Đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của paul auster nhìn từ tâm thức hậu hiện đại - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRỊNH LAN ANH

ĐỜI SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TRỊNH LAN ANH

ĐỜI SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trương Đăng Dung

HÀ NỘI, 2016



Trịnh Lan Anh


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
NỘI DUNG ...................................................................................................... 9
Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ SÁNG
TÁC CỦA PAUL AUSTER .......................................................................... 9
1.1. Chủ nghĩa hậu hiện đại, tổng quan về mặt triết học .................................. 9
1.1.1. Các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại ............................................. 9
1.1.2. Những điều kiện hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại .................... 12
1.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học. .................................................... 26
1.2.1. Trong văn học thế giới .......................................................................... 26
1.2.2. Trong văn học Việt Nam ...................................................................... 27
1.3. Sáng tác của Paul Auster .......................................................................... 30
1.3.1.Cuộc đời ................................................................................................. 30
1.3.2. Quá trình sáng tác.................................................................................. 32
1.3.3. Paul Auster- cây bút đại diện của các hình thức văn chương hậu hiện đại . 33
Chương 2. BẢN CHẤT CỦA ĐỜI SỐNG TRONG SÁNG TÁC CỦA
PAUL AUSTER ............................................................................................ 42
2.1. Yếu tố ngẫu nhiên của đời sống ............................................................... 42
2.1.1. Ngẫu nhiên như là một thuộc tính ......................................................... 42
2.1.2. Đặc tính của cái ngẫu nhiên .................................................................. 48
2.2. Yếu tố bi hài của đời sống........................................................................ 54
2.2.1. Khái niệm bi hài .................................................................................... 54
2.2.2. Đặc tính của cái bi hài .......................................................................... 55

vấn đề của các nhà lí luận mà cũng là thách thức với các nhà sáng tác. Nhiều
nhà văn đã thông qua sáng tác để nói lên quan niệm của mình về vấn đề lí luận,
trong đó nổi bật là Paul Auster. Paul Auster, trong các tác phẩm của mình
không chỉ nói về vấn đề sáng tác mà còn nói lên những quan điểm về vấn đề lí
luận mà cụ thể là vấn đề phản ánh văn học, mối quan hệ giữa đời sống và nghệ
thuật. Nói theo một cách khác, Paul Auster đã sử dụng sáng tác như một diễn
ngôn khác để trình bày vấn đề về lí luận.
1.2. Paul Auster được tôn vinh là nhà văn đương đại kiệt xuất nhất Hoa
Kỳ và là nhà văn hậu hiện đại bậc thầy của thế giới. Paul Auster sinh ngày 33-1947 tại Newark, New Jersey trong một gia đình Do Thái trung lưu. Ông
say mê đọc sách từ tấm bé và khao khát sáng tác để trở thành nhà văn. Sau khi
tốt nghiệp đại học Columbia, ông làm nhiều nghề tự do để kiếm sống và viết
các bài nghiên cứu cho các tạp chí. Tháng 6-1969, Auster tốt nghiệp cử nhân


2

ngành tiếng Anh và văn học so sánh. Một năm sau, ông hoàn thành chương
trình đào tạo thạc sĩ cùng chuyên ngành. Thời gian này, Auster bắt đầu viết
các cuốn tiểu thuyết Tại xứ sở của những cái cuối cùng (In the Country of
Last Things) và Cung điện mặt trăng (Moon Palace). Năm 1985, Auster thực
sự được độc giả chú ý khi cho in tác phẩm Thành phố thuỷ tinh (City of
Glass) một cuốn tiểu thuyết giả trinh thám mang đậm phong cách hậu hiện
đại. Tiếp đó là Những bóng ma (Ghost, 1986) và Căn phòng khoá (The locked
Room, 1986). Những tác phẩm này được tập hợp vào năm 1987 thành Bộ ba
New York (The New York Trilogy). Các tác phẩm của ông thể hiện thành
công cuộc sống đa diện của kỉ nguyên hậu hiện đại bằng lối trần thuật mang
đậm tính triết học, chuyển tải cái nhìn hài hước, có lúc mỉa mai đầy chua xót
về cuộc đời và con người trong thời kỳ các giá trị vật chất lên ngôi, và tinh
thần của nhân loại cùng quẫn vì những tính toán nhỏ nhoi, những tín điều, suy
nghĩ thảm hại của những kẻ lắm quyền, lắm tiền và những nỗ lực cay đắng

hiện đại. Đồng thời, chúng tôi mong muốn đem lại một cái nhìn thỏa đáng khi
tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện đại từ góc độ lý thuyết lẫn góc độ thực tiễn.
1.4. Nghiên cứu một hiện tượng văn học nước ngoài đồng thời giúp
chúng tôi có những nhìn nhận, đánh giá, đối sánh khi nhìn về nền văn học dân
tộc. Đặc biệt, những vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn đang có tính thời
sự đối với văn học Việt Nam giai đoạn sau đổi mới đến nay. Cái đậm đặc
trong chủ nghĩa hậu hiện đại của Paul Auster giúp chúng ta hiểu rõ hơn chủ
nghĩa hậu hiện đại và dòng chảy văn học thế giới, đồng thời soi sáng văn học
Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, Paul Auster là tác giả tương đối mới nên việc nghiên cứu
tiểu thuyết của ông không nhiều. Đầu tiên là những bài giới thiệu sách, vài bài
cảm nhận trên Internet, hoặc những bài điểm tên tác giả một cách sơ sài trên


4

một số công trình nghiên cứu tổng thể. Tuy vậy, nhìn chung, các tác giả đều
thừa nhận đây là một đại biểu xuất sắc của văn học hậu hiện đại Mĩ.
Năm 2007, Trịnh Lữ bắt đầu dịch ba tiểu thuyết Thành phố thủy tinh,
Những bóng ma, Căn phòng khóa kín trong tập Trần trụi với văn chương (tác
giả luận án dịch là Bộ ba New York để sát nghĩa hơn với tên gốc The New
York Trilogy), cũng năm đó, bản dịch Nhạc đời may rủi ra mắt. Cùng với sự
ra đời của mỗi bản dịch, trong phần Lời người dịch, Trịnh Lữ thường có
những trang viết ngắn vừa để giới thiệu sách, chia sẻ những câu chuyện bên
lề, vừa có một số trích dẫn quan trọng ý kiến của giới phê bình Âu - Mĩ mà
ông chắt lọc. Trong Trần trụi với văn chương: “Giới phê bình phương Tây
gọi New York Trilogy là “tiểu thuyết trinh thám siêu hình”, là “giả tưởng phản
trinh thám”, là “một biến tấu lạ lùng của thể loại trinh thám”. “Một hỗn hợp
của trinh thám và tân lãng mạn”, “một trò chơi chắp hình bằng thủy tinh”.

giả người Mỹ này, người đọc có thể nhận ra một hướng đi khác của chủ nghĩa
hậu hiện đại: bên cạnh những tân kỳ, phá cách về kỹ thuật, thủ pháp; hậu
hiện đại còn là sự giản dị về mặt hình thức. Căn cốt của nó, do vậy, là ở tính
chất đặc thù trong cách nhìn, cách khám phá, tri nhận của mỗi nhà văn. Kết
quả nghiên cứu của luận án góp phần lý giải sức hấp dẫn của tiểu thuyết Paul
Auster, khẳng định vị trí riêng của ông trong văn học Mỹ và văn học hậu hiện
đại thế giới, từ đó, có những đối sánh thú vị với một số hiện tượng đáng chú ý
trong văn học Việt Nam đương đại.
Những thông tin trên cho thấy việc nghiên cứu tiểu thuyết của Paul
Auster ở Việt Nam còn ít. Mặt khác, trong các nghiên cứu về Paul Auster
mặc dù có đề cập đến mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật nhưng sơ
lược. Chưa có nghiên cứu nào đề cập đến như một vấn đề cốt lõi của nghiên
cứu. Vì thế, luận văn của chúng tôi muốn làm rõ hơn mối quan hệ giữa đời
sống và nghệ thuật thông qua lăng kính thẩm mĩ của Paul Auster.


6

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Thông qua việc nghiên cứu một số sáng tác của Paul Auster, làm rõ
vấn đề phản ánh đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster nhìn
từ tâm thức hậu hiện đại. Đây chính là cơ sở để tác giả chọn lựa các chiến
lược, thủ pháp phù hợp và cũng là sự phân biệt Paul Auster với các nhà văn
hậu hiện đại khác.
3.2. Khẳng định bản chất của đời sống trong sáng tác của Paul Auster
không phải là sự sao chụp tự nhiên mà là cái ngẫu nhiên đầy trùng hợp và bất
ngờ, cùng với cái hài hước và bi đát của nó.
3.3. Khẳng định siêu hư cấu là một đặc trưng nổi bật của Paul Auster
nhằm phơi bày hiện thực. Từ đó đề cao vai trò của người đọc trong việc diễn
giải văn bản.

Các tiểu thuyết khác của nhà văn được phân tích trong mối liên hệ, đối
sánh nên mức độ nhìn nhận, đánh giá sẽ mờ nhạt hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp hệ thống - cấu trúc:
Đây là phương pháp đặt đối tượng trong một hệ thống hoặc cấu trúc
nhất định để dễ bề nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm xem
xét mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster
như một bộ phận cấu thành nên nền văn học hậu hiện đạiv ì thế, bút pháp của
ông chịu sự chi phối của văn học hậu hiện đại Mỹ và thế giới. Đồng thời, luận
văn nhận diện những đóng góp riêng, độc đáo của nhà văn như là nét đặc trưng
không trộn lẫn.
5.2. Phương pháp loại hình:
Phương pháp này gắn liền với sự phân loại. Tác giả sử dụng nó nhằm
phân loại các chiến lược, thủ pháp nghệ thuật của tác giả cũng như phân loại
thời đại văn học mà nhà văn thuộc về mà ở đây, bối cảnh được đề cập là văn
học hậu hiện đại Mỹ.


8

5.3. Phương pháp so sánh
Bởi đề tài nhấn mạnh cái riêng biệt, độc đáo nên việc đối sánh tiểu
thuyết của Paul Auster với các bậc tiền bối hiện đại và những đồng nghiệp
hậu hiện đại đương thời là một công việc cần thiết. Phương pháp này được sử
dụng ở tất cả các nội dung nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn phân tích những lựa chọn của Paul Auster trong việc tạo
dựng một lối đi riêng giữa dòng chảy hậu hiện đại nhiều ngả hướng, từ đó, dễ
dàng nhận diện quan niệm về đời sống và nghệ thuật của ông. Để làm được
điều đó luận văn khảo sát từ tâm thức hậu hiện đại.

cùng cộng hưởng lại. Thứ nhất, hậu hiện đại không đơn thuần là một trào lưu
trong một phạm vi của một lĩnh vực nào đó, mà mỗi ngành lại có một quan
niệm riêng về hậu hiện đại, thích ứng với nội dung và tiến trình vận động của
nó: “Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu liên ngành, không dựa trên một
bản thể luận theo cách hiểu của triết học truyền thống,nói cách khác nó thiếu


10

một cơ sở làm nền tảng cho mọi lý luận” [14, tr.134]. Chính vì tính liên
ngành, bao quát một phạm vi quá rộng, từ lịch sử đến kinh tế, từ kiến trúc đến
văn học, từ “điều kiện” đến “tâm thức”… đã làm cho “hậu hiện đại” trở thành
một khái niệm có tính nguyên hợp và “có điều kiện” (trong những hoàn cảnh
cụ thể). Ngay bản thân các tác phẩm của Lyotard cũng chỉ xem xét vấn đề
“điều kiện” hậu hiện đại, chứ không có tham vọng hoàn thiện một hệ lý thuyết
trong tính hoàn chỉnh, từ bản thể luận đến nhận thức luận. Steven Seidman đã
nhận xét, một khi lĩnh vực mà chúng ta quan tâm là gì, thì sẽ tồn tại một cách
hiểu hậu hiện đại tương ứng. Thứ hai, bản chất của hậu hiện đại là giải khu
biệt hoá, giải hợp thức hoá các hệ hình lý thuyết có tính chất đại tự sự. Vì vậy,
lý thuyết hậu hiện đại đề cao tính hỗn độn, bất định và phi trung tâm hoá, và
cả mỹ học hậu hiện đại cũng chủ trương giải - thẩm mỹ hoá.
Về phương diện triết học: J. Lyotard trong công trình Hoàn cảnh hậu
hiện đại (1979) coi hậu hiện đại là sự nỗ lực chống lại các “đại tự sự” (tức các
“lý thuyết phổ biến”) của chủ nghĩa duy lý thời Khai Sáng cùng các di sản của
nó. H.Foster phân chia ra hai loại chủ nghĩa hậu hiện đại: một loại mang tính
tân bảo thủ (theo kiểu nhân văn chủ nghĩa) và một loại mang tính hậu cấu trúc
chủ nghĩa, nhưng cả hai loại đều chủ trương triệt tiêu hoặc giải thể chủ thể
(1984). Fredric Jameson cho rằng “sự tha hoá của chủ thể” trong chủ nghĩa
hiện đại đã được thay thế bằng“sự phân mảnh của chủ thể” trong chủ nghĩa
hậu hiện đại ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản muộn, hơn thế, đó còn là một “sự

