần của bải giải nên khi vẽ sơ đồ thì ta đặt sơ đồ dưới Bài giải.
Tôi lấy lại ví dụ 1, để hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, tôi đã hướng dẫn học sinh
xem trong bài toán nói về hai đối tượng nào (học sinh nam và học sinh nữ).
+ Học sinh nam biểu thị mấy phần ? (2 phần)
+ Học sinh nữ biểu thị mấy phần ? (3 phần)
+ Khi vẽ, các phần đó phải như thế nào ? (bằng nhau)
+ Tổng của học sinh nam và học sinh nữ được biểu thị như thế nào? (tổng
được ghi sau dấu ngoặc đứng móc sơ đồ của học sinh nam và học sinh nữ)
+ Đơn vị là gì ? (học sinh)
nào ? (Viết 2 đáp số : số học sinh nam và số học sinh nữ )
+ Đáp số lùi vào mấy ô ? (lùi vào 2 ô so với lời giải)
Dựa vào hướng dẫn của tôi, học sinh có thể trình bày được một bài giải hoàn
chỉnh theo nhiều cách khác nhau . Ví dụ :
. Trình bày theo cách 1 :
Bài giải:
Theo đề bài, ta có sơ đồ:
Nam:
Nữ:
Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là :
2 + 3 = 5 (phần)
Số học sinh nam là:
35 : 5 x 2 = 14 (học sinh)
Số học sinh nữ là:
35 – 14 = 21 (học sinh)
Đáp số:
Nam: 14 học sinh
_______________________________________________________________
11
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Nữ : 21 học sinh
. Trình bày theo cách 2 :
Bài giải:
_______________________________________________________________
12
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng
2
số thứ hai. Tìm hai số đó.
3
Các bạn khác nhận xét, bổ sung.
Nhóm bốc được thăm số 2 được quyền hỏi lại nhóm bốc thăm số 3 :
- Bạn hãy cho biết :
+ Bài toán này cho biết gì ? (Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng 2/3
số thứ hai)
+ Bài toán này hỏi gì ? (Tìm hai số đó?)
+ Bài toán này thuộc dạng toán gì ? (Dạng “Tổng - Tỉ” )
+ Tổng là bao nhiêu ? ( tổng là 80)
+ Tỉ là bao nhiêu ? (Tỉ là 2/3 )
+ Hai số là số nào ? (số thứ nhất (số bé), số thứ hai (số lớn))
+ Muốn giải bài toán này, ta thực hiện mấy bước ? (4 bước )
+ Đó là những bước nào ?
. Bước 1 : Vẽ sơ đồ.
. Bước 2 : Tìm tổng số phần bằng nhau
. Bước 2 : Tìm số bé (hoặc tìm số lớn)
. Bước 3 : Tìm số lớn (hoặc số bé).
Qua cách làm này, tôi đã khơi dậy trong các em sự hứng thú, sự mạnh dạn, tự
học sinh làm chưa đúng nhưng sau khi thực hiện đề tài thì học sinh đã làm đúng
hơn, chính xác hơn.
VD bài làm của học sinh năm học 2013 – 2014 :
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Qua khảo nghiệm, kết quả thu được cuối năm của các năm học như sau :
Năm học
Lớp
TS
HS
DT
TS
20132014
20142015
4A
4B
4A
4B
28
26
24
25
25.0
23,1
16,7
8,0
Đặt lời giải và đáp số
Đạt
Chưa đạt
TL
TL
SL
SL
(%)
19
17
20
22
67,9
65,4
83,3
88,0
(%)
9
9
4
3
3
Nhìn vào bảng số liệu, so sánh với thực trạng tôi đã nêu ở trên, tôi thấy kết
quả khảo nghiệm có tính khả quan khi sử dụng những biện pháp nêu trên trong việc
hướng dẫn học sinh giải dạng toán “Tổng - Tỉ”. Số lượng học sinh vẽ sơ đồ sai, đặt
lời giải và đáp số sai, làm sai phép tính, đã giảm rõ rệt và số học sinh vẽ sơ đồ
_______________________________________________________________
14
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
28,6
23,1
12,5
12,0
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
đúng, đặt lời giải và đáp số đúng, làm đúng phép tính đã tăng lên nhiều so với
những năm học trước.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận
Để thực hiện công tác Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn dạng Tìm
hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó lớp 4 đối với học sinh DTTS có hiệu quả,
mỗi giáo viên cần phải tìm tòi biện pháp phù hợp mang lại hiệu quả cao nhất, cụ
thể :
- Phải nghiên cứu kĩ bài dạy. Xác định rõ kiến thức trọng tâm của mỗi bài
học. Phải có đồ dùng trực quan (sơ đồ, hình vẽ,…) để giúp học sinh dễ hiểu, dễ
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Trên đây là đề tài “Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn dạng Tìm hai
số khi biết tổng và tỉ của hai số đó lớp 4 đối với học sinh DTTS” của bản thân. Đề
tài đã được nghiên cứu trên thực tiễn tại trường Tiểu học Võ Thị Sáu và đã áp dụng
vào việc dạy dạng toán“ Tổng - Tỉ” có hiệu quả cao. Đây là kinh nghiệm của bản
thân nên sẽ có nhiều ý kiến chủ quan. Rất mong được sự góp ý chân thành của đồng
nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn.
EaBông, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Người thực hiện
Trần Thị Thuận
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
(Kí tên, đóng dấu)
Thái Thị Hoài Thu
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1
1
I.1.Lí do chọn đề tài
1
2
I.2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3
3
I.3. Đối tượng nghiên cứu
4
4
I.4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4
5
b. Thành công – Hạn chế
6
11
c. Mặt mạnh – Mặt yếu
6
12
d.Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến việc thực hiện đề tài
6
13
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đưa ra
7
14
III.3. Giải pháp, biện pháp
7
15
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
20
II. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
14
21
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
15
22
1.Kết luận
15
_______________________________________________________________
19
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu