Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, dạy học môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh có
những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố
hình học và thống kê đơn giản; hình thành các kĩ năng thực hành, đo lường, giải bài
toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống, góp phần bước đầu phát triển
năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng. Nội dung cơ bản môn
Toán ở Tiểu học bao gồm 5 tuyến kiến thức chính : Số học, đại lượng và đo đại
lượng, hình học, thống kê mô tả, giải toán có lời văn. Trong tuyến kiến thức đó, giải
toán có lời văn là nội dung cơ bản, chủ yếu của chương trình môn Toán ở Tiểu học.
Dạy học giải toán có lời văn có ý nghĩa to lớn nhằm giúp học sinh củng cố lý thuyết
vận dụng vào giải bài tập, vận dụng vào đời sống, rèn các kĩ năng, phát triển tư duy,
rèn học sinh đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt
chẽ, chính xác,…
Môn Toán ở Tiểu học đòi hỏi ở mỗi học sinh sự huy động tất cả vốn kiến
thức toán học vào hoạt động giải toán và để hình thành các kĩ năng giải toán đòi hỏi
học sinh phải có lối tư duy khoa học và có vốn kiến thức tổng hợp thực tế. Mỗi bài
toán được thể hiện qua các thuật toán và ẩn dưới các dạng toán, mang tính hệ thống
các quan hệ mật thiết với nhau. Toán lớp 4 củng cố kĩ năng giải toán hợp có lời
văn, học sinh biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình
vẽ, biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, các bài toán được
sắp xếp dưới dạng các bài toán điển hình như: Tìm số trung bình cộng, Tìm hai số
biết tổng và hiệu của hai số đó, Tìm hai số biết tổng( hoặc hiệu) và tỉ số của hai số
đó. Các dạng toán này tương đối khó vì nó đòi hỏi người học có khả năng tư duy
trừu tượng, những em có học lực khá và giỏi sẽ rất thích môn học này, ngược lại
những em tư duy chậm hơn thì ngại học dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn
toán chiếm tỉ lệ khá cao so với các môn học khác. Nhiều em thường không xác lập
được mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, không tìm ra được mối quan hệ
_______________________________________________________________
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Một số học sinh đã đặt lời giải sai :
Một số học sinh đã đặt phép tính sai : (bài làm của năm học 2013 – 2014)
Vì đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập
trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững, thích học nhưng
chóng chán. Như vậy, vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học
toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo
trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Giáo viên phải có phương pháp dạy học
như thế nào để truyền đạt kiến thức và khả năng học môn học này đạt hiệu quả cao,
… làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học
tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu kiến thức? Để góp phần nâng cao hiệu
quả dạy học toán ở tiểu học, khắc phục được khó khăn của người thầy và hạn chế
sai sót của người trò không bị nhầm lẫn giữa các dạng toán và biết cách xác lập mối
quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, tìm ra cách giải, phép tính và lời giải đúng
cho bài toán, đó là điều mà tôi trăn trở, suy nghĩ. Là CBQL phụ trách chuyên môn,
bản thân tôi cũng trực tiếp dạy lớp 4. Vì đặc thù học sinh của trường Tiểu học Võ
_______________________________________________________________
3
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Thị Sáu chủ yếu là dân tộc Ê đê rất yếu về tiếng Việt nên kĩ năng đọc đề toán, giải
bài Toán có lời văn còn rất hạn chế. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Hướng dẫn học
sinh giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó lớp 4 đối với học
sinh DTTS” với hi vọng với một số kinh nghiệm tôi đã vận dụng để giúp học sinh
lớp 4 nắm chắc dạng toán này và sẽ là những kinh nghiệm hữu ích cho giáo viên
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lí luận
Trong hoạt động dạy và học thì không thể không nói đến phương pháp dạy
và phương pháp học, hai hoạt động này diễn ra song song với nhau. Nếu chỉ chú ý
đến việc truyền thụ kiến thức cho học sinh mà không chú ý đến việc tiếp thu và
hình thành kĩ năng, kĩ xảo như thế nào thì quá trình dạy học sẽ không mang lại kết
quả cao. Đối với môn Toán là môn học tự nhiên nhưng rất trừu tượng, đa dạng và
logic, hoàn toàn gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, nếu học sinh
không có phương pháp học đúng sẽ không nắm được kiến thức cơ bản về Toán học
và đối với các môn học khác nhận thức sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Môn Toán là
môn học quan trọng trong tất cả các môn học, nó là chìa khoá để mở ra các môn
học khác, đồng thời nó có khả năng phát triển tư duy logic, phát triển trí tuệ cần
thiết giúp con người vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. Trong giờ Toán, bên cạnh
việc tìm tòi và sáng tạo phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối
tượng học sinh, mỗi giáo viên cần phải giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri
thức Toán học, học sinh có phương pháp học toán phù hợp với từng dạng bài Toán
thì việc học mới đạt kết quả cao, từ đó khuyến khích tinh thần học tập của các em
cao hơn.