những nền phản văn hoá mới mang tính phản lý tính (1965). J. Lyotard xem
hậu hiện đại là giai đoạn mà thân phận của tri thức bị phụ thuộc vào các
phương tiện truyền thông đại chúng (1979). Umberto Eco xem hậu hiện đại là
“sự xem xét lại một cách mỉa mai cái điều đã được phát biểu trong một thời
đại của sự ngây thơ đã bị đánh mất” (1983). Baudrillard xem văn hoá hậu
hiện đại là thế giới của những “vật ngụy tạo” (1995). A.E. Chuchin-Rusov
xem văn hoá hậu hiện đại là môi trường có thể làm cho con người “vui sướng


12

cảm thấy tự do bay bổng trong “chiều cạnh thứ tư của văn hoá”, không biết
đến mọi giới hạn về thời gian và lãnh thổ” (1999). M. Epstein xem văn hoá
hậu hiện đại là kết quả của sự “phì đại” trên mọi lĩnh vực, tạo ra một không
gian văn hoá giả . J. Collin nhìn nhận văn hoá hậu hiện đại từ góc độ kết hợp
văn hoá đại chúng với văn hoá địa phương. M. Featherstone xem văn hoá hậu
hiện đại là văn hoá tiêu thụ được thẩm mỹ hoá. D. Kellner và S. Best xemvăn
hoá hậu hiện đại chính là văn hóa kỹ trị…
Về phương diện nghệ thuật (kiến trúc, hội hoạ): R.Veturi đã đề xuất
phương châm mới trong kiến trúc: “Ít hơn, tức là nhàm chán”. Kiến trúc hậu
hiện đại theo ông là “sự phong phú, kỳ quặc, châm biếm và cả sự bối rối của
cái thế giới nó chiếm lĩnh và cố gắng thể hiện”. Ch. Jenks xem kiến trúc hậu
hiện đại là một phong trào lai tạp mới, “một sự pha trộn nhiều phong cách”.
D. Kolb xem kiến trúc hậu hiện đại là một nền nghệ thuật mang tính châm
biếm, cho nên cần có một thái độ phê phán nó. Ch.Masters xem kiến trúc hậu
hiện đại và nghệ thuật tạo hình là sự kết hợp giữa chất liệu hình thức hiện đại
với các phong cách và motip quá khứ, mang tính chiết trung. Jonathan Glacey
xem kiến trúc hậu hiện đại là một phong trào “phát sinh từ việc đào sâu tìm
hiểu lịch sử và bối cảnh do các kiến trúc sư khắp nơi thực hiện, họ đã phấn
đấu để dung hoà lịch sử và tiền lệ địa phương với đồ án kiến trúc hiện đại”.

hội, mang tính liên kết duy nhất của mọi yếu tố tồn tại, thì chưa thật sự được
nhìn nhận đúng và đầy đủ. Phải đến chủ nghĩa hiện đại và tiếp theo là chủ
nghĩa hậu hiện đại, ngôn ngữ mới từng bước được đặt định đúng vị trí và tầm
quan trọng của nó, khi ngôn ngữ trở thành trung tâm nghiên cứu của triết học,
phân tâm học và khoa học văn học.
Với vai trò là người sáng lập triết học ngôn ngữ (cùng với B. Russell),
L.Wittgenstein (người Áo, 1889 - 1951) đã thực hiện một bước ngoặt lớn
trong triết học phương Tây thế kỷ XX. Không nhìn những vấn đề của triết học
dưới hai phạm trù cơ bản là vật chất và tinh thần, L.Wittgenstein đã nhìn nhận


