BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
TRẦN THỊ HOÀI THƯƠNG
BỒI DƯỠNG TƯ DUY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO CÁN BỘ CẤP XÃ Ở HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Chín
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
TRẦN THỊ HOÀI THƯƠNG
BỒI DƯỠNG TƯ DUY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO CÁN BỘ CẤP XÃ Ở HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
Các số liệu trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
Trần Thị Hoài Thương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................ Error! Bookmark not defined.
1. Lý do chọn đề tài ........................................... Error! Bookmark not defined.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................... Error! Bookmark not defined.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu............. Error! Bookmark not defined.
5. Giả thuyết khoa học ...................................... Error! Bookmark not defined.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................... Error! Bookmark not defined.
7. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:................................................................... 6
8. Phương pháp nghiên cứu .............................. Error! Bookmark not defined.
9. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của Error! Bookmark
not defined.
10. Cấu trúc của luận văn ................................. Error! Bookmark not defined.
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP XÃ Ở HUYỆN SỐP CỘP TỈNH
SƠN LA HIỆN NAY ......................................... Error! Bookmark not defined.
1.1. Cơ sở lý luận .............................................. Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ................... Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Thực chất của việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị .............. Error!
Bookmark not defined.
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bồi dưỡng tư duy lý luận
chính trị cho cán bộ ..................................... Error! Bookmark not defined.
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................ Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã gắn với tổng kết
thực tiễn ....................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Đổi mới cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ............. Error!
Bookmark not defined.
Tiểu kết chương 2 ................................................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ........................................................ Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......... Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Vì
vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Đảng ta
phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo
đức và tư duy lý luận chính trị sắc bén, từ đó đưa ra những quyết sách, những
chủ trương phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhằm đưa đất nước tiến kịp với xu
thế chung của thời đại.
Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ có ý nghĩa
quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội, an ninh, trật tự ở địa phương,
thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội. Cán bộ cơ sở có nắm chắc, hiểu
sâu lý luận chính trị thì mới nắm vững các quan điểm, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước để từ đó vận dụng sáng tạo và
cụ thể vào tình hình của địa phương. Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị còn giúp
cho đội ngũ cán bộ có cơ sở tổng kết hiệu quả thực tiễn từ đó rút ra những bài
học kinh nghiệm quý báu, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung, phát triển những
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra ngày càng
mạnh mẽ đã chứng minh, đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ xã nói
riêng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tổ chức đảng, nhà nước và các tổ
lý do trên, tôi chọn đề tài “Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp
xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ là vấn đề đã được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Liên
quan đến vấn đề này cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố.
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới có rất nhiều tác giả với nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề tư duy, năng lực tư duy của các nhà
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học. Tiêu biểu như “Đổi mới tư duy và
phong cách tư duy” của Nguyễn Văn Linh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987; “Năng
lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp
chí Cộng sản số 10/1987; “Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận” của
Học viện Nguyễn Ái Quốc năm 1988….Công trình này đã bàn tới vấn đề bản
chất của tư duy, năng lực tư duy cũng như tính tất yếu và định hướng chủ yếu
trong đổi mới tư duy ở nước ta.
Khắc phục những căn bệnh thường thấy ở đội ngũ cán bộ nước ta như
bệnh kinh nghiệm, giáo điều là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong quá trình
đổi mới tư duy, nâng cao năng lực, trình độ tư duy. Nội dung này được bàn đến
trong các luận án, các tạp chí như luận án “Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội
ngũ cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Trần Văn
Phòng, Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994; Lê Hữu Nghĩa
“ Một số căn bệnh trong tư duy của cán bộ ta”, Tạp chí Triết học, số 2/1988
phân tích nguồn gốc và biểu hiện của các căn bệnh này ở nước ta, từ đó đề ra
các giải pháp khắc phục.
Nghiên cứu việc đổi mới trong công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng
cho cán bộ bao gồm đổi mới cả nội dung và phương pháp giáo dục. Tiêu biểu
gia, Hà Nội, 1995, đã làm rõ khái niệm năng lực tư duy và các yếu tố cấu thành,
phương pháp và đặc trưng của tư duy một cách sâu sắc nhằm tìm ra bản chất,
quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật vận động trong cuộc sống. Công trình
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ
4
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Trong công trình này, tác giả đã nêu lên
những vấn đề lý luận, phương pháp luận, quan điểm và giải pháp nâng cao trình
độ lý luận cho đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Tác giả Nguyễn Đức Quyền “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 3
(166) tháng 3/2005. Bài viết đã đưa ra những nguyên tắc và giải pháp cơ bản để
nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước
ta hiện nay; Tác giả Mai Đức Ngọc “Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 4/2017. Trong bài này, tác giả
đã chỉ ra sự cần thiết và con đường phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên ở nước ta hiện nay.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đặt ra rất nhiều các vấn đề cả
về lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ, công chức
nhưng chỉ dành cho một số nhóm xã hội ở nước ta nói chung. Còn đối với việc
bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn
La hiện nay thì chưa có công trình nào trực tiếp đề cập, nghiên cứu một cách sâu
sắc và toàn diện. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tích cực vào
việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, từng bước khắc phục
tình trạng yếu kém về cả lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ xã ở huyện Sốp
Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
cơ bản nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ
xã ở huyện Sốp Cộp.
7. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
6
Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ năng lực tư duy lý luận chính trị
và việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện
Sốp Cộp hiện nay, trọng tâm là giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác – Lênin,
đặc biệt nguyên lý về lý luận nhận thức và lôgíc học, quan điểm của Đảng về
giáo dục và những thành tựu của các nhà nghiên cứu trong nước liên quan đến
vấn đề nâng cao năng lực tư duy biện chứng.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng
hợp, diễn dịch và quy nạp, lịch sử - lôgíc, hệ thống hoá, khái quát hoá, khảo sát
kết hợp với thống kê, so sánh, xử lý tài liệu…
9. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của
luận văn
9.1. Những luận điểm cơ bản
- Tư duy lý luận chính trị và thực chất của việc bồi dưỡng tư duy lý luận
chính trị.
- Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ nói chung và cán
bộ xã nói riêng là nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các
cấp đặc biệt quan tâm.
- Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp,
tỉnh Sơn La hiện nay là đòi hỏi tất yếu khách quan.
9.2. Những đóng góp mới của luận văn
- Về mặt lý luận:
1.1.1.1. Cán bộ và cán bộ cấp xã
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về cán bộ nhưng về cơ bản, cán
bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò, cương vị trong
một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và quan hệ trong
lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ
chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách
của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt
chính sách cho đúng” [ 38, tr.269].
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ
chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, đoàn thể; người làm công tác có chức vụ
trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ.
Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là những người thoát ly,
làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể và lực lượng vũ trang. Trong
đời sống hàng ngày, cán bộ là danh từ chung thường được người dân chỉ về
những người là cán bộ, công nhân viên chức làm việc trong các cơ quan nhà
nước nói chung. Đó có thể là giáo viên, y tá, bác sỹ hay công chức các cơ quan,
đoàn thể, là những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán
9
bộ quản lý, cán bộ nguồn...), hay đang xử lý, giải quyết một vụ việc cho người
dân.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm
2008 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [48, tr.7].
Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị được chia thành
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt
Nam);
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [48, tr.36].
Với những vị trí trên có thể khẳng định đội ngũ cán bộ cấp xã có vai trò
đặc biệt quan trọng, là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Họ
phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Luật cán bộ, công chức quy định, đó là:
Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân
dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến
11
và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong thực hiện nhiệm
vụ họ phải: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp
hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị, báo cáo người có thẩm
quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ;
giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu
quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên và
các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Họ chính là những người phụ
trách chính trong một tổ chức, một tập thể, quyết định đến việc thực hiện các
nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và họ cũng chính là
ngoài, ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo để tìm ra những cái cơ bản, tất yếu, những
quan hệ bản chất, bên trong mang tính quy luật. Từ đó, hình thành lên những
khái niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu của chúng, xây
dựng lên hình ảnh mới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát
triển của các sự vật. Với ý nghĩa như vậy, tư duy chỉ có ở con người, là trình độ
cao nhất của nhận thức trong quá trình phản ánh thế giới khách quan. Nhưng đó
không phải là sự phản ánh thụ động, phụ thuộc mà con người tác động và phản
ánh thế giới một cách chủ động và sáng tạo.
Nếu con người chỉ dừng lại ở các hình thức như cảm giác, tri giác…thì
nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì họ không thể bằng các hình thức đó
mà hiểu được những vấn đề phức tạp hơn trong tự nhiên cũng như trong hiện
thực xã hội. Với tư cách là kết quả của sự vận động, năng động của ý thức, tư
duy bao giờ cũng là sự phản ánh trung gian, gián tiếp, khái quát tích cực về thế
giới khách quan, ở giai đoạn cao của nhận thức, sự vật được phản ánh một cách
gián tiếp, khái quát trong các khái niệm, phán đoán thông qua các thao tác trung
13
gian hóa, trừ tượng hóa và khái quát hóa. Nhờ các thao tác này, tư duy đã thể
hiện được sức mạnh của mình.
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan, đó là
quá trình năng động, sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy là ở chỗ nó mang lại
những tri thức mới về bản chất, cái bên trong, những quy luật của hiện thưc
khách quan vốn rất đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng. Nhờ tính sáng
tạo mà tư duy phân tích và phân loại sự vật, nắm bắt những tri thức ẩn chứa bên
trong sự vật, hiện tượng. Tư duy giúp con người hiểu đúng về sự vật và đưa ra
những biện pháp để tác động chính xác vào chúng. Nhờ bản chất sáng tạo mà tư
duy là quá trình luôn tìm đến cái mới, nhận thức ngày càng đúng đắn và đầy đủ
hơn về thế giới khách quan.
Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động thực
vươn tới những giá trị mới thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn. Khi hoạt
động thực tiễn còn ở mức độ thấp thì ứng với nó là tư duy ở trình độ thấp. Khi
hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao hơn thì phương pháp, trình độ tư duy
cũng được nâng cao.
Ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức
khái niệm, phán đoán, suy luận. Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ, tư duy phải
được diễn đạt thành ngôn ngữ, bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là
phương tiện để diễn đạt kết quả của nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển
kết quả của nhận thức. Nhờ thế mà con người có thể sáng tạo ra những khái
niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên những quy luật của các khoa học và
vì thế mà hiểu biết sâu sắc hơn bản chất của các sự vật. Nếu không có ngôn ngữ
sẽ không có phương tiện để biểu đạt tư duy và tư tưởng của loài người không thể
lưu giữ, kế thừa và phát triển được.
15
Thế giới là vô cùng, vô tận, thực tiễn luôn đổi mới. Điều đó đòi hỏi tư duy
phải năng động, không ngừng sáng tạo để tìm ra những cái mới, những tình
huống có vấn đề trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, từ đó đưa ra những giải
pháp đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống. Vì vậy, tư duy là một quá trình vô tận,
vận động và phát triển không ngừng. Tư duy của con người không phải là bất
biến mà nó có quá trình biến đổi và phát triển để đạt tới trình độ cao hơn. Theo
Ăngghen, tư duy của con người vừa tối cao, vừa không tối cao. Xét theo sự thực
hiện cá biệt - chủ thể cụ thể của tư duy thì nó không tối cao và có hạn. Xét theo
bản tính và khả năng thì tư duy của con người là tối cao và vô hạn. Khi đề cập
đến khả năng nhận thức của con người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng, chỉ
có những cái con người chưa biết chứ không có cái con người không thể biết.
Tư duy là sản phẩm của lịch sử, nó xuất hiện trong lịch sử, cùng với quá
trình hoạt động thực tiễn của con người. Đó là sự kết hợp giữa sự kế thừa các lối
nhiên, xã hội của con người và nó có vai trò chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn. Từ những quan điểm trên có thể hiểu lý luận theo nghĩa chung
nhất, đó là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực
tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của sự vật,
hiện tượng trong thế giới hiện thực và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý,
quy luật, phạm trù.
Nhờ có lý luận khoa học chỉ đạo hoạt động thực tiễn nên con người tạo ra
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học khác nhau. Mỗi lĩnh vực, mỗi ngành đều
có mục đích và đối tượng nghiên cứu riêng như kinh tế, văn hóa, chính
trị…trong đó lĩnh vực chính trị đóng vai trò là trụ cột đối với sự tồn tại và phát
triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Vậy chính trị là gì?
Cũng như lý luận, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chính trị.
Khổng Tử là nhà một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có cách tiếp cận riêng
17
về vấn đề chính trị. Theo ông, chính trị là cách cai trị của người cầm quyền,
quân tử, người cầm quyền cần học tính kỷ luật để cai trị người dân của mình và
nên đối xử với họ bằng tình thương và sự quan tâm.
Chính trị theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là những công việc liên quan đến
thành bang, những công việc của quốc gia. “Là nghệ thuật cai trị đất nước” [ 10,
tr.7].
Bách khoa Triết học lại cho rằng “chính trị - theo nguyên nghĩa của nó là
những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai
cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành,
giữu và bảo vệ đất nước” [1, tr.507].
Lê nin lại khẳng định “chính trị là sự biểu hiện tập trung kinh tế” [32,
tr.349].
Ngoài ra còn có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính trị như:
chính trị là hệ thống các chính sách và sách lược hành động của các giai cấp hay
sự phát triển của khoa học, bởi lẽ theo Ph.Ăngghen “Cứ mỗi lần khoa học đạt
được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình”.
Việc gắn tư duy lý luận với sự phát triển của khoa học giúp cho tư duy nắm
được các mối liên hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng. Hơn nữa, các thành
tựu của khoa học tự nhiên đã mang lại những cơ sở khách quan, những kết luận
chung cho tư duy lý luận. Ph.Ăngghen chỉ rõ: Những thành tựu khoa học tự
nhiên hiện đại đã chẳng bắt buộc bất kỳ một người nghiên cứu các vấn đề lý
luận cũng phải thừa nhận chúng, bắt buộc với một sức mạnh khiến các nhà khoa
học tự nhiên hiện đại dù họ muốn hay không phải tiến tới những kết luận lý luận
chung, đó sao?". Sự phát triển của khoa học nói chung và những phát minh mới
trong khoa học nói riêng sẽ làm mất đi một số khái niệm và đồng thời xuất hiện
19