Giáo dục văn hoá quan họ dựa vào cộng đồng cho học sinh tiểu học huyện yên phong, tỉnh bắc ninh - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN TIẾN THỌ

GIÁO DỤC VĂN HOÁ QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: THÍ ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Thành Hưng

HÀ NỘI, NĂM 2017

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân
tôi. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực. Kết quả
nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước
đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Thọ

1

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VĂN HOÁ QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề……………………………………….

10

1.2. Giáo dục dựa vào cộng đồng……………………………………….

16

1.3. Giáo dục văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở trường tiểu học……

19

1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hóa Quan họ dựa vào cộng
đồng ở tiểu học……………………………………………………………. 34
Kết luận chương 1………………………………………………………...

43

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ QUAN HỌ Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG TIỂU HỌC THUỘC HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH.

2.1. Khái quát về giáo dục tiểu học huyện Yên Phong……………………

45

2.2. Thực trạng hoạt động văn hóa Quan họ ở huyện Yên Phong…………


3


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
ÂN
BGH
BCHTW
CBGV- CNV
CBQL
CM
CLB
CSVC

DCQHBN
GD
GD-ĐT
GDVHQH
GV
GVÂN
GDKNS

HS
HT
KN
QL
QLGD
LHPN
SHVHQH

Khái niệm
Quản lí
Quản lí giáo dục
Liên hiệp phụ nữ
Sinh hoạt văn hoá Quan họ
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Tiểu học
Trung tâm giáo dục thuờng xuyên
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
Xã hội hoá công tác giáo dục
Xã hội hoá giáo dục
Mô hình trường học Việt Nam kiểu mới
4


DANH MỤC BẢNG

TT

Tên Bảng

01

Bảng 2.1: (Thống kê kết quả giáo dục các môn học trong
chương trình tiểu học của Huyện Yên Phong năm học 2015 –
2016 ).
Bảng 2.2: Thống kê số lượng nội dung bài dạy, số tiết dạy
DCQH trong trường tiểu học.

hóa Nghệ thuật Việt Nam đã phối hợp với Sở GD&ĐT hai tỉnh Bắc Ninh và
Bắc Giang xây dựng chuyên đề Dân ca Quan họ Bắc Ninh để đưa vào giảng
dạy ở nhà trường từ cấp Tiểu học đến THPT trong chương trình văn học địa
phương, thành lập khoa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong trường Văn hóa nghệ
thuật của Bắc Ninh và Bắc Giang…
Việc bảo tồn và phát triển dân ca Quan họ Bắc Ninh, là một trong những
nhiệm vụ quan trọng đối với ngành văn hóa và đặc biệt là giáo dục. Chính vì
vậy từ năm học 2011 - 2012, Sở văn hóa thể thao và du lịch Bắc Ninh phối hợp
với Sở giáo dục đào tạo đưa dân ca Quan họ vào giảng dạy cho học sinh từ
mầm non đến trung học phổ thông. Đến nay tuy đã có những kết quả nhất định
nhưng chưa đạt hiệu quả cao và đồng bộ, chưa có sự nhận thức đúng đắn về
văn hóa Quan họ qua những làn điệu của quê hương. Việc giáo dục văn hóa
Quan họ qua những bài hát dân ca trong trường học nội dung còn nghèo nàn,
chưa thể hiện được hết những nét ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang
đầy ý nghĩa của văn hóa Quan họ. Tài liệu để giảng dạy mới chỉ dừng lại ở một
số câu truyện như: hình ảnh lá trầu, cây tre, cây đa, cây gạo… trong bài hát,
hay kể truyện về những nghệ nhân Quan họ. Tỉnh Bắc Ninh cũng đã đưa ra một
số giải pháp để duy trì và phát huy giá trị truyền thống của văn hóa Quan họ
như: có chế độ đãi ngộ với các nghệ nhân Quan họ; mở các lớp học hát dân ca
ở từng cơ sở huyện, xã, người học hát được hỗ trợ kinh phí học tập; khuyến
khích việc phát triển các câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa tới từng xã, phường, khu
phố, làng quê, nhưng chưa đem lại hiệu quả thiết thực như mong muốn.
Thực tiễn cho thấy nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa
Quan họ phải được thực hiện bằng nhiều con đường như chính quyền và cộng
6


