Triết lý giáo dục của karl jaspers và sự ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục viện nam - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dòng chảy triết học phương Tây hiện đại, một trong những nhà
triết học có tầm ảnh hưởng lớn tới tư tưởng đương thời, đó là Karl Jasper.
Vấn đề con người là vấn đề trung tâm trong triết học hiện sinh của Jaspers.
Những nghiên cứu của ông không chỉ nghiên cứu về con người, thân phận
con người mà còn chỉ ra việc giải phóng con người ở bình diện tự do cao nhất,
đó là giáo dục. Triết học của Jaspers cố gắng tìm ra bản chất đích thực của sự
tha hóa con người và tìm con đường giải phóng con người khỏi sự tha hóa đó.
Nhà triết học hiện sinh Karl Jaspers cho rằng giáo dục cần thực hiện
được ba nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo. Ba nhiệm vụ
này cần thực hiện một cách đồng bộ để tạo nên một nền giáo dục thống nhất
bởi chính sự thống nhất của ba nhiệm vụ nói trên sẽ giúp tạo ra đời sống tinh
thần sống động và sức sống cho mọi chuyên ngành. Tư tưởng giáo dục của
Karl Jaspers luôn đề cao vai trò của người học, theo ông trong quá trình hoạt
động giảng dạy cần phải đặt người học ở vị trí trung tâm, cần xây dựng một
môi trường giáo dục thân thiện. Những tư tưởng triết học giáo dục của Karl
Jaspers được hình thành trong bối cảnh của nước Phổ sau thế chiến thứ 2
nhưng đến nay những tư tưởng giáo dục của ông chứa đựng những giá trị triết
lý sâu sắc, có tác dụng tham khảo, tham chiếu, suy ngẫm và giải quyết những
vấn đề giáo dục hiện nay. Việc nghiên cứu triết học giáo dục của Karl Jaspers
là cần thiết để nhận diện, nắm bắt bản chất của triết học giáo dục này nhằm
rút ra những bài học tham khảo cho công tác giáo dục ở nước ta hiện nay.
Việt Nam là nước đang chủ động hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh như
vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá, lựa chọn, tiếp thu những giá trị văn
hóa của các dân tộc, khu vực, nền văn minh trên thế giới là việc làm quan


trọng. Và đương nhiên, việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, con người mà cụ
thể là con người triết học phương Tây không nằm ngoài nhu cầu tất yếu đó.
Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình hội nhập cũng cần tránh các khuynh

mối quan hệ thầy trò. Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở mức độ đề cập mà
chưa đi sâu phân tích các tư tưởng giáo dục trong chủ nghĩa hiện sinh.
Công trình Chủ nghĩa hiện sinh lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam của tác
giả Nguyễn Tiến Dũng (nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,
2006) đề cập điều kiện ra đời của tư tưởng giáo dục trong chủ nghĩa hiện sinh
sau khi đã phân tích tính đối lập của chủ nghĩa phi duy lý đối với chủ nghĩa
duy lý trong việc chống lại sự độc quyền của nhà nước, chống lại yếu tố quan
liêu hóa và sự đàn áp dân chủ. Bên cạnh đó, tác giả trình bày một số quan
điểm của các nhà hiện sinh trong việc hình thành một phương pháp giáo dục
mới nhằm đề cao tính sáng tạo trong lao động.
Trong tác phẩm Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam của tác giả Phạm
Minh Hạc (nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011) đã đề cập khía cạnh của
giáo dục hiện sinh khi nhấn mạnh “giá trị của bản thân” trong việc đề xuất
xây dựng triết lý giáo dục.
Bài viết Thuyết hiện sinh: “Tiến lên để sống” của tác giả Bùi Văn Nam
Sơn, đăng trên Tạp chí Tia sáng, chủ nghĩa hiện sinh mà ông nói đến là tính
chủ thể cụ thể của con người, chứ không phải khái niệm trừu tượng về chủ
thể. Ông đã nói lên những băn khoăn, thao thức, đau khổ và lựa chọn trong
thân phận làm người.


Một trong những cuốn sách đáng chú ý nữa là Triết học hiện sinh của
nhà nghiên cứu Đỗ Minh Hợp (chủ biên, 2010). Cuốn sách được chia làm bốn
chương. Đây là công trình nghiên cứu công phu của nhóm tác giả về chủ
nghĩa hiện sinh. Tác phẩm đã cho người đọc thấy được bức tranh cơ bản về
chủ nghĩa hiện sinh dưới cách tiếp cận độc đáo của nhân học văn hóa, cũng
như bản thể luận, cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh.
Qua cách tiếp cận độc đáo đó, nhóm tác giả đã phân tích các triết gia tiền bối
cũng như các đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh. Phần cuối của cuốn
sách nhóm tác giả đã đưa ra những hệ thống khái niệm cũng như chủ đề cơ

đó triết học trong thế kỷ ấy được xây dựng trên nền những biến cố và khoa
học lớn lao của thời đại, đồng thời, nhấn mạnh tới những khát vọng làm sáng
tỏ các vấn đề trọng đại, thiết thân đối với tất cả chúng ta. Có thể thấy, cuốn
sách không trực tiếp nói về triết học hiện sinh Jaspers, những triết thuyết cũng
như chủ đề của nó có ảnh hưởng bởi tư tưởng hiện sinh phương Tây.
Công trình Nietzsche và triết học của Gilles Deleuze, bản dịch của
Nguyễn Thị Từ Huy, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính (nhà xuất bản Tri thức,
2010) với những phân tích thấu đáo và mang tính phê phán về triết học của
Nietzsche, Deleuzes soi sáng tác phẩm của triết gia này, người vốn thường
xuyên được quy giản về chủ nghĩa hư vô, về ý chí quyền lực về hình ảnh siêu
nhân. Ông đã đề cập vấn đề hiện sinh ở chổ nhìn thấy rằng dự án triết học của
Nietzsch trong việc vượt qua siêu hình học có hiệu lực ở chổ nó “tố cáo mọi
huyễn hoặc từng tìm thấy trong biện chứng pháp nơi ẩn náo cuối cùng”.


Ba là, công trình các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về
các đề tài có liên quan đến vấn đề con người trong triết học hiện sinh Karl
Jaspers.
Luận án Phó Tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Kim Châu, với nhan đề:
Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt
Nam,(1996, tại Viện Triết học) là công trình chuyên sâu, đã làm rõ một số nội
dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh, bước đầu tìm hiểu quá trình du nhập
cùng một số biểu hiện của nó ở miền Nam nước ta trong những năm dưới chế
độ Sài Gòn.
Luận án của tác giả Nguyễn Tiến Dũng với đề tài Tiếp cận chủ nghĩa
hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, (1996, tại Trường đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn Hà Nội) đã trình bày sự ra đời và phát triển chủ nghĩa
hiện sinh; triết học của chủ nghĩa hiện sinh; chủ nghĩa Hiện sinh ở Việt Nam
trong những năm 60-70 ở miền Nam Việt Nam và trong văn học Việt Nam
hiện nay.

- Chỉ ra những giá trị, hạn chế và những ảnh hưởng của tư tưởng triết
học giáo dục của Karl Jaspers đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu:
Triết học của Karl Jaspers và nền giáo dục Việt Nam
5.2. Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers và sự ảnh hưởng của nó
đến giáo dục Việt Nam hiện nay.


6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là những tư tưởng triết học giáo
dục của Karl Jaspers được thể hiện trong hai tác phẩm nổi tiếng của ông là
Triết học nhập môn và Ý niệm đại học.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên học thuyết của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của ngành Giáo dục Việt
Nam hiện nay.
Để thực hiện đề tài, tác giả dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà
nước về giáo dục và sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khác như: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch.
8. Giả thuyết khoa học
Tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers được thể hiện cụ thể qua
mục đích, phương pháp và chủ thể giáo dục. Karl Jaspers luôn chủ trương một
phương pháp giáo dục toàn diện, người học luôn đứng ở vị trí trung tâm,
giảng viên được xem là người “đỡ đẻ” cho sinh viên khai phá khả năng tiềm
tàng của họ. Đồng thời, trong quá trình giáo dục sinh viên và giảng viên phải
thường xuyên trao đổi, thảo luận và tranh luận với nhau để tạo một không khí
học tập thân thiện giữa người dạy và người học.

ứng dụng sẽ góp phần làm cơ sở cho việc hình thành con đường giáo dục toàn
diện của các thế hệ trẻ người Việt Nam.

9. Cấu trúc luận văn


Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần
nội dung luận văn gồm 2 chương 6 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản của luận văn:
- Chủ nghĩa hiện sinh được hình thành trên do sự khủng hoảng, sự bại
hoại tinh thần của chủ nghĩa duy lí gây nên trong xã hội phong kiến phương
Tây hiện đại. Trước sự phát triển ưu thế của kinh tế, khoa học kĩ thuật đã làm
xáo trộn những giá trị văn hóa, ngừng trệ cuộc sống con người; con người
thực sự khủng hoảng mất niềm tin vào cuộc sống.
- Triết học hiện sinh Karl Jaspers được hình thành trên cơ sở kế thừa
những tiền đề tư tưởng của Kierkegaard, triết gia Nietzsche, triết gia
Husserl… Jaspers đã khai thác, nói lên tiếng nói và sử dụng phương pháp một
cách uyên thâm của các nhà triết học trước đó một cách hữu hiệu trong học
thuyết triết học của mình.
-Triết học giáo dục Karl Jaspers được thể hiện ở nhiều nội dung như
mục đích giáo dục, bản chất giáo dục, chương trình giáo dục, nội dung giáo
dục và chủ thể giáo dục…Ông luôn hướng đến sự tự do cá nhân của con
người, phát huy tối đa tính sáng tạo và khả năng của người học.
-Triết học giáo dục của Karl Jaspers có những giá trị quan trọng về lí
luận và thực tiễn đối với nền giáo dục Việt Nam, nó là cơ sở để các nhà giáo
dục Việt Nam hoạch định các giải pháp, phương hướng giải quyết các vấn đề
bất cập của nền giáo dục hiện nay.

10.2. Đóng góp mới của luận văn:

bằng khái niệm và cũng không thể diễn đạt qua ngôn ngữ.
Chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các
triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học
thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con
người không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động.
Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái


từng được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình
trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô
nghĩa và phi lý. Nhiều nhà hiện sinh cũng đã coi triết học hàn lâm hoặc triết
học hệ thống truyền thống, ở cả phong cách cũng như nội dung, là quá trừu
tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người.
1.1.3. Khái niệm triết học
“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là “trí” (bao gồm sự hiểu biết
sâu rộng về vũ trụ và nhân sinh), theo chữ Hy Lạp (philosophie) là “yêu mến
sự thông thái”. Khái niệm “triết học” có những biến đổi nhất định trong lịch
sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm: yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ trụ, về
con người và sự giải thích bằng hệ thống tư duy) và yếu tố nhận định (đánh
giá về đạo lý để con người có thái độ và hành động).
Theo quan điểm mácxít, triết học là một trong những hình thái ý thức
xã hội; là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận
thức và của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật
chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
1.1.4. Khái niệm giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay
nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác,
nhưng cũng có thể thông qua tự học.