II.2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi :
+ Nhà trường :
_______________________________________________________________
5
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
- Lứa tuổi của các em mau quên, dễ nhầm lẫn giữa cách giải của dạng toán
này với cách giải của dạng toán khác.
- Từ việc dạy theo kiểu áp đặt của thầy và học sinh tiếp thu kiến thức một
cách thụ động các quy tắc, các công thức,…học sinh nắm kiến thức không vững,
không sâu, không hiểu được bản chất của vấn đề, chỉ biết áp dụng rập khuôn, máy
móc. Do đó, những bài toán có cấu trúc hơi khác một chút là học sinh làm sai hoặc
không làm được bài. Mặt khác, các dạng toán điển hình trong chương trình cung
cấp khá gần nhau nên học sinh dễ nhầm lẫn hoặc khó phân biệt.
- Dạng toán “Tổng - Tỉ” đòi hỏi phải có thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp,
so sánh,…), trong khi đó học sinh chỉ biết làm theo, nói theo giáo viên hoặc làm
theo các bài mẫu trong sách, do đó học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển
đầy đủ khả năng của mình.
- Kĩ năng đọc đề toán, tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và
tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính
còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép
tính.
- Kĩ năng nhận dạng bài toán và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời văn còn
hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên
còn chóng quên các dạng toán.
- Tư duy của các em chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan. Nhưng có những
bài toán có lời văn lại cần nhiều đến tư duy trừu tượng nên học sinh lúng túng, gặp
nhiều khó khăn, thậm chí không làm được các dạng toán điển hình.
- Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học nên chưa hiểu
bài dẫn đến không làm được bài.
Theo thống kê lớp 4 tôi tham gia dạy của những năm học gần đây cho thấy
Năm học
20132014
20142015
4A
4B
4A
4B
HS
TS
SL
28
26
24
25
27
26
24
25
11
10
15
16
28,6
26,9
50,0
48,0
SL
20
19
12
13
TL
(%)
71.4
73,1
50,0
52,0
SL
13
12
14
14
TL
(%)
SL
H÷u
kinhnguyên
Thuû
nghiÖm
thùcthực
hiÖnhiện
:
d. Các
nhân, yếu tố tác độngNgêi
đến việc
đề tài
- Nhiều giáo viên vẫn áp dụng cách dạy cũ.
- Một số học sinh còn thụ động, chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ và làm theo
mẫu.
- Do nhầm lẫn trong thực hiện phép tính.
- Do kĩ năng nhận dạng toán, kỹ năng phân tích tóm tắt và giải các bài toán
có lời văn của các em còn nhiều hạn chế.
- Một số em còn mải chơi, chưa chăm chỉ học tập, hoàn cảnh gia đình khó
khăn, bố mẹ chưa quan tâm,…
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
+ Về phía giáo viên :
Đa số giáo viên rất ngại dạy dạng toán này một cách chu đáo cho mọi đối
tượng học sinh bởi dạng toán có lời văn khá ẩn ý. Giáo viên chưa coi trọng việc
hướng dẫn tổ chức học sinh biết cách tìm hiểu phân tích, tổng hợp bài toán, bỏ qua
bước phân tích bài toán khi hướng dẫn học sinh thực hành giải toán, thường là cho
học sinh đọc đề toán, cho học sinh xác định điều kiện cho biết và yêu cẩu cần tìm
sau đó cho học sinh giải. Giáo viên đã bỏ qua bước quan trọng nhất để hướng dẫn
_______________________________________________________________
8
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Một số em còn mải chơi, chưa chăm chỉ học tập, không thích tìm hiểu, khám
phá.
