Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM MỸ NHẬT ANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC
CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM MỸ NHẬT ANH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC
CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đào Thủy Nguyên


Nguyên - người thầy, người mẹ tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi nhiều
kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, các học
viên lớp Cao học K22 - Văn học Việt Nam đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Tác giả
Phạm Mỹ Nhật Anh

ii


MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ

Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 8
4. Giới thuyết khái niệm Thế giới nghệ thuật ................................................... 8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 10
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 10
7. Đóng góp của đề tài..................................................................................... 10
8. Cấu trúc của đề tài ....................................................................................... 11

2.2. Các kiểu loại thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề
tài miền núi ...................................................................................................... 51
2.2.1. Thời gian sự kiện ................................................................................... 51
2.2.1.1. Thời gian sự kiện lịch sử .................................................................... 51
2.2.1.2. Thời gian sự kiện đời tư ..................................................................... 56
2.2.2. Thời gian tâm lí ..................................................................................... 59
2.2.2.1. Thời gian hiện tại ............................................................................... 59
2.2.2.2. Thời gian quá khứ .............................................................................. 62
2.2.2.3. Thời gian tương lai ............................................................................. 65
2.2.2.4. Thời gian đồng hiện ........................................................................... 68
Tiểu kết:........................................................................................................... 71
Chương 3. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC
CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI .................................................... 72
3.1. Không gian và phân loại Không gian nghệ thuật ..................................... 72
3.1.1. Khái niệm Không gian nghệ thuật ........................................................ 72
3.1.2. Phân loại không gian nghệ thuật ........................................................... 73


3.2. Các kiểu loại không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề
tài miền núi ...................................................................................................... 74
3.2.1. Không gian thiên nhiên ......................................................................... 74
3.2.1.1. Không gian thiên nhiên u ám, đen tối, dữ dội .................................... 75
3.2.1.2. Không gian thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng, nên thơ ....................... 78
3.2.2. Không gian xã hội ................................................................................. 83
3.2.2.1. Không gian xã hội ngột ngạt, tăm tối ................................................. 84
3.2.2.2. Không gian tươi sáng, nhộn nhịp, căng tràn sức sống ....................... 91
Tiểu kết:........................................................................................................... 94
KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 98


nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Tô Hoài là những tác phẩm viết về đề tài miền
1


núi. Đặc biệt “Tô Hoài còn là người đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho văn học viết
về các dân tộc ít người” [34, tr. 151]. Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, người
đọc biết đến Tô Hoài qua Dế Mèn phiêu lưu kí, O chuột, Giăng thề, Cỏ dại… thì
sau Cách mạng tháng Tám, tên tuổi Tô Hoài càng được bạn đọc quan tâm hơn với
những sáng tác dồi dào, phong phú đậm chất miền núi như: Núi cứu quốc, Truyện
Tây Bắc, Miền Tây, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu… Trong số những sáng
tác này có những tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, được nhận những giải
thưởng cao quý và được chuyển thành phim truyền hình.
Hiện nay, Tô Hoài là một trong những tác gia lớn được giảng dạy ở các
trường đại học, trường phổ thông. Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về Tô
Hoài nhưng sáng tác của ông về đề tài miền núi vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ,
hệ thống, toàn diện. Từ thực tế đó tôi quyết định thực hiện đề tài: “Thế giới nghệ
thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi” với mong muốn đóng góp
một phần nhỏ giúp cho độc giả yêu thích văn chương Tô Hoài có cái nhìn toàn diện,
đầy đủ và sâu sắc hơn về tác phẩm của ông. Từ đó góp phần thiết thực vào việc dạy
và học tác giả và tác phẩm Tô Hoài ở các cấp học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những công trình nghiên cứu tổng quan về sáng tác của Tô Hoài
Trên hành trình hơn 70 năm sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài và những sáng tác
của ông được rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm. Cho đến nay đã có hàng
trăm công trình nghiên cứu về nhiều phương diện trong sáng tác của Tô Hoài. Chúng
tôi xin được viện dẫn một số bài viết tiêu biểu sau:
Nhận định về sự nghiệp của nhà văn Tô Hoài, Phạm Xuân Nguyên - Chủ tịch
Hội Nhà văn Hà Nội khẳng định: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam
hiện đại, người có 95 tuổi đời nhưng đã dành hơn 70 năm đóng góp cho văn học.
Ông là nhà văn chuyên nghiệp (...) Văn chương của ông hướng về những con người,

ngắn, truyện dài viết về người dân quê và về loài vật. Cách mạng tháng Tám là cột
mốc đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và sáng tác của Tô
Hoài. Tô Hoài bám sát kịp thời các vấn đề mới của đời sống. Hòa mình vào dòng
chảy chung của sự nghiệp cách mạng, những sáng tác của Tô Hoài có sự đổi mới về
chủ đề và đề tài, dẫn đến sự thay đổi căn bản về thế giới nhân vật.