đồng Bắc Ninh đã và đang triển khai. Trong đó, con đường cơ bản, lâu dài và
hứa hẹn hiệu quả nhất chính là giáo dục dựa vào cộng đồng. Quan họ có ý
nghĩa lớn không phải ở chỗ nhờ các nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn mà lại ở

4. Giả thuyết khoa học
Nªu các biện pháp giáo dục văn hóa Quan họ cho học sinh tiểu học dựa
vào cộng đồng tập trung vào nhận thức của học sinh về văn hóa Quan họ, khai
thác được ảnh hưởng của truyền thống văn hóa từ cộng đồng để giúp các em có
nhiều cơ hội trải nghiệm, chia sẻ và thực hành giá trị văn hóa đó tại địa phương
thì chúng sẽ tác động tích cực đến kết quả giáo dục văn hóa Quan họ và giáo
dục toàn diện cho học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lí luận của việc giáo dục văn hóa Quan họ dựa vào
cộng đồng cho học sinh tiểu học.
5.2. Khảo sát thực trạng giáo dục văn hóa Quan họ cho học sinh tại một
số trường tiểu học thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
5.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục văn hóa Quan họ dựa vào cộng
đồng cho học sinh tiểu học.
5.4. Đánh giá kết quả nghiên cứu bằng thực nghiệm và phương pháp
chuyên gia.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Đề tài giới hạn các biện pháp giáo dục ở cấp trường, mang tính sư
phạm và quản lí chuyên môn.
- Nội dung văn hóa Quan họ gồm có năm mặt : Dân ca Quan họ, tục kết
bạn Quan họ, văn hóa hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ và tín ngưỡng Quan
họ, các mặt hoà hợp và chi phối lẫn nhau trong đó Dân ca quan họ là mặt hoạt
động trọng tâm, là phương tiện để người quan họ thực hiện các nhu cầu văn hoá
tinh thần, nên việc nghiên cứu giáo dục văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
cho học sinh tiểu học chủ yếu vẫn là Dân ca Quan họ.

8


- Qui mô khảo sát thực trạng được giới hạn ở 5 trường tiểu học thuộc

hóa Quan họ.
7.2.3. Các phương pháp khác
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học.
- Phương pháp chuyên gia: để lấy ý kiến đánh giá bổ sung các biện pháp
giáo dục văn hóa Quan họ.

10


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VĂN HOÁ QUAN
HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu về tiếp cận dựa vào cộng đồng.
Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của trường phổ thông nói chung và nhà trường tiểu
học, và việc giáo dục cho các em học sinh tiểu học nói riêng. Thông qua hoạt
động đó giúp thế hệ trẻ hình thành và phát triển niềm tự hào, tự tôn của dân tộc,
yêu nước, thương nòi, có ý thức đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất
nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khóa VIII, các văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X, XI nhiều lần đề cập đến việc bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa và việc giáo dục bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ,
đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách, có bản lĩnh vững vàng
ngang tầm sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng nền giáo dục mới, tạo điều
kiện cho các cá nhân phát triển tối đa tiềm năng của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ, di sản văn hóa truyền thống có
những giá trị cơ bản, độc đáo, đặc sắc. Người luôn nhắc nhở phải phát huy vốn
quý báu của dân tộc, trong kế thừa di sản phải có thái độ nghiên cứu, chọn lọc
nghiêm túc. Giáo dục không chỉ dạy kiến thức khoa học, kiến thức văn hóa mà
còn xây dựng đức, trí, thể, mỹ một cách toàn diện. Người căn dặn “người địa
phương nào trước hết phải biết hát dân ca của địa phương mình, đó là điều

