BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN HỒNG ANH

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN HỒNG ANH

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số:
Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ MAI THỊ ANH


HÀ NỘI, NĂM 2017

trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Nguyễn Hồng Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài. ..............................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. ............................................................2
4. Giả thuyết khoa học. .....................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu. ..................................................................................3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. ......................................................................3
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. ..........................................4
8. Cấu trúc luận văn. .........................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG .........................................................5
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................5
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ..................................................5
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước. .................................................8
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa. .............15
1.2.1. Quan họ và di sản văn hóa Quan họ .....................................................15
1.2.2. Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng. ..........................16
1.3. Nội dung bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng. ..............17
1.3.1. Chức năng .............................................................................................17
1.3.2. Nhiệm vụ ...............................................................................................17

Tiểu kết chương 2 .........................................................................................47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH .......................................48
3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp. ...........................................................48


3.2 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc
Ninh. ...............................................................................................................49
3.2.1. Nhóm giải pháp mang tính khẩn cấp trước mắt. .................................49
3.2.2. Nhóm giải pháp mang tính chiến lược lâu dài ....................................53
3.3. Mối quan hệ của các giải pháp ................................................................65
3.4. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp. ..................66
Tiểu kết chương 3 .........................................................................................71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................76


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
CNH, HĐH
KT-XH
HĐND
UBND
VHTT

NỘI DUNG
Ban chấp hành Trung ương
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kinh tế - xã hội

nhiều cố gắng, đạt được những thành tựu nhất định. Nhưng so với yêu cầu
1


phát triển của đất nước và nhu cầu của nhân dân thì vẫn còn những hạn chế
nhất định, nhiều di sản văn hóa trong cộng đồng có nguy cơ bị thất truyền.
Với quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về bảo tồn di sản Văn hóa
dân tộc. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã đưa ra nhiều biện pháp,
giải pháp tổ chức thực hiện, tạo sự đồng thuận của nhân dân và xã hội. Nhiều
di sản Văn hóa phi vật thể, không những khắc phục được nguy cơ bị thất
truyền mà còn được bảo tồn, gìn giữ.
Văn hóa Quan họ là di sản văn hóa đặc sắc của vùng Kinh Bắc và là di
sản Văn hóa phi vật thể, truyền khẩu của quê hương Bắc Ninh. Trong xu thế
hội nhập và toàn cầu hóa, Dân ca Quan họ đang chịu nhiều tác động của cơ
chế thị trường, tiềm ẩn nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn và phát triển; do
đó, em chọn để tài: “Bảo tồn di sản Văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở
tỉnh Bắc Ninh”, để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn công tác bảo tồn
di sản Văn hóa dựa vào cộng đồng, đề xuất các giải pháp bảo tồn di sản văn
hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở Tỉnh Bắc Ninh; nhằm góp phần xây dựng
nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững di
sản văn hóa của quê hương Kinh Bắc, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9
(Khóa XI).
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh trong những
năm qua.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh


3


Ninh, Trung tâm văn hóa tỉnh Bắc Ninh, trường Trung cấp Văn hóa, nghệ
thuật và Du lịch Bắc Ninh, các làng Quan họ gốc, các nghệ nhân…
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
7.1. Phương pháp luận.
- Phương pháp tiếp cận Văn hóa học;
- Phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng.
7.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến bảo tồn
di sản văn hóa;
- Nghiên cứu thực trạng: Quan sát, lập phiếu điều tra, điều tra, khảo sát
thu thập thông tin, xử lý thông tin về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào
cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh;.
- Phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý …
8. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục. Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng
đồng.
- Chương 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh
trong những năm qua.
- Chương 3: Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng
đồng ở tỉnh Bắc Ninh.

4



- Tại hội thảo, trong tham luận của các học giả nước ngoài, có một số
tham luận tiêu biểu đề cập trực tiếp tới dân ca Quan họ:
+ GS.TS Tokumaru Yosihito, Đại học Không gian, Nhật Bản trong tham
luận: Mục đích của Hội nghị đã đánh giá cao việc Việt Nam chọn Di sản phi
vật thể Quan họ để ưu tiên bảo tồn, phát triển bên cạnh Di sản phi vật thể Âm
nhạc Cung đình Huế và Cồng chiêng Tây nguyên. Ông khẳng định: bằng việc
quan tâm đến “truyền thống nhỏ” (chỉ Quan họ) chúng ta có thể quan tâm đến
tương lại âm nhạc trên toàn thế giới.
+ GS.TS Gisa Jahnichen, Đại học Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức
trong bài tham luận: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại
Việt Nam đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về dân ca Việt Nam của ông khi đưa
vào bài viết của mình các loại dân ca nổi tiếng của Việt Nam như Ví giặm,
Trống quân, Bài chòi, hát Đúm, hò Đối đáp, Quan họ để đối chiếu, so sách và
lập luận. Ông nhấn mạnh đặc điểm “ứng tác, ứng ca” của Quan họ theo những
qui tắc đặc điểm riêng. Ông kết luận: cuộc sống của chúng ta được bảo vệ
bằng chính những thể loại âm nhạc truyền thống phù hợp, ngay cả khi xung
quanh chúng ta có những phương tiện thông tin hiện đại. Theo ông, “hát Quan
họ là một kiểu thức cuộc sống rất độc đáo, vì nó có ý nghĩa trong việc duy trì
một nền âm nhạc bản địa vào đầu thể kỷ XXI”.
+ TS. Lauren Meecker, Đại học Columbia, Hoa Kỳ trong bài tham luận
từ bài hát ra đến sân khấu: sinh hoạt Quan học ở Việt Nam hiện nay, bà bàn
về quan hệ giữa Quan họ và nghệ thuật diễn xuất đã thay đổi như thế nào; về
sân khấu trung gian giữa loại Quan họ cổ và Quan họ mới như thế nào. Đây
cũng là một trong những nội dung chính được nghiên cứu trong Luận án tiến
sĩ của bà, như chúng tôi đã nêu ở trên. Đáng chú ý là bà đặt “Quan họ cổ” gắn
với “làng” - sinh hoạt văn hóa Quan họ là, “Quan họ mới” gắn với “hiện đại”.
Đặc biệt, bà đặt khái niệm “sinh hoạt Quan họ” tương ứng với khái niệm
6



ngừng”. Ông khẳng định Quan họ toofnt ại trong sự thay đổi có tính đương
đại.
- TS. Bountheng Souksaratd, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa
Lào trong tham luận: Giá trị nghệ thuật trong dân ca Lào và trong hát quan họ
Việt Nam nét tương đồng và dị biệt đã đã đưa ra một cách rất cụ thể các tương
đồng và dị biệt giữa dân ca Lào (Khắp Lăm) và Quan họ trên các mặt : Môi
trường, kỹ thuật hát, làn điệu, nghệ thuật trình diễn, phương pháp truyền dạy,
hệ thống bài bản, lịch sử lưu truyền. Tuy nhiên, trên các mặt kể trên, ông cho
rằng nét tương đồng nhiều hơn dị biệt.
Như vậy, nghiên cứu về Quan họ của các tác giả nước ngoài chưa nhiều,
nhưng cũng cho thấy văn hóa Quan họ độc đáo ở chỗ “một kiểu thức cuộc
sống” mà dường như là một “tiểu văn hóa” chứ không chỉ là một loại hình
dân ca thuần túy.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước.
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu trước năm 1945
Qua tìm hiểu, nghiên cứu trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX đến trước
Cách mạng Tháng Tám (1945), mảng đề tài Văn hóa Quan họ, về căn bản
chưa thật sự được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Một số bài báo
đăng tải trong thời kỳ này của các tác giả như: Chu Ngọc Chi, Vũ Bằng,
Dương Quảng Hàm, Việt Sinh, Toan Ánh, Minh Trúc v.v… chỉ tập trung vào
việc giới thiệu một cách khái lược về một loại hình sinh hoạt cụ thể nào đó
của Văn hóa Quan họ. Ví dụ:
- “Hát quan họ” của Chu Ngọc Chi;
- “Nghe hát Quan họ một đêm ở Lũng Giang” của Việt Sinh;
- “Hát quan họ”, Minh Trúc;
- “Hội Lim” của Nguyễn Duy Kiện;

8



về âm nhạc. Hướng nghiên cứu liên ngành vê Văn hóa Quan họ nói riêng và
văn nghệ dân gian nói chung giai đoạn này chưa được áp dụng rộng mà chủ
yếu là những nghiên cứu đơn ngành. Vì vậy, Văn hóa Quan họ chưa thật sự
được quan tâm một cách toàn diện với tư cách là văn hóa tổng thể.
Đáng chú ý, từ 1965 đến 1973, Ty văn hóa Hà Bắc đã tổ chức 5 hội nghị
về văn hóa Quan họ (năm 1965, 1967, 1969, 1971, 1973). Đánh giá tình hình
nghiên cứu và phát triển văn hóa Quan họ với sự tham gia của nhiều nhà
nghiên cứu, quản lý văn hóa trung ương và địa phương. Kết quả, năm 1972
cuốn kỷ yếu về các hội nghị nói trên đã được xuất bản, đánh dấu một bước
tiến triển quan trọng của công tác nghiên cứu Văn hóa Quan họ. Cuốn kỷ yếu:
“Một số vấn đề về dân ca Quan họ” (286 trang) đã trở thành tài liệu có tính
chất công cụ cho các thế hệ, các nhà nghiên cứu Văn hóa Quan họ sau này.
Từ năm 1975 sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, công tác nghiên cứu văn hóa Quan họ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng,
góp phần khái quát khá toàn diện về dân ca Quan họ Kinh Bắc cả về nghệ
thuật ca hát và sinh hoạt văn hóa phong phú của loại hình dân ca.
Năm 1978, nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã
công bố cuốn: “Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển”, đây là công
trình nghiên cứu đồ sộ với 527 trang, gồm 6 phần, 12 chương. Công trình
được viết chủ yếu trên một kho tàng tư liệu điền dã công phu, có giá trị. Trong
số 3 tác giả của cuốn sách, Trần Linh Quý và Hồng Thao là các nhà nghiên
cứu tại Sở Văn hóa Thông tin (VHTT) Hà Bắc. Họ sống trên mảnh đất của
quê hương Quan họ, gắn bó cả đời với sự nghiệp nghiên cứu loại hình dân ca.
Cuốn sách đề cập tương đối toàn diện đến văn hóa Quan họ từ nguồn gốc đến
quá trình phát triển. Đây là công trình đầu tiên cho thấy xu hướng nghiên cứu
đa ngành, liên ngành về Quan họ với tư cách là hiện tượng văn hóa tổng thể,
trong đó bản thân sinh hoạt ca hát là một thành tố cốt lõi. Đặc biệt, đến công
10



cung cấp cho bạn đọc một “cách nhìn toàn diện hơn khi tiếp cận với không
gian văn hóa Quan họ”. Cuốn sách gồm 3 phần:
- Phần I: Vùng văn hóa Kinh Bắc;
- Phần II: Văn hóa Quan họ;
- Phần III: Âm nhạc Quan họ.
Do không thể in tất cả các công trình nghiên cứu về Quan họ trong suốt
gần 100 năm, nên các nhà biên soạn đã tổ chức xây dựng một thư mục không
gian văn hóa Quan họ để phục vụ cho công tác tra cứu tìm hiểu về văn hóa
Quan họ, vùng văn hóa Bắc Ninh - cái nôi của dân ca Quan họ. Thư mục này
được bố cục trong cuốn sách như một nội dung quan trọng, gồm 2 phần:
- Phần: Quan họ (gồm 579 công trình và bài viết).
- Phần: Vùng văn hóa Bắc Ninh (gồm 319 công trình và bài viết).
Năm 2006, để chuẩn bị hồ sơ cho việc trình UNESCO công nhận dân ca
Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Bộ văn
hóa thông tin (nay là Bộ văn hóa, thể thao và du lịch) đã phối hợp với UBND
tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội thảo Quốc tế: “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã
hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam” [20] có sự
tham gia của gần 100 nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa trong nước và quốc
tế. Với số lượng 64 bài tham luận (53 tham luận của các nhà khoa học trong
nước, 11 tham luận của các nhà khoa học quốc tế) và với một chủ đề như tên
của hội thảo, đã cho thấy đây là một hội thảo lớn nhất từ trước đến nay về
Quan họ Bắc Ninh (tính từ 1965 đến nay đã có khoảng 10 hội nghị, hội thảo
về Quan họ được tổ chức). Kết quả hội thảo là cuốn kỷ yếu dày 867 trang
được Viện VHTT (nay là Viện văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt nam) và Sở
VHTT (nay là sở VHTTDL) Bắc Ninh xuất bản năm 2016. Nội dung của
Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ trong xã
hội hiện đại; tác động của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa; công tác trao
12



những chỉ tiêu phải thực hiện theo kế hoạch của nhà nước về số buổi biểu
diễn và doanh thu.
Và tác giả đã đề xuất việc bảo tồn, giữ gìn Quan họ truyền thống phải
được trao cho Trung tâm văn hóa Quan họ đảm nhiệm với các hoạt động phát
động, khuyến khích khôi phục các lề lối, tập tục, nếp sinh hoạt Quan họ cổ
truyền ở các thôn làng vùng Quan họ. Ý kiến của GS. Nguyễn Thụy Loan đã
gợi nên những suy nghĩ có tính chất đường hướng, liên quan đến vấn đề bảo
tồn văn hóa Quan họ cả trước mắt và lâu dài.
Trong bài tham luận Suy nghĩ về thực trạng và một số kiến nghị về bảo
tồn, phát huy di sản văn hóa Quan họ khi nhận xét về phương hướng và mục
đích của Hội thảo, tác giả Trần Minh Chính đã viết: các nhà tổ chức lại đặt ra
yêu cầu rất hay là bàn về “văn hóa Quan họ”, chứ không chỉ bó hẹp loại hình
dân ca này trong khuôn khổ một sự ca hát thuần túy. Như vậy, đây thực sự là
một hội thảo đòi hỏi những đóng góp liên ngành để bàn về một nền văn hóa
mà bản thân sự ca hát chỉ là một thành tố hạt nhân, cốt lõi. Quan họ lớn và có
thể sẽ trường tồn chính là ở chỗ này. Dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc đã đem
lại cho chúng ta không chỉ những bài ca, những làn điệu mà là cả một nền văn
hóa với biết bao khía cạnh hấp dẫn của nó: Từ môi trường tư nhiên và văn hóa
đến phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, giao tiếp, ngôn ngữ và cả cách cảm,
cách nghĩ thấm dẫm tinh thần nhân văn, nhân bản của con người nơi đây.
Như vậy, Quan họ có một nền văn hóa riêng, một hiện tượng văn hóa
tổng thể được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hữu cơ của rất nhiều loại
hình sinh hoạt văn hóa khác. Về ý kiến này, có thể có nhà nghiên cứu cảm
thấy băn khoăn về cụm từ “nền văn hóa”, nhưng chắc chắn phần lớn giới
nghiên cứu không băn khoăn khi thừa nhận về một hình thái văn hóa Quan họ
gắn liền với dân ca Quan họ mà Quan họ đã bộc lộ sự đặc sắc của nó.

14



người trong một cộng đồng làng xã mà còn là quan hệ của con người giữa
những làng xã với nhau. Điểm nổi bật của mối quan hệ giữa người và người
ấy là tính bình đẳng giữa các liền anh, liền chị Quan họ, mà đặc biệt là bình
đẳng nam nữ.
- Di sản văn hóa Quan họ là một loại hình văn hóa cộng đồng, lấy chữ Lễ
làm trọng tâm trong mọi sinh hoạt, lấy chữ Nghĩa làm động lực trong mọi mối
quan hệ giữa con người với nhau. Lễ Nghĩa Quan họ thấm sâu vào từng hoạt
động Quan họ, từ việc kết bạn Quan họ cho tới những lời ca say đắm tình người.
- Di sản văn hóa Quan họ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp,
bao gồm các hoạt động chủ yếu: Dân ca Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn
hóa hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ, tín ngưỡng Quan họ. Trong tổng thể ấy,
dân ca Quan họ là mặt trọng tâm.
1.2.2. Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng.
1.2.2.1. Khái niệm bảo tồn
Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ gìn cho còn lại được lâu các tài liệu
và di tích lịch sử, văn hóa, xã hội, … để chuyển đến các thế hệ mai sau”
[25,tr40].
Như vậy, bảo tồn là việc bảo vệ, duy trì, giữ gìn những gì tồn tại trong
thực tế, những gì tồn đọng và có giá trị về mặt lịch sử, mang tính chất tiến
hóa, mang tính chất duy trì, tồn tại và phát triển lâu dài.
1.2.2.2. Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng.
- Mô hình bảo tồn tốt nhất mà UNESCO đề xướng: “là bảo tồn trong
cộng đồng, trong chính môi trường diễn xướng của loại hình nghệ thuật dân
gian đó. Bởi chính cộng đồng sở hữu di sản, phải ý thức được giá trị sản phẩm
văn hóa của mình, để rồi gìn giữ, phát huy nhân rộng nó” [29,tr62].
Quan điểm trên cho thấy sự cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa Quan
họ ở chính nơi nó sinh ra. Điều đó hoàn toàn đồng nhất trong chủ trương của
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status