+ Về phía cha mẹ học sinh :
Một số cha mẹ học sinh chỉ quan tâm đến dấu hiệu bên ngoài của việc học
tập đó là chỉ cần biết tính toán là được. Bên cạnh đó, phần đa hoàn cảnh gia đình
các em còn khó khăn, cha mẹ học sinh chỉ chăm lo kinh tế mà chưa thực sự quan
tâm tới việc học tập và giúp đỡ các em tháo gỡ kịp thời những khúc mắc, khó khăn
trong học tập khiến các em bỡ ngỡ khi làm bài, đặc biệt là giải toán có lời văn,…
dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên những lỗ hỗng kiến thức trong học
tập của các em.
II.3. Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Giúp giáo viên có kĩ năng hướng dẫn học sinh phân tích đề toán và xác định
đúng được dạng toán “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”. Đồng thời biết
dựa vào thông tin chính để thiết lập mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán,
nắm vững cách tóm tắt đề, trình bày lời giải, từ đó nâng cao chất lượng học sinh đối
với môn toán nói riêng và chất lượng toàn diện nói chung.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1 : Khắc sâu lí thuyết
Tôi cho học sinh xác định đặc điểm ngôn ngữ của tỉ số (còn tổng số các em
đã thành thạo ở dạng Tổng – Hiệu). Khi bài toán có cụm từ gấp a lần hoặc kém a
lần, a ở đây là số cụ thể : ví dụ 2, 3, 4 … thì học sinh biết đó là tỉ số ở dạng số tự
_______________________________________________________________
9
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
nhiên, và gặp bài có cụm từ “bằng a/b” thì gần 100% học sinh kết luận là tỉ số ở
sinh nữ. Tìm số học sinh nam, số học sinh nữ?
Để khắc sâu lí thuyết cho các em, tôi đã tổ chức cho các em tự chất vấn với
nhau nhằm tăng cường tiếng Việt cho các em, cụ thể là học sinh năng khiếu đặt câu
hỏi gợi mở cho học sinh khó khăn trong học tập.
+ Để giải một bài toán dạng Tổng - Tỉ, ta thực hiện mấy bước ?(4 bước)
+ Đó là những bước nào ?
. Bước 1 : Vẽ sơ đồ.
. Bước 2 : Tìm tổng số phần bằng nhau
. Bước 2 : Tìm số bé (hoặc tìm số lớn)
. Bước 3 : Tìm số lớn (hoặc số bé).
Biện pháp 2 . Hướng dẫn học sinh phân tích đề
Khi thực hiện việc hướng dẫn học sinh phân tích đề, tôi hướng dẫn hai cách
phân tích, cách 1: từ phân tích đến tổng hợp, cách 2 : từ tổng hợp đến phân tích
(hay còn gọi cho dễ hiểu là phân tích xuôi và phân tích ngược).
Trở lại ví dụ 1, tôi hướng dẫn học sinh phân tích như sau :
*Cách 1 : Từ phân tích đến tổng hợp (phân tích xuôi)
_______________________________________________________________
10
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
Tôi yêu cầu nhiều học sinh đọc lại đề toán, đọc kĩ và trả lời :
+ Bài toán này cho biết gì ? (Lớp 4A có 35 học sinh, trong đó số học sinh
nam bằng
2
số học sinh nữ)
học sinh nữ).
* Cách 2 : Từ tổng hợp đến phân tích (phân tích ngược)
Tôi yêu cầu học sinh đọc kĩ đề toán và trả lời :
+ Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì ? (Tìm số học sinh nam, số học sinh nữ)
+ Muốn tìm số học sinh nam, ta làm thế nào ? (Lấy tổng chia cho Tổng số
phần nhân với số phần của số học sinh nam )
+ Số học sinh nam là mấy phần ?(2 phần)
+ Vì sao em biết ? ( vì tỉ số giữa số học sinh nam và số học sinh nữ là
2
)
3
+ Muốn tìm số học sinh nữ, ta làm thế nào ? ( Cách 1 : Lấy tổng trừ đi số
học sinh nam. Cách 2 : Lấy tổng chia cho Tổng số phần nhân với số phần của số
học sinh nữ).