phương pháp dạy học âm nhạc của Hoàng Long, Hoàng Lân; một số tài liệu
của Bộ GD&ĐT… Nhưng chưa có tài liệu nào hướng dẫn chi tiết và cách giáo
dục văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng cho học sinh tiểu học thông qua
những bài hát DCQHBN.
Nhiều nhà giáo dục đã đề nghị đưa giáo dục nghệ thuật vào trường phổ
thông, cho đến những năm 90 của thế kỷ trước và nhất là từ khi thực hiện đổi
mới chương trình và sách giáo khoa năm 2002, các môn Âm nhạc và Mỹ thuật)
mới chính thức có chỗ đứng trong chương trình giáo dục phổ thông (ở bậc Tiểu
học và THCS). Tuy nhiên việc giảng dạy ở một số địa phương còn mang tính
hình thức, chưa được quan tâm đúng mức. Trong chương trình dạy âm nhạc ở
TH, các nhà sư phạm đã đưa dân ca vào sách giáo khoa nhưng mức độ còn khá

12


khiêm tốn, trong 5 năm ở cấp tiểu học các em được học 12 bài dân ca, chủ yếu
là những bài đặt lời mới.
1.1.2. Nghiên cứu về giáo dục văn hóa Quan họ.
Sự hình thành, phát triển và truyền thống của “Văn hoá Quan họ”
Kinh Bắc là một trong những vùng văn hóa lâu đời và phát triển nhất của
người Việt ở vùng đất phía Bắc Thăng Long, sông Hồng (chủ yếu là đất Bắc
Ninh, Bắc Giang ngày nay). Đây là một trong những trung tâm của nền văn
minh Việt cổ. Cũng trên mảnh đất này, những giá trị tinh thần, tư tưởng được
phản ánh qua các huyền thoại về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ,
Thánh Gióng, An Dương Vương... Cùng với huyền thoại truyền thuyết là các di
tích tiêu biểu như lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân,
Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên
Du...Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố
chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương
mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công

những ước mơ; tập hợp và hành động chung cho những nguyện vọng, những
khao khát của con người xứ Bắc từ nhiều đời đối với quyền sống, quyền hưởng
hạnh phúc của con người trên bình diện văn hóa - xã hội.
Nền văn hóa Quan họ là do các lối chơi quan họ của cộng đồng xây dựng
nên, luôn luôn được cộng đồng sàng lọc trong dòng chảy lịch sử. Việc khôi
phục và bảo tồn những tinh hoa nhất, bản sắc độc đáo, đậm đà nhất trong nền
văn hóa quan họ là phải khôi phục và bảo tồn kho tàng bài bản của quan họ,
cách hát và kỹ thuật hát quan họ (quan họ cổ) và cuối cùng là lối chơi quan họ.
Làng Viêm Xá (làng Diềm), huyện Yên Phong thuộc về thành phố Bắc Ninh,
có đền thờ vua Bà. Truyền rằng, Vua Bà chính là người đã sáng tác ra các làn
điệu dân ca quan họ đầy tình tứ và quyến rũ. Nét đặc trưng, độc đáo nhất của
làng Diềm chính là “nghề chơi” quan họ với nghệ thuật và phong cách hát quan
họ vừa cổ xưa, vừa độc đáo, vừa phong phú, điêu luyện. Trong số 49 làng Quan
họ, làng Diềm còn duy trì được đội quan họ đông tới hàng trăm người, đủ các
thế hệ liền anh liền chị. Từng bọn Quan họ, mỗi nhóm liền anh, liền chị khi gặp
gỡ có thể cất giọng hát tuỳ theo nhu cầu, tâm trạng cảm xúc. Việc truyền dạy
hát quan họ được quan tâm ngay trong gia đình, không phụ thuộc, hay chờ đợi
việc tổ chức lớp học.
14


Chính “cái nôi” văn hóa này là nơi sản sinh ra văn hóa Quan họ với những
làn điệu dân ca quan họ trữ tình, đằm thắm; hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa
mang tính chất dân gian, nhưng lại nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi người chơi
am tường tiêu chuẩn, tuân theo lề luật. Điều này đã cắt nghĩa cho nhu cầu "chơi
quan họ" vốn chỉ tồn tại nguyên nghĩa tại 49 làng Quan họ gốc - những làng
thuộc các vùng quê được gọi là địa linh nhân kiệt.
Văn hóa Quan họ là một di sản văn hóa quý giá không của riêng vùng
Kinh Bắc biểu hiện những quan niệm đẹp đẽ, trong sáng, chất phác của người
dân lao động sống trên mảnh đất Kinh Bắc xưa và nay. Tất cả hợp lại mảnh đất

nhất trong việc bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã
được UNESCO công nhận cần bảo tồn và phát huy.
1.2. Giáo dục dựa vào cộng đồng
1.2.1. Khái niệm.
Giáo dục là một quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và phương
pháp phù hợp với đối tượng giáo dục nhằm thúc đẩy sự thay đổi của đối tượng
về kiến thức, kỹ năng và thái độ,
Giáo dục cộng đồng là hình thức giáo dục phi chính quy có sự tham gia
nhằm trang bị cho các thành viên cộng đồng kiến thức, kỹ năng và thái độ phù
hợp để họ phát triển, nâng cao đời sống cá nhân và góp phần vào sự phát triển
cộng đồng.
Giáo dục cộng đồng là một thành phần cơ bản và quan trọng nhất của phát
triển cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là một cách thức can thiệp của xã hội nhằm hướng tới
sự phát triển công bằng và bền vững.
Giáo dục dựa vào cộng đồng là hình thức học tập lấy cộng đồng làm định
hướng giáo dục họ theo mục đích chung của cộng đồng
Giáo dục dựa vào cộng đồng là hình thức học tập suốt đời cho cộng đồng và
của cộng đồng, do cộng đồng lựa chọn, hoạch định và triển khai. Phải dựa trên
lợi ích, sự tham gia của cộng đồng.
1.2.2. Nguyên tắc của giáo dục dựa vào cộng đồng.
▪ Tạo môi trường, thể chế cơ bản: luật lệ, quy ước, hỗ trợ của nhà nước.
Có các chính sách ưu đãi, ưu tiên cho một số đối tượng đặc biệt
16


▪ Củng cố các tổ chức cộng đồng
▪ Tăng cường năng lực cá nhân
▪ Khuyến khích sáng tạo bằng các biện pháp mềm dẻo
▪ Phải bồi dưỡng và hỗ trợ các cộng đồng để họ có đủ các điều kiện tự

hình thức tổ chức hoạt động.
Dựa trên khảo sát thực tiễn của các hình thức tổ chức hoạt động trong các
nhà trường, và những hoạt động thực tế có thể phân loại các hình thức tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc giáo dục văn hoá Quan họ dựa vào
cộng đồng cho học sinh tiểu học thành các nhóm sau:
Hình thức có tính khám phá: Thực địa, thực tế; Tham quan; Trò chơi về hoạt
động sinh hoạt văn hoá Quan họ.
Hình thức có tính tham gia lâu dài: Các câu lạc bộ, hoạt động theo các dự án
và nghiên cứu khoa học.
Hình thức có tính thể nghiệm/ tương tác: Tham dự các diễn đàn; Giao lưu; Hội
thảo/xemina; Sân khấu hóa, thong qua các hoạt động ngoại khoá về Dân ca
Quan họ
Hình thức có tính cống hiến: được thực hành hoạt động văn hoá Quan họ qua
các sự kiện, các hoạt động xã hội/ tình nguyện.
Từ thực tế với những hành động thiết thực, được triển khai và hướng dẫn tỉ
mỉ mọi người làm theo học theo trên cơ sở rút kinh nghiệm của người thực hiện
trước. Trên cơ sở đó chúng ta đi sâu tìm hiểu hình thức Câu lạc bộ, vì đây là
hình thức giáo dục mà trong xã hội không chỉ trong nước mà ngoài nước áp
dụng đạt hiệu quả khá cao, nhất lại là trong việc giáo dục văn hoá Quan họ dựa
vào cộng đồng.
Hình thức câu lạc bộ : Đây là một hình thức đơn giản thời gian hoạt
động linh hoạt tuỳ theo sự bố trí sắp xếp tập trung vào những thời gian thích
hợp, hình thức câu lạc bộ dựa trên 4 giá trị cốt lõi :
- Làm Chủ Bản Thân : Tạo ra một môi trường tích cực, năng động và an toàn
để giúp các thành viên vui vẻ hơn, sáng tạo hơn, tự tin hơn và phát huy tối đa
được tiềm năng của mình.

18



cực kỳ quan trọng trong các việc đề ra các giải pháp khoa học nhằm bảo tồn và
phát huy Văn hóa Quan họ trong xã hội đương đại.
Những thành tố của không gian hoạt văn hóa quan họ thể hiện ở hình thức
sinh hoạt, diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối
nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.
Dân ca quan họ: Từ xa xưa dân ca quan họ đã là món ăn tinh thần, một nét sinh
hoạt văn hóa đẹp của người dân Kinh Bắc. Đây là những làn điệu dân ca đặc
sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ - thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai
điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu
riêng. Đến nay, có ít nhất 300 bài (giai điệu) quan họ đã được ký âm (ghi âm
bằng ký hiệu âm nhạc trên giấy), gồm những đoạn thơ, bài thơ chủ yếu là thể
lục bá do các nghệ nhân quan họ truyền thống bàn giao cho các nhà sưu tầm
lưu giữ cho đến hôm nay. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần
trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Ngày nay, dân ca quan họ đã
phát triển và hoàn chỉnh cả về phương diện âm nhạc, lời ca và hình thức trình
diễn. Các làn điệu quan họ ngày càng phong phú và có phong cách riêng.
Người vùng Kinh Bắc, từ già đến trẻ ai cũng hát được một vài làn điệu
quan họ. Người chơi quan họ sành điệu không chỉ hát hay, hát được nhiều làn
điệu mà phải hát được nhiều bài lời cổ. Người Kinh Bắc hát dân ca quan họ,
chơi quan họ không những trong dịp lễ hội mà cả trong khi lao động, trong các
đám giỗ chạp... Mỗi khi lễ hội mùa xuân, các làn điệu quan họ với những câu
hát trữ tình làm say đắm lòng người quan họ và khách thập phương ngân lên
trong không gian văn hoá quan họ. Quá trình hình thành lời ca, làn điệu quan
họ gắn liền với quá trình phát triển của đời sống xã hội nhằm nâng cao và tôn
vinh các mối quan hệ cộng đồng và giao lưu văn hóa. Cũng vì lẽ đó, sinh hoạt
quan họ thường gắn liền với những sinh hoạt hội hè, ca hát, giao lưu; gắn với
đời sống tình cảm, tinh thần của người lao động biết hưởng tới cái đẹp. Dân ca
quan họ mang nhiều nét độc đáo, được chia thành những loại sau:
Quan họ truyền thống : Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Quan họ, vùng Kinh
Bắc có tất cả 49 làng duy trì được lối chơi văn hóa Quan họ (44 làng ở Bắc

hay nhiều nhưng hình thức hát quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên
không có ý thức. Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên. Cải biên có ý
thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền
21


thống. Hát quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức loại cải
biên không nhiều ấy đã bị tưởng nhầm là quan họ truyền thống (ví dụ bài
"Người ở đừng về" do Xuân Tứ cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam
quan"; bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu
truyền thống "Nhất quế nhị lan"…). Quan họ mới được ưa thích hơn quan họ
truyền thống không phải do không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của
quan họ không còn, mà một phần là do hoạt động "hát quan họ" ngày nay
thường được gắn với chính quyền, nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá
quan họ trên diện rộng.
Hình thức hát Quan họ: Nét đặc trưng của quan họ chính là ở hình thức hát đối
đáp giữa một bên liền anh và một bên liền chị trong không gian văn hoá Quan
họ.
Hát hội (hát vui và hát thi-hát giải): hình thức "hát vui đôi câu để vui xuân,
vui hội, vui bàu, vui bạn" là hình thức ca hát Quan họ chủ yếu ở hội.
Hát canh (còn được gọi là canh ca): Một canh hát Quan họ đúng lề lối xưa
thường diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa thu, mùa của hội chùa, hội đình làng
vào đám, giữa những nhóm Quan họ nam và nữ mới nhau đến nhà "ca một
canh cho vui bàu vui bạn, vui xóm, vui làng, cầu may, cầu phúc".
Canh hát thường được giữ đúng các lề lối như Quan họ đã định ra và thường
kéo dài từ 7- 8 giờ tối đến 2- 3 giờ sáng. Ðôi khi, hội làng mở nhiều ngày, cũng
có những canh hát kéo dài 2-3 ngày đêm.
Hát lễ thờ: Khi các Quan họ rủ nhau đến hội làng để hát vui hoặc hát giải,
thì mỗi nhóm Quan họ thường sắm sửa trầu, cau, hương, nến, hoa quả để vào
đình làm lễ thánh và cũng là lễ trình dân.

của nhiều nhóm kéo dài có khi vài ngày đêm.Trong cuộc hát mừng này, Quan
họ không phải tuân thủ lề lối nghiêm ngặt mà hầu hết là ca những bài giọng Vặt
nội dung lời ca sâu nặng nghĩa tình, gắn bó keo sơn và không khí hát phải thật
vui (tránh những bài có lời ca ai oán, trách móc, than thân trách phận).
Theo tài liệu cổ, hát trên đồi, sau chùa, ở nhà, mỗi nơi có lối hát khác nhau,
có không khí khác nhau và gieo vào lòng người xem những cách cảm nhận
khác nhau. Hát trên đồi là lối hát thoải mái, không cần lề lối, đôi khi rất tình cờ.
Nam che ô, nữ cầm nón quai thao che nửa mặt, vừa giữ ý tứ, vừa để âm thanh
khi hát trở nên ấm hơn, vang hơn. Vừa hát, người quan họ vừa mời nhau và
23


mời khách những miếng trầu têm hình cánh phượng. Ở đó, lời ca, câu hát được
sáng tạo một cách tài tình, đầy cảm xúc, làm say đắm lòng người, thấm đượm
giá trị nhân văn. Những làn điệu “Trên rừng ba mươi sáu thứ chim”, “Ngồi tựa
mạn thuyền”, “Ngũ cung”, “Hoa thơm bướm lượn”, “Con nhện giăng
mùng”… ngân lên trong khung cảnh đậm chất Quan họ ẩn chứa cả sức sống
mùa xuân của con người và tạo vật.
1.3.1.2. Học sinh tiểu học.
Theo luật giáo dục ( 2005 ),Tuổi của học sinh tiểu học từ 6 đến 14 tuổi
(tính theo năm). Tuổi vào học lớp một là sáu tuổi; trẻ em ở những vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trẻ em người dân tộc thiểu số, trẻ em mồ
côi không nơi nương tựa, trẻ em trong diện hộ nghèo theo quy định của Nhà
nước, trẻ em ở nước ngoài về nước có thể vào học lớp một ở độ tuổi từ bảy
đến chín tuổi; trẻ em khuyết tật có thể vào học lớp một ở độ tuổi từ bảy đến
mười bốn tuổi
Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể được học vượt
lớp trong phạm vi cấp học. Thủ tục thực hiện xem xét đối với từng trường hợp
cụ thể như sau:
Cha mẹ hoặc người đỡ đầu học sinh có đơn đề nghị với nhà trường;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status