3


Trong bài viết Sáng tác của Tô Hoài, nhà nghiên cứu Vân Thanh đã cung cấp
cho người đọc cái nhìn khách quan, tổng thể, bao quát nhất về chặng đường sáng tác
của Tô Hoài từ trước đến sau Cách mạng tháng Tám. Nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự
chuyển mình trong thế giới nhân vật của Tô Hoài. Đó là “Từ cuộc sống quẩn quanh,
chật hẹp của một vùng dân nghèo thợ thủ công, đã chuyển sang cảnh sống rộng lớn
tưng bừng của nhiều lớp người ở nhiều địa phương, hào hứng đi theo cách mạng và
tham gia kháng chiến, trong đó nổi bật là cuộc sống với những thay đổi, cách mạng
của đồng bào dân tộc thiểu số” [34, tr. 66]. Ở bài viết này người nghiên cứu nhấn
mạnh đến đóng góp nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài là những tác
phẩm viết về đề tài miền núi. Đi vào từng tác phẩm tiêu biểu nhà nghiên cứu Vân
Thanh mang đến cho người đọc sự hiểu biết nhất định về thế giới nhân vật trong sáng
tác của Tô Hoài ở mảng đề tài miền núi.
Trong công trình nghiên cứu của Mai Thị Nhung Phong cách nghệ thuật Tô
Hoài cũng đã khái quát thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền
núi. Họ là những con người sống có: “ý thức và trách nhiệm công dân của mình. Khi
đất nước có giặc ngoại xâm, là những người công dân bình thường, họ đã đặt lợi ích
của dân tộc, của cộng đồng lên trên lợi ích của gia đình, của bản thân và sẵn sàng
chiến đấu hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc” [48, tr. 67].
Đến với tập truyện Núi Cứu quốc - sáng tác miền núi đầu tiên của Tô Hoài,
nhà nghiên cứu Vân Thanh đã nhận xét rất kĩ. Điều đặc biệt là khi nghiên cứu tác
phẩm này, Vân Thanh đã phát hiện và chỉ ra cho chúng ta thấy hình ảnh nhân vật

truyện này, Hoàng Trung Thông đã phát hiện và chỉ ra cho chúng ta thấy tính cách và
tâm hồn con người miền núi qua nhân vật ông Mờng trong truyện Mường Giơn:
“Ông Mờng tiêu biểu cho người nông dân nghèo miền núi: lầm lì ít nói nhưng gan
góc bướng bỉnh, đối với giặc bề ngoài có vẻ sợ sệt nhưng bên trong thì thật cháy căm
thù và chứa đựng một tinh thần bất khuất. Tâm hồn ông chất phác chân thật nhưng
không bao giờ ông tin lũ giặc (…) Trải qua bao nhiêu đau khổ, thử thách rèn luyện,
ông Mờng càng bộc lộ tất cả những đức tính trung kiên của người nông dân nghèo
miền núi” [34, tr. 225].
Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Hoàng Trung Thông, qua bài viết Truyện
Tây Bắc của Tô Hoài, nhà nghiên cứu Huỳnh Lý chứng minh rằng: “Nhân dân các
dân tộc Tây Bắc tuy sinh hoạt, phong tục, tính cách, có những khác biệt này nọ nhưng
vẫn giống nhau về căn bản ở lòng căm thù đế quốc và phong kiến, ở sự tin cậy đối
với Đảng, ở khả năng vùng dậy, ở lòng tin tưởng vào tương lai” [34, tr. 233].

5


Bài viết Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Tô Hoài
về miền núi của nhà nghiên cứu Nguyễn Long là bài viết rất thiết thực. Nhà nghiên
cứu đã phân tích làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Tô
Hoài về đề tài miền núi “có điểm đáng chú ý là nhà văn thể hiện họ với phẩm chất
ngoan cường và tràn đầy niềm tin tưởng ở một ngày tốt đẹp hơn” [34, tr. 440], dù
trong hoàn cảnh nào họ cũng không buông xuôi.
Trong bài viết Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, tác giả Nguyễn Văn Long khẳng
định tài năng của Tô Hoài trong việc khắc họa đời sống nội tâm nhân vật: “Tác giả
đã diễn tả được những chuyển biến tinh tế trong nội tâm nhân vật, nhưng vẫn giữ
được tính chất tự nhiên, phác thực của con người miền núi trong các nhân vật của
mình, tránh được cái nhìn giản đơn cũng như cách tô vẽ giả tạo khi viết về những
con người miền núi” [34, tr. 255].
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đánh giá cao giá trị sử dụng ngôn từ của Tô Hoài