+ Số học sinh nữ là mấy phần ? (3 phần)
+ Muốn tìm Tổng số phần bằng nhau, ta làm thế nào ?(Lấy số phần của
số học sinh nữ cộng với số phần của số học sinh nam)
+ Bài toán này thuộc dạng toán gì ? (Tổng - Tỉ)
+ Tổng là bao nhiêu ? (35)
2
3
+ Tỉ là bao nhiêu ? ( )
_______________________________________________________________
11
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Nữ:
Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh giải toán và trình bày bài giải
Sau khi phân tích đề toán, vẽ sơ đồ, tôi yêu cầu học sinh nhìn vào sơ đồ để đặt
lời giải (Tôi hướng dẫn học sinh có thể tìm số học sinh nữ trước hoặc tìm số học
sinh nam trước cũng được, đặc biệt tôi lưu ý với học sinh : Đối với dạng toán
“Tổng (hiệu) - Tỉ” thì sơ đồ chính là một phần của bài giải nên ta phải đặt dưới chữ
Bài giải.
Tôi đã hướng dẫn học sinh giải toán và trình bày như sau :
+ Dựa vào đâu để chúng ta đặt được lời giải ? (Dựa vào câu hỏi để đặt)
+ Lời giải lùi vào mấy ô ? (lùi vào 2 ô)
+ Bài toán có mấy câu hỏi ? (2)
+ Hỏi về cái gì ? (Học sinh nam và học sinh nữ)
+ Khi tìm được số học sinh nam và số học sinh nữ rồi thì viết đáp số như thế
nào ? (Viết 2 đáp số : số học sinh nam và số học sinh nữ )
_______________________________________________________________
12
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
+ Đáp số lùi vào mấy ô ? (lùi vào 2 ô so với lời giải)
Dựa vào hướng dẫn của tôi, học sinh có thể trình bày được một bài giải hoàn
chỉnh theo nhiều cách khác nhau . Ví dụ :
. Trình bày theo cách 1 :
Bài giải:
Theo đề bài, ta có sơ đồ:
Nam:
35 – 21 = 14 (học sinh)
Đáp số:
Nữ : 21 học sinh
Nam: 14 học sinh
Biện pháp 5 : Hướng dẫn học sinh xây dựng đề toán và phát triển đề
toán.
Để hướng dẫn học sinh xây dựng đề toán và phát triển đề toán, tôi đã tổ chức
trò chơi bằng hình thức tăng cường tiếng Việt cho các em như sau :
Tôi chia lớp thành 4 nhóm, 4 nhóm cùng thảo luận xây dựng một đề toán.
Đại diện bốn nhóm bốc thăm (thăm thứ tự số 1, 2, 3, 4) nhóm nào bốc được thăm số
1 thì được chất vấn nhóm 2. Nếu bạn trong nhóm hai trả lời được thì được quyền
chất vấn nhóm ba. Nếu bạn trong nhóm ba trả lời được thì được quyền chất vấn
nhóm bốn. Nếu bạn trong nhóm bốn trả lời được thì được quyền chất vấn nhóm
một, nếu không trả lời được thì thua.
Ví dụ : Đại diện nhóm bốc được thăm số 1 hỏi nhóm bốc thăm số 2:
- Bạn hãy đặt một bài toán dạng toán “Tổng - Tỉ”.
Nhóm bốc thăm số 2 thảo luận trong thời gian 2 phút (thảo luận và ghi vào
giấy nháp, nháp sao cho tổng phải chia hết cho tổng số phần), sau đó đại diện
nhóm bốc được thăm số 2 đã tự đặt được đề toán. Ví dụ :
Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng
2
số thứ hai. Tìm hai số đó.
3
Các bạn khác nhận xét, bổ sung.
Nhóm bốc được thăm số 2 được quyền hỏi lại nhóm bốc thăm số 3 :
- Bạn hãy cho biết :
sinh, động viên, tuyên dương kịp thời những tiến bộ của các em, từ đó các em sẽ
không mặc cảm, tự ti và sẽ cồ gắng học tập.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Biện pháp này làm
nền tảng, hỗ trợ cho biện pháp kia. Nếu học sinh không hiểu được đề thì sẽ không
tóm tắt được, không tóm tắt được bài toán đồng nghĩa với việc không giải được bài
đúng.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sau thời gian thực hiện đề tài, tôi thấy số lượng học sinh vẽ sơ đồ đúng, đặt
lời giải và đáp số đúng, thực hiện phép tính đúng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt.
Ví dụ : Trở lại bài toán trang 148 SGK Toán lớp 4 :
Hai kho chứa 125 tấn thóc, trong đó số thóc ở kho thứ nhất bằng 3/2 số thóc
ở kho thứ hai. Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc ?
Cũng bài tập đó trong sách giáo khoa Toán 4, trước khi thực hiện đề tài thì
học sinh làm chưa đúng nhưng sau khi thực hiện đề tài thì học sinh đã làm đúng
hơn, chính xác hơn.