14

thế giới dưới các quy tắc và đặc điểm của ngôn ngữ. Năm 1953, trong cuốn
Truy tầm triết học (xuất bản sau khi tác giả mất), nhà triết học thừa nhận tính
đa chức năng của ngôn ngữ, đồng thời đưa ra khái niệm về “trò chơi ngôn
ngữ”. Khái niệm này đã biến mọi nhận thức luận của con người, dù là khách
quan nhất, đều chỉ là các diễn ngôn của trò chơi ngôn ngữ. Thế giới mang
diện mạo không phải như cách con người (khách quan) nhìn thấy nó, mà là
như cách mà con người (chủ quan) kể về nó. Trò chơi là một loạt những ứng
xử đề cao tính sáng tạo cụ thể của người chơi, hơn là truy tầm những quy tắc,
cũng như hoài niệm về người sáng tạo ra những quy tắc đó. L.Wittgenstein
đã viết: “Vì mọi định nghĩa tổng quát cũng có thể bị hiểu sai. Điểm chính ở
đây là cách chúng ta chơi trò chơi. (Tôi muốn nói trò chơi ngôn ngữ với từ
“trò chơi”)” [15, tr.64]. Tầm quan trọng của lý thuyết Wittgenstein đối với
nhận thức hậu hiện đại là ở chỗ: “… bằng các nghiên cứu của mình ông đã
vạch ra cho trò chơi ngôn ngữ một viễn cảnh hợp thức hóa kiểu khác hơn là
kiểu “hiệu quả thực hiện” (performativité). Thế giới hậu hiện đại phải làm
việc với viễn tưởng mới này. Hoài niệm về truyện kể đã mất nay cũng đã mất
đi nơi bản thân đại bộ phận con người…” [28, tr.163].

tròn quyết định luận. Sau này, những nhà Tường giải học đã xem tác phẩm
văn học (được biểu hiện qua ngôn ngữ) là vật “hai lần có ý hướng” (R.
Ingarden), do đó, phương thức tồn tại của văn bản chính là hoạt động cụ thể
hóa của người đọc. Văn bản mới chỉ là ý hướng của tác giả, đóng vai trò tiền
đề cho sự ra đời của tác phẩm văn học.
Chủ nghĩa hậu hiện đại bác bỏ các loại diễn ngôn có tính phán quyết và
toàn trị, vì vậy nó không thừa nhận các “đại tự sự” mang tính chính thống và
bất biến, trong đó có chủ nghĩa cấu trúc. Trường phái ngôn ngữ học cấu trúc
là một trong những hướng phát triển lớn của triết học về ngôn ngữ, được xây
dựng bởi nhà ngôn ngữ học F. de Saussure (người Thụy Sĩ, 1857 - 1931), và


16

được phát triển bởi những người đi sau như C. Levi Strauss, T. Todorov, G.
Genette, R. Jakobson. Chủ nghĩa cấu trúc không truy tìm ý nghĩa của các hệ
thống ngôn ngữ từ những hiện tượng trong đời sống, mà “nghĩa của ngôn ngữ
mang chức năng của một hệ thống” [2,tr.57]. Với chủ nghĩa cấu trúc, quá
trình tạo nghĩa của từ gắn với mối quan hệ giữa “cái biểu đạt” và “cái được
biểu đạt”. Bao giờ cũng vậy, bên cạnh một cái biểu đạt phát ra, thường có một
cái được biểu đạt đang tồn tại làm tương ứng. Quan hệ giữa cái biểu đạt và vật
được biểu đạt mới là võ đoán, chứ không phải giữa cái biểu đạt với cái được
biểu đạt. Cho nên, “Nghĩa là sản phẩm của một hệ thống biểu tượng mà bản
thân nó không có nghĩa” [2, tr.59]. Như vậy, “nghĩa” của ngôn ngữ là con đẻ
của một quá trình tạo nghĩa, chứ không phải được cấp từ hiện thực bên ngoài,
hay chủ ý từ bên trong. Chủ nghĩa cấu trúc vừa loại bỏ nguồn gốc vật chất,
vừa giải thể thuộc tính tinh thần của ngôn ngữ, vì vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại
xem nó là một “chủ nghĩa phi lịch sử” trong triết học về ngôn ngữ.
Phê phán chủ nghĩa cấu trúc với những nhìn nhận mang tính hình thức,
bất biến và siêu hình về ngôn ngữ, đặc biệt là sự quan niệm máy móc về quá