của Tô Hoài, ông nhận định: “Trong tác phẩm của Tô Hoài, ngoài những bức tranh
nói về đời sống xã hội, về đấu tranh giai cấp, người đọc còn bị thu hút bởi những
trang miêu tả phong tục, sinh hoạt với nhiều màu sắc dân tộc đậm đà, những chi tiết
độc đáo, sinh động của một cây bút có óc quan sát thông minh, tinh tế...” [34, tr. 97].
Khi đánh giá thành công của Tô Hoài trong tiểu thuyết Miền Tây, nhà nghiên cứu
Phan Cự Đệ cũng có những nhận xét xác đáng: “Thành công chủ yếu của Miền Tây
là những bức tranh so sánh hai cảnh đối trái ngược, những bức tranh phản ánh sâu
sắc phong tục, sinh hoạt, đời sống xã hội của nông dân miền núi với nhiều màu sắc
và chi tiết sinh động, thay thế nhau qua từng chương sách như những chuyển cảnh
trong điện ảnh...” [34, tr. 85].
Nhà nghiên cứu Huỳnh Lý đánh giá cao khả năng tả cảnh của Tô Hoài: “Tô
Hoài đã đạt đến kết quả mà ông mong muốn: Cảnh và người Tây Bắc hiện ra hài hòa
đường nét, ấm màu sắc và êm ái âm thanh. Cảnh Tây Bắc đẹp như một bức tranh,
đẹp như ta thấy trong những bức tranh của Hoàng Kiệt...” [34, tr. 239]. Đồng tình
với nhận xét của Huỳnh Lý, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức khẳng định thêm: “Tô
Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên trong tác phẩm của ông gồm nhiều màu
vẻ từ những cảnh thơ mộng gợi cảm đến một thiên nhiên khắc nghiệt, hung dữ. Tô
Hoài miêu tả thiên nhiên theo một cách nhìn ngắm tự nhiên, nhẹ nhàng. Không có
dấu vết ngăn cách giữa khung cảnh thiên nhiên và bức tranh xã hội. Từ tả người đến
tả cảnh, từ xã hội đến thiên nhiên, mạch văn của ông vận động tự nhiên và biện
chứng. Trong tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn có mặt và dường như là một nhân
vật có cuộc sống, có tâm hồn” [34, tr. 137-138].

7


Trong công trình nghiên cứu của Mai Thị Nhung Phong cách nghệ thuật Tô
Hoài đã phát hiện ra rằng: “Thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài mang đậm hình
ảnh bình dị, khách quan như trong cuộc sống thực. Có ánh sáng, có bóng tối, có mặt
trời, có sương có nắng, có cây cỏ chim muông (...) và thiên nhiên ấy luôn theo sát

tính riêng của mỗi chủ thể sáng tạo. Do đó việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật là cần
thiết, nó vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả
về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới
chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật là thế giới hình
tượng được sáng tạo, xây dựng lên trong tác phẩm theo nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ
nhất định của người nghệ sĩ. Gắn với một thế giới nghệ thuật là một quan niệm riêng,
cá tính sáng tạo riêng của mỗi chủ thể sáng tạo. Do đó việc xác định thế giới nghệ
thuật sẽ có rất nhiều quan điểm khác nhau và chưa có ý kiến thống nhất.
Trong công trình nghiên cứu Sự hình thành và những vấn đề chủ nghĩa hiện
thực xã hội trong văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác
định: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mỹ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá
trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà
văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ. Thế giới nghệ thuật bao
gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của
nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật (...) Thế
giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng
hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người... là thế giới sinh động và
đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì lịch sử
đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình” [64, tr. 86].
Nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Thế
giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm,
một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng
sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng tư tưởng,
nghệ thuật... Thế giới nghệ thuật có thời gian, không gian riêng, có quy luật tâm lí riêng,
có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị...” [14, tr. 303]
Tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn trong luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong
thơ Mai Văn Phấn đưa ra cách định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật là hình tượng được
sáng tạo, xây dựng lên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc – tư tưởng
thẩm mỹ nhất định của người nghệ sĩ. Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm
tính, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phương tiện nghệ thuật đặc

- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
7. Đóng góp của đề tài

10


Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện thế
giới nghệ thuật của Tô Hoài trong những sáng tác về đề tài miền núi. Kết quả của
công trình nghiên cứu góp phần khẳng định nét riêng trong phong cách nghệ thuật
của Tô Hoài và khẳng định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Kết
quả của luận văn ít nhiều sẽ góp phần gợi mở một hướng tiếp cận mới cho các sáng
tác của Tô Hoài khi viết về đề tài miền núi. Luận văn có thể sẽ là những gợi ý tích
cực cho học sinh, sinh viên và giáo viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và giảng
dạy Tô Hoài ở các cấp học.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm
3 chương:
Chương 1: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi.
Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi.
Chương 3: Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền
núi.