VD bài làm của học sinh năm học 2013 – 2014 :
_______________________________________________________________
15
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Qua khảo nghiệm, kết quả thu được cuối năm của các năm học như sau :
Năm học
TL
SL
SL
(%)
21
20
20
23
75,0
76,9
83,3
92,0
(%)
7
6
4
2
25.0
23,1
16,7
8,0
Đặt lời giải và đáp số
Đạt
Chưa đạt
Sai
TL
TL
SL
SL
(%)
20
20
21
22
71,4
76,9
87,5
88,0
(%)
8
6
3
3
Nhìn vào bảng số liệu, so sánh với thực trạng tôi đã nêu ở trên, tôi thấy kết
quả khảo nghiệm có tính khả quan khi sử dụng những biện pháp nêu trên trong việc
hướng dẫn học sinh giải dạng toán “Tổng - Tỉ”. Số lượng học sinh vẽ sơ đồ sai, đặt
lời giải và đáp số sai, làm sai phép tính, đã giảm rõ rệt và số học sinh vẽ sơ đồ
đúng, đặt lời giải và đáp số đúng, làm đúng phép tính đã tăng lên nhiều so với
những năm học trước.
đối với nội dung môn Toán cũng như ứng dụng và mối liên hệ giữa Tiếng Việt và
Toán.
- Trong quá trình giảng dạy cần phải phối hợp sử dụng phương pháp dạy học
một cách linh hoạt và sáng tạo.
- Phần luyện tập củng cố : Sau khi học xong, thường cho học sinh một số bài
toán theo mức độ khó dần, chỉ yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ (đối với học sinh trung
bình, yếu), hoặc trình bày lời giải (đối với học sinh khá, giỏi).
Tóm lại, việc hướng dẫn học sinh yếu lớp 4 giải toán có lời văn dạng “Tổng
- Tỉ” đòi hỏi người giáo viên phải hết lòng tận tụy với học sinh, phải chịu khó, kiên
trì nghiên cứu tài liệu thì dạy mới có hiệu quả cao.
Qua nhiều năm dạy lớp 4 ở đơn vị cũ và hai năm dạy Toán lớp 4 ở trường
TH Võ Thị Sáu, với những biện pháp nêu trên, tôi thấy số lượng học sinh gặp khó
khăn, lúng túng trong việc giải dạng toán “Tổng - Tỉ” đã giảm dần theo từng năm
nhờ những giải pháp mà tôi đã trình bày ở trên.
III.2. Kiến nghị
Phòng Giáo dục – Đào tạo cần tổ chức chuyên đề Tăng cường tiềng Việt cho
học sinh DTTS để giáo viên vận dụng vào các môn học, nhất là môn Toán có hiệu
quả.
Trên đây là đề tài “Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn dạng Tìm hai
số khi biết tổng và tỉ của hai số đó lớp 4 đối với học sinh DTTS” của bản thân. Đề
tài đã được nghiên cứu trên thực tiễn tại trường Tiểu học Võ Thị Sáu và đã áp dụng
vào việc dạy dạng toán“ Tổng - Tỉ” có hiệu quả cao. Đây là kinh nghiệm của bản
thân nên sẽ có nhiều ý kiến chủ quan. Rất mong được sự góp ý chân thành của đồng
nghiệp.
_______________________________________________________________
17
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
1. Giúp em giỏi Toán 4 – Nhà giáo ưu tú Phạm Đình Thực.
2. Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập Toán 4 – Nhà giáo ưu tú
Phạm Đình Thực.
3. Toán chọn lọc – Nhà giáo ưu tú Phạm Đình Thực.
4. Tâm lí học lứa tuổi - Thạc sĩ Vũ Thị Kim Oanh
5. Sách giáo khoa Toán 4.
_______________________________________________________________
19
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
MỤC LỤC
TT
Noäi dung
Trang
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1
1
I.1.Lí do chọn đề tài
1
7
II.1. Cơ sở lí luận
4
8
II.2. Thực trạng
4
9
a. Thuận lợi – Khó khăn
4
10
b. Thành công – Hạn chế
6
11
c. Mặt mạnh – Mặt yếu
6
17
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
13
18
d. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp
13
19
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
13
_______________________________________________________________
20
Trần Thị Thuận – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Hướng dẫn học sinh giải toán dạng “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó”lớp 4 đối với HSDTTS.
20
II. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu