Nâng cao vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội ở TP cần thơ hiện nay - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN KIM PHƯỢNG

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN KIM PHƯỢNG

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRẦN ĐĂNG SINH

HÀ NỘI, NĂM 2017




MỤC LỤC

Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài

1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2

3. Mục đích nghiên cứu của luận văn

9

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn

10

5. Giả thuyết khoa học


12

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

12

1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

16

và đường lối, chủ chương của Đảng về phụ nữ
1.2. Cơ sở thực tiễn

24

1.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao vai trò của phụ nữ

24


ở thành phố Cần Thơ hiện nay
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao vai trò của phụ nữ ở thành phố Cần

37

Thơ hiện nay
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI

49


75

2.2.2. Tăng cường hơn nữa vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực của

76

đời sống xã hội
2.2.3. Thường xuyên tổ chức học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ

79

văn hóa, lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho đối tượng nữ
2.2.4. Có chính sách cụ thể, thiết thực đảm bảo quyền lợi chính đáng

81

của phụ nữ thành Phố cần thơ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
KẾT LUẬN

86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

88


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Số
TT


55

hội và Hội đồng nhân dân các cấp giữa nhiệm kỳ 2011 - 2016
và nhiệm kỳ 2016 - 2021
5

Biểu đồ 2: Biểu đồ so sánh tỷ lệ % phụ nữ tham gia Ban

55

Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và khóa XII
6

Bảng 4: Bảng tổng hợp tỷ lệ % phụ nữ tham gia cấp ủy các

56

cấp nhiệm kỳ 2010 - 2015 và nhiệm kỳ 2015 - 2020
7

Bảng 5: Số lượng nữ vận động viên đẳng cấp cao của Việt
Nam năm 2016

61



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Tháp dân số năm 2016, phụ nữ Việt Nam chiếm gần

nơi vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Thành phố Cần Thơ, do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan, người phụ nữ vẫn chưa được thực sự bình đẳng cùng nam
giới, mà còn bị bạo hành, ngược đãi, cuộc sống khổ cực, vai trò của họ trong xã hội
còn thấp, thể hiện còn mờ nhạt. Ngoài ra, nhiều gia đình sống trong cảnh kinh tế
khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, con cái không được học hành tới nơi tới
chốn và kết quả thường xảy ra là dẫn đến ly hôn (thực tế thời gian qua ở thành phố
Cần Thơ, tỷ lệ ly hôn tăng cao và ngày càng trẻ hóa về đội tuổi) mà người phụ nữ
là người bị chịu nhiều thiệt thòi nhất. Nguyên nhân là do định kiến của xã hội, tư
tưởng trọng nam, khinh nữ mà nhiều nơi vai trò và năng lực của phụ nữ chưa được
quan tâm đúng mức, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách, trực tiếp liên quan đến
việc tạo điều kiện cho phụ nữ cống hiến khả năng to lớn cho sự phát triển trước mắt
và tương lai của xã hội chưa được quan tâm đầy đủ, vì thế chưa tạo được mọi điều
kiện cho người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và
hạnh phúc, cũng như khẳng định vị thế, vai trò của mình trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tư tưởng, văn hóa.
Với lý do trên, tôi chọn vấn đề “Nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời
sống xã hội ở thành phố Cần Thơ hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với phụ nữ, cũng như vai trò của người phụ nữ hiện nay có rất nhiều
công trình nghiên cứu với những nội dung phong phú, đa dạng, có thể phân thành
các nhóm:
- Nhóm các công trình viết về phụ nữ nói chung
Đầu tiên có thể nhắc đến là tác phẩm: Công dung ngôn hạnh xưa và nay,
của Nguyễn Tất Sang , viết về việc bạn gái với nữ công gia chánh (chính), theo đó
2


có các vấn đề được trình bày như: Dung - vẻ đẹp của người con gái; ngôn - vẻ đẹp
của tâm hồn thể hiện qua ngôn ngữ của người phụ nữ; hạnh - mặt đạo đức của
người phụ nữ, bàn về những câu chuyện về công, dung, ngôn, hạnh của phụ nữ thời
nay được hiểu qua các bài viết như: Bạn gái với văn hóa ẩm thực mọi miền, bí

Dương Thanh Hồ và Hồng Điều in trong Chung một bóng cờ; Truyền thống cách
mạng của phụ nữ Nam Bộ thành đồng của Tổ sử Phụ nữ Nam Bộ xuất bản năm
1989… đã thể hiện đầy đủ khí phách của người phụ nữ trong kháng chiến gian khổ
dù phải chịu nhiều hy sinh mất mát. Chính điều này đã tạo lên hình ảnh Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng mà không ở đất nước nào có, hay những cô du kích, những chị,
những bà đã âm thầm hy sinh cho đất nước mà không đòi hỏi sự đáp lại. “Đặc
điểm



truyền

thống

người

phụ

nữ

Việt

Nam”

xem

trên

. Đã thể hiện được hình ảnh nổi bật về người phụ nữ
Việt Nam sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm dù có phải hy sinh

-

Lênin,



tưởng

HCM ,

xem

trên

; Nguyễn Thị Bích Thúy - Khoa Xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị khu vực IV (2011), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Xây dựng Đảng ngày 07/03/2011... Là
những nghiên cứu có tính khái quát về tư tưởng của Hồ Chí Minh trong giải phóng
phụ nữ, về công tác phụ nữ trong xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Đối với các văn bản pháp lý của Nhà nước, ngay Hiến pháp năm 1946, Nhà
nước ta đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa” (Điều 6) và “đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) đã khẳng định sự bình quyền của phụ nữ
trong xã hội. Cụ thể hơn, trong Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta đã quy định
“Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam… được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức
mình” (Điều 9, khoản 2) [67, tr.12], cũng quy định “Công dân nam, nữ bình đẳng
về mọi mặt” (Điều 26) [67, tr.18], “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ
quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36, khoản 2) [67, tr.21], “Nhà nước, xã
hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực

Nhandan.org.vn; “Vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện đại” do H.V (ghi)
xem trên ... và ngay cả Kinh cựu ước (Đạo Công giáo)
cũng có hẳn một phần dài 25 trang (do tác giả chép về, đếm với dung lượng này)
6


nói

về

“Vai

trò

của

phụ

nữ

trong

Cựu

ước”

xem

trên


hiện quyền bình đẳng nam nữ được xây dựng trên cơ sở của triết học mác xít. Đây
là phương pháp tiếp cận khoa học và cũng là cơ sở lý luận để phát triển khoa học
về giới, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội hiện nay.
Hay chuyên đề “Phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển
bền vững ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã đưa ra
được nhiều vấn đề quan trọng như: sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong lĩnh
vực kinh tế, chính trị, khoa học và gia đình; nêu lên “Vai trò của phụ nữ trong xã
hội hiện đại”; đánh giá được “Một số hạn chế đối với việc phát huy vai trò phụ nữ”
và nguyên nhân; khái quát được việc “Phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc
phát triển bền vững ở Việt Nam”. Từ đó, nêu lên “Trách nhiệm và vai trò của các
tác nhân trong xã hội đối với sự tiến bộ của phụ nữ”, đây là công trình tác giả có
thể kế thừa và phát triển có chọn lọc đối với việc nâng cao vai trò của phụ nữ ở
thành phố Cần Thơ.
Về các bài viết liên quan đến vai trò của phụ nữ Cần Thơ trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương, ta có thể kể đến một số bài như:
bài viết “Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp phát huy vai trò điểm tựa” của Quỳnh Lam
đăng trên Thông tin Tuyên giáo Cần Thơ số 3/2017 (trang 50-53) là kết quả thực
hiện phương châm “Nơi nào có phụ nữ, nơi đó có tổ chức Hội”, từ đó có nhiều mô
hình hiệu quả, thiết thực của chị em phụ nữ trong chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần cho hội viên phụ nữ; tương tự, chuyên mục “Mô hình hỗ trợ phụ nữ phát triển
kinh tế” tập hợp nhiều mô hình hay như: “Mô hình xử lý rác bằng thùng compost”,
“Giữ nghề truyền thống phát triển kinh tế gia đình”, hay “Tổ may gia công ấp Định
Yên hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình”… được đăng trên chuyên san “Phụ
nữ Cần Thơ” chào mừng Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ
2017 - 2022; Tài liệu buổi “Hội thảo - Họp mặt Nữ lãnh đạo, quản lý nhân kỷ niệm
Ngày quốc tế Phụ nữ 08/3/2017”, có các bài viết thể hiện rõ vai trò của phụ nữ lãnh
8


đạo, quản lý của thành phố như bài tham luận “Sự tham gia của phụ nữ trong các vị

phố Cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay.
- Đánh giá thực trạng việc nâng cao vai trò của người phụ nữ Cần Thơ.
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người phụ nữ ở thành phố
Cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu, khảo sát thực tế phụ nữ Cần Thơ ở 09 quận, huyện
của thành phố Cần Thơ trong lĩnh vực kinh tế -xã hội, văn hóa, tư tưởng từ năm
2010 đến nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như:
Phương pháp điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, so sánh, …để thực hiện mục
đích và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
02 chương, 04 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Những luận điểm cơ bản
+ Phụ nữ là một lực lượng xã hội to lớn luôn có vai trò hết sức quan trọng
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Phụ nữ ở thành phố Cần Thơ đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát
triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa,tư
tưởng.
- Đóng góp mới của luận văn
10


- Luận văn hình thành hệ thống cơ sở lý luận về phụ nữ và đánh giá thực
trạng nâng cao vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội ở thành phố Cần
Thơ hiện nay.

huyền thoại về sự xuất hiện của loài người, nhưng nó cũng phản ánh hiện thực xã
hội, đó là sự phân biệt nam nữ và giới nữ thường thua thiệt hơn giới nam. Chúng
tôi không rõ, thuật ngữ “Phụ nữ” được dùng từ khi nào? Có những khái niệm nào
để chỉ phụ nữ? Nhưng có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Theo Đại từ điển
12


tiếng Việt, phụ nữ (dt) “là người thuộc giới nữ, thường để chỉ người lớn tuổi” [89,
tr.1272].
Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu chung nhất về khái niệm phụ nữ như sau: Phụ
nữ là để chỉ giới nữ, thuộc giống cái trong xã hội loài người.
- Nâng cao vai trò của phụ nữ
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy sự đóng góp vô cùng
quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội. Dù đó là sự kiện phụ nữ ở Afganistan
đi bỏ phiếu bầu cử tổng thống hay việc phụ nữ bắt đầu mở những cơ sở kinh doanh
siêu nhỏ tại Etiopia, thì xu thế hướng tới quyền bình đẳng hơn nữa của phụ nữ trên
toàn thế giới đã trở nên rõ ràng. Theo thống kê, từ khi có giải Nobel năm 1901 đến
nay, đã có 4,4% giải Nobel về hòa bình được trao cho phụ nữ. Nếu tính tất cả các
lĩnh vực, số phụ nữ đoạt giải Nobel lên đến 28 người. Trong 192 đại diện thường
trực ở Liên Hiệp Quốc có 14 phụ nữ. 11% nhân viên cấp cao tại cơ quan của Liên
Hiệp Quốc là phụ nữ. Có 50% phụ nữ trong Chính phủ Thụy Điển - Đây là chính
phủ đầu tiên trên thế giới đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ. Kỷ lục thế giới về
phụ nữ là dân biểu thuộc về Phần Lan với 39%. Tiếp theo là NaUy 35%, Thụy
Điển 34%. Hiện có 12 quốc gia trong đó phụ nữ là tổng thống hay thủ tướng. 10
quốc gia đứng đầu về số phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế và chính trị được
Liên Hiệp Quốc bình chọn là: Thụy Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch, NiuDilan,
Hà Lan, Mỹ, Áo và Italia [87, tr.9-10]. Từ những minh chứng này, ta có thể hiểu
vai trò của phụ nữ là vị trí, trách nhiệm, sự đóng góp của phụ nữ ở tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Từ đó, có thể phác họa những nét chung để nâng cao vai
trò của phụ nữ như sau:

- Đời sống xã hội
Trước hết, có thể hiểu, xã hội là bộ phận đặc thù của tự nhiên. Ở đây, tự
nhiên theo nghĩa rộng “là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan” [52, tr.396].
14


Trong đó, con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là con đẻ của tự nhiên, là sản phẩn
cao nhất của tự nhiên. Chính việc mang trong mình bản tính tự nhiên và bản chất xã
hội cho nên con người là hiện thân của sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Hơn
thế nữa, thông qua lao động, con người trở thành khâu gắn bó giữa tự nhiên và xã
hội. Vậy xã hội là gì?
Xã hội chính là hình thái vận động cao nhất của vật chất. Hình thái vận
động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với
người làm nền tảng. “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng
số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau” [52, tr.398].
Xã hội không phải cái gì khác là chính là bộ phận đặc biệt, được tách ra một các
phù hợp với quy luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật
chất trong quá trình tiến hóa phức tạp, lâu dài, lên tục của tự nhiên.
Như vậy, “xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên. Song, đồng thời với
quá trình tiến hóa tiếp tục của tự nhiên, xã hội cũng có một quá trình phát triển lịch
sử của mình, thể hiện bằng sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong
cơ cấu của xã hội” [52, tr.399].
Còn đời sống, theo Đại từ điển tiếng Việt là danh từ, với ý nghĩa là “sự sinh
sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể của mốt sinh vật; hoạt động của con người về
một lĩnh vực nào đó nói chung” [89, tr.560].
Tuy nhiên, ta không thể hiểu một cách máy móc, cơ học là ghép khái niệm
“xã hội” với khái niệm “đời sống” để hiểu khái niệm chung “đời sống xã hội” mà ta
cần hiểu một cách bao quát, mang hàm nghĩa rộng hơn là hoạt động trong một lĩnh
vực nào đó. Từ đó, có thể hiểu đời sống xã hội là hoạt động của con người trong
một cộng đồng to lớn, phức tạp ở phạm vi một đất nước, một chế độ, tổng thể là xã

cụ sản xuất phải được đem dùng chung thì tất nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn
bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xã hội hóa”... “Các ngài tư bản của
chúng ta chưa thỏa mãn là đã sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa
16


kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một
thú vui đặc biệt” [13, tr.623]. Cùng phản ánh thực trạng về cuốc sống hôn nhân của
người phụ nữ trong xã hội Tư bản, V.I. Lênin viết: “Hàng triệu và hàng triệu phụ
nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho đúng hơn đang bị đọa
đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà
họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả
mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động bản thân” [85, tr.173].
Như vậy, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người phụ nữ phải chịu đựng một
nghịch lý, đó là vai trò thì lớn nhưng địa vị thì thấp hèn trong cả gia đình và ngoài
xã hội. Phụ nữ phải gánh vác hầu như toàn bộ việc nhà nhưng vẫn phải đi làm như
nam giới; người phụ nữ cùng một lúc vừa phải tham gia lao động trong một nền sản
xuất xã hội, vừa đảm nhiệm mọi thứ công việc như nô lệ trong gia đình. Điều này
thực sự mâu thuẫn và xung đột vai trò của người phụ nữ (trong xã hội học gọi là
xung đột “vai trò giới” của người phụ nữ).
Về con đường giải phóng phụ nữ, quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và
V.I. Lênin được thể hiện qua việc thực hiện cuộc cách mạng về lý luận giải phóng
phụ nữ. Các ông đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị người phụ nữ theo hướng tiến
tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ
nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Quá trình đó diễn ra khách quan, bắt
nguồn từ sự biến đổi trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị
diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời. Quy luật đó tác
động trực tiếp tới địa vị và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Ph. Ăngghen chỉ ra xu
hướng biến đổi của xã hội tư bản cùng với nó là sự biến đổi trong mối quan hệ xã
hội giữa phụ nữ và nam giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status