11


NỘI DUNG
Chương 1
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI
VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI

viết báo bí mật. Đây là một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời cầm bút của Tô
Hoài.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia phong trào Nam Tiến, rồi lên
Việt Bắc làm báo Cứu quốc. Từ 1951 ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam.
Sau ngày hòa bình lập lại, trong Đại hội Nhà văn lần thứ nhất, 1957, ông được
bầu làm Tổng thư kí của Hội. Từ 1958 đến 1980 ông tiếp tục tham gia Ban chấp hành,
rồi Phó tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1966 đến 1996 ông đảm nhiệm chức
Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội và nhiều chức trách xã hội khác. Với những đóng góp
lớn lao cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng
nhiều huân chương trong hoạt động Cách mạng và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1
năm 1996 về văn học nghệ thuật.
Ngày 6/7/2014 nhà văn Tô Hoài đã trút hơi thở cuối cùng, trở về với vòng tay
của đất mẹ yêu thương, sự ra đi của nhà văn để lại mất mát lớn trong lòng độc giả và
trong làng văn học.
*Về con người
Con người Tô Hoài hội tụ được nhiều tính cách tưởng như trái ngược: sắc sảo,
dí dỏm, dễ tính nhưng lại điềm tĩnh, ít nói, thích giấu mình đi nhưng luôn có mặt khi
cần thiết. Ông nói năng có duyên lại nhạy cảm, ông mực thước mà vẫn đào hoa, và
đào hoa một cách mực thước. Đặc biệt Tô Hoài là người biết đối nhân xử thế, sống
độ lượng và bản lĩnh. Tô Hoài còn là người có khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén
như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét: “Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi
bay qua không lọt khỏi mắt” [34, tr. 205].
Bản thân Tô Hoài cũng tự nhận thấy: “Tôi là người chịu khó học hỏi” [24, tr.
196], đúng như vậy những kiến thức Tô Hoài có được do ông chăm chỉ đọc sách và
trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Tô Hoài là pho từ điển sống về nhà văn, về đời
sống muôn mặt, về kinh nghiệm viết văn “có lẽ trước ông và sau ông ít ai có sức viết
và tài viết như thế” [34, tr. 23]. Tô Hoài là tấm gương của một người lao động có tài
năng, có bản sắc và tự tin vào công việc bình dị mà cao đẹp của mình. Những thành
tựu đặc sắc cùng với những kinh nghiệm quý báu của ông trong sáng tạo nghệ thuật
là những đóng góp quan trọng đối với nền văn học mới.

Truyện hồi ức, kỉ niệm cũng là một mảng sáng tác nổi bật của Tô Hoài. Nhiều
tập hồi kí đặc sắc gắn với tên tuổi Tô Hoài như: Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân
ai, Chiều chiều... Đọc hồi kí của Tô Hoài người đọc không chỉ hiểu hơn về con người
và tài năng Tô Hoài, hiểu hơn về thời đại ông sống mà người đọc còn hiểu thêm về
cuộc sống quanh mình.

14


Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng,
sáng tác đa dạng nhiều thể loại, nhịp độ sáng tạo nghệ thuật của ông cũng tăng tiến
cả về số lượng và phẩm chất nghệ thuật. Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng
phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng
gắn bó mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều
lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc, Việt Bắc. Tô
Hoài “là người đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho văn học viết về các dân tộc ít
người” [34, tr. 151].
Sáng tác đầu tiên về đề tài miền núi là tập truyện ngắn Núi Cứu quốc (1948).
Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cuộc sống vất vả, túng thiếu nhưng giàu tình
nghĩa với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi.
Tuy nhiên, đây đó trong tác phẩm người đọc dường như vẫn thấy Tô Hoài còn thể
hiện cái nhìn xa lạ với miền núi.
Trong quá trình thâm nhập thực tế, Tô Hoài ngày càng có ý thức gắn bó, tìm
hiểu đời sống của quần chúng nên những nhược điểm trong sáng tác về miền núi
trước đó đã dần được khắc phục. Đặc biệt tập Truyện Tây Bắc (1953) đã đánh dấu
bước chuyển quan trọng của nhà văn cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Qua tác
phẩm này, Tô Hoài đã miêu tả thành công quá trình vận động cách mạng của đồng
bào Việt Bắc trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Hơn mười năm sau tập Truyện
Tây Bắc, Miền Tây ra đời là một cố gắng đáng ghi nhận của ngòi bút Tô Hoài khi
viết về đề tài miền núi. Miền Tây là sự tiếp nối và quy tụ mọi thành tựu của Truyện

người ở vùng kẻ chợ quê ông. Tô Hoài quan niệm “con người là con người”, những
người bình dị theo đúng nghĩa của nó, như nó vốn có, đó là “người dân thường, trong
sinh hoạt đời thường” (Nguyễn Đăng Mạnh).
Sau cách mạng, tạm biệt làng quê ven đô yên bình Tô Hoài tham gia cách
mạng, đặc biệt là sau khi gia nhập Hội văn hóa cứu quốc được tiếp xúc với nhiều trí
thức, văn nghệ sĩ tiến bộ đương thời, ngòi bút của Tô Hoài đã bắt đầu có sự thay đổi.
Đối tượng quan tâm của nhà văn lúc này là cuộc sống và con người vùng cao Tây
Bắc, Việt Bắc. Trong những sáng tác về miền núi, quan niệm về con người của Tô
Hoài có sự đổi mới. Những con người mà ông miêu tả không phải là những con người
đời thường trong cuộc sống đời thường như trước cách mạng mà con người giờ đây
được đặt trong hoàn cảnh chính trị, xã hội của những năm đầu sau cách mạng. Tuy
rằng vào thời kì đầu sau cách mạng khi chuyển hướng viết về đề tài miền núi ông còn

16


ảnh hưởng của lối viết cũ, do chưa kịp bắt nhịp với hiện thực cuộc sống vùng cao,
chưa am hiểu tâm tư tình cảm của người lao động miền núi nên còn nhiều hạn chế
trong cách nhìn thế giới và con người miền núi. Nhưng ngay sau đó quan niệm nghệ
thuật về con người của Tô Hoài đã có sự biến đổi về chất. Bắt đầu từ tập Truyện Tây
Bắc ông đã khắc phục được những hạn chế của thời kì trước. Lúc này ông viết về
người miền núi như máu thịt của chính mình. Quan niệm nghệ thuật về con người
trong sáng tác về miền núi của Tô Hoài là quan niệm “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
(Nguyễn Đình Thi), là “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” và “từ chân trời
một người đến chân trời của mọi người”... (Chế Lan Viên). Ông đã dành những trang
văn đẹp nhất, chân thực và cảm động nhất viết về quá trình vươn lên mạnh mẽ của
những con người vùng cao. Họ tựa như những loài cỏ dại nhỏ bé nhưng có sức sống
bền bỉ và luôn khao khát ánh sáng mặt trời. Từ những con người nô lệ, phụ thuộc,
cuộc sống chìm trong bóng tối đau thương họ đã dần dần thức tỉnh, biết đến cách
mạng và làm cách mạng hăng say.

văn học cũng mang tính lịch sử.
Như vậy, nhân vật văn học là hình thức khái quát đời sống cho nên khi đọc tác
phẩm cần phải tìm hiểu chi tiết nội dung đời sống và nội dung tư tưởng thể hiện trong
nhân vật hay nói cách khác, nhân vật là hình thức văn học để phản ánh hiện thực.
Hình thức ấy rất đa dạng và thể hiện các khía cạnh vô cùng phong phú của cuộc sống.
Qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm thẩm mĩ, cái nhìn khách quan của mình về
cuộc sống, về con người.
* Phân loại nhân vật:
Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau
có thể chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu loại khác nhau:
- Căn cứ vào kết cấu, ta có: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
- Căn cứ vào ý thức hệ, ta có: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện.
- Căn cứ vào kiểu cấu trúc, ta có: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân
vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
Tuy nhiên, bởi sự phong phú, đa dạng của hệ thống nhân vật nên việc phân
loại thế giới nhân vật thường cũng rất linh hoạt, có thể dựa trên nội dung, thể loại,
khả năng phản ánh hiện thực và ý đồ nghệ thuật của nhà văn.
1.3.2. Phân loại thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi
Có nhiều cách phân loại nhân vật như đã nói ở trên, tuy nhiên căn cứ vào thực
tiễn sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi chúng tôi chia thành hai tiểu loại cơ bản,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status