văn bản, phương thức tạo nghĩa của từ ngữ. Chính cơ sở nền tảng chung đó đã
tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời chủ nghĩa hậu hiện đại. Tường giải học xã
hội và triết học lịch sử hậu hiện đại đã khai thác các khía cạnh ngôn ngữ không
chỉ để luận chứng, mà để xây dựng những quan điểm của mình về vấn đề tiến bộ
xã hội.
Có thể nhận thấy dấu ấn đậm nét của triết học ngôn ngữ của L.
Wittgenstein, nhất là lý thuyết về “trò chơi ngôn ngữ”, trong triết học của J.
Lyotard, người được xem là nhà lập thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong
công trình Hoàn cảnh hậu hiện đại, J. Lyotard đã vận dụng các phạm trù của
triết học ngôn ngữ để phân tích xã hội. Dựa vào bộ ba Tri thức, Văn hóa và
Ngôn ngữ, ông đã đề xuất nhiều khái niệm quan trọng về thời hiện đại và hậu
hiện đại, trong đó khái niệm có vị trí trung tâm là “đại tự sự” (siêu tự sự). Nhà


18

triết học đã xem các luận thuyết lớn được xây dựng dưới thời hiện đại là
những đại tự sự. Thời hiện đại đã dụng công phát triển hệ thống luận thuyết
này, nỗ lực tạo nên một sức mạnh toàn trị. Có nhiều người đã không hiểu rõ
tinh thần triết học của J. Lyotard, cho rằng ông chủ trương triệt phá toàn bộ
các chủ thuyết mà con người đã tạo dựng nên. Cách phân tích triết học của
Trương Đăng Dung là hợp lý hơn cả, khi đánh giá về quan điểm của J.
Lyotard: “ Việc đánh mất niềm tin vào siêu tự sự không phải là sự phê phán
mặt này hay mặt kia; không phải là sự phủ nhận siêu tự sự như là khả năng
sản xuất, mà là sự bác bỏ niềm tin vào khả năng bao quát tất cả của siêu tự sự.
Câu trả lời của hậu hiện đại là các siêu tự sự không đáp ứng được những chờ
đợi của chúng ta liên quan đến chiến lược tổ chức ý nghĩa thông qua chúng”
[36, tr. 4].
Đại diện lớn nhất của chủ nghĩa giải cấu trúc là J. Derrida. Trong tư
tưởng, J. Derrida không đồng ý với quan điểm về bản chất ngôn ngữ của E.

lại có nhiều lớp nghĩa được tạo ra về cách hiểu “hiện thực”. Điều tương tự
cũng diễn ra với các khái niệm khác như đề tài, chủ đề, hình tượng, giọng
điệu, điểm nhìn, phong cách nghệ thuật…
Tư tưởng của J. Derrida đã được các nhà giải cấu trúc Mỹ (thuộc
trường phái Yale) mở rộng. Được gợi ý từ quan điểm “tuột nghĩa” khỏi văn
bản của J. Derrida, Paul de Man cho rằng đặc trưng của ngôn ngữ văn học ẩn
chứa trong “khả năng của sự đọc sai, hiểu sai”. Theo chủ ý của ông, ở đây
không phải là sự cố ý xuyên tạc, gán ghép nghĩa một cách tùy tiện trong hoạt
động tiếp nhận, mà chính là quá trình tạo nghĩa theo tinh thần hậu cấu trúc, từ
cơ sở văn bản gốc có thể tạo ra vô số nghĩa mới, mà nhà Mỹ học tiếp nhận W.
Iser gọi là “sự sản sinh” nghĩa của văn bản. Điều này cũng liên quan đến khái
niệm “tầm đón đợi” (được H.R. Jauss đề xuất) và những khái niệm khác như
văn cảnh, cách đọc, kinh nghiệm thẩm mỹ, kinh nghiệm sống… Một đóng
góp quan trọng khác của Paul de Man cho nghiên cứu văn học hậu hiện đại là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status