1.2. Điều kiện, tiền đề ra đời và nội dung cơ bản của triết học hiện
sinh Karl Jaspers
1.2.1. Karl Jaspers cuộc đời và sự nghiệp
Karl Jaspers sinh ngày 23 tháng 12 năm 1883 tại Oldenburg, nước Đức
và mất ngày 26 tháng 02 năm 1969. Ông là một triết gia, nhưng cũng đồng
thời là nhà phân tâm học tiêu biểu hàng đầu thế kỷ XX. Những tư tưởng của
ông có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thần học, phân tâm học và triết học hiện đại.
Ông sinh tại Oldenburg có mẹ làm việc cho một nông trại địa phương, cha
làm luật gia. Ông sớm quan tâm đến triết học nhưng chọn ngành luật khi vào
đại học bởi những ảnh hưởng của người cha. Jaspers đã chọn học luật tại
Trường đại học Heidelberg, sau đó học tại Muyschen từ 1901 – 1902. Ông lại
theo học trường y tại Berlin và tốt nghiệp trường này năm 1909 với đề tài
luận án tiến sĩ là: Heimweh und Verberchen ( Nostalgie et Criminalite ) bước
đầu làm việc tại bệnh viện Tâm thần Heidelberg (nơi mà Emil Kraepelin đã
từng làm việc trước đó). Ông được đề cử làm phụ khảo Y khoa, ngành Tâm
trị học ở Heidelberg. Chính tại đây, ông nhận thấy và thất vọng về phương
pháp mà giới y học bấy giờ nghiên cứu tiếp cận bệnh tâm thần, ông tự đặt cho
mình nhiệm vụ nâng cao phương pháp Phân tâm học. Năm 1913, ông được
đưa lên làm giảng viên về môn tâm lý học. Về sau trở thành giảng viên chính
thức cũng như không bao giờ quay lại với công việc điều trị lâm sàng nữa.
Nhưng sau chính con đường Y khoa và Tâm lý học đã dẫn đà để ông khám
phá những u uẩn trong cuộc sống của con người, năm 1916 ông được mời làm
Giáo sư ngoại lệ, Giáo sư thực thụ về Triết học tại Heidenberg đúng năm
1921. Nhưng vào năm 1937 vì lý do chính trị, ông đã bị phong trào Đức quốc
xã cách chức. Trong thời ấy ông đã không được phép xuất bản gì cả. Mãi tới


năm 1945 ông mới được phục chức và năm 1946 ông được tặng chức "Kỳ lão
danh dự" (Ehrensenator) ở Đại học Heidelberg. Ở tuổi 40 Jaspers đã có bước

Philosophie Jaspers đã cho thấy, lập trường căn bản về hiện sinh và những
vấn đề liên quan đến truyền thống triết lý Hy Lạp và Tây phương đã được
vạch ra trong triết học của ông. Nghĩa là, 15 năm sau khi biên soạn quyển Von
der Wahreit (bàn về sự thực) và bộ Philosophische (triết học), ông vẫn còn
trung thành với những lập trường của bộ triết học đó. Ngoài ra, chúng ta còn
phải kể đến một số tác phẩm nhỏ hơn xem ra hơi xa với viễn tượng hiện sinh,
nhưng thực sự cũng giúp hiểu thêm về triết học hiện sinh của ông chẳng hạn
cuốn Die geistige Situation der Zeit (Hiện trạng tinh thần thời đại) và cuốn
Vom Ursprung und Ziel der Geschichte (Nguồn gốc và Ý hướng lịch sử). Sau
khi đã được trình bày thêm một phần ngắn gọn trong bài viết này, ông còn
phát triển thêm tư tưởng trong những bài văn như: Verunft und Exitenz (Lý
tính và hiện sinh); Existenzphilosophie (Triết lý hiện sinh); Der
philosophische Glaube (Niềm tin triết lý) và Einfiihrung in die Philosophie
(Triết học nhập môn). Trong cuộc đời nghiên cứu lý luận của mình, Jaspers
đã nhiều lần được phong tặng bằng tiến sĩ danh dự, được tặng giải thưởng
Goethe năm 1947 và giải thưởng hoà bình của Hiệp hội Kinh doanh sách Tây
Đức năm 1958. Sau nhiều năm cống hiến và hoạt động trên lĩnh vực triết học,
y học, nhà hiện sinh người Đức đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm có giá
trị, như Triết học, gồm 3 tập (1932); Ý tưởng đại học (1946); Câu hỏi về tội
lỗi của nước Đức (1946); Đức tin triết học (1948); Nguồn gốc và mục tiêu
của lịch sử (1949); Tương lai nhân loại (1961); Đức tin triết học đối với sự
mặc khải (1962),… Cho đến trước khi qua đời, Jaspers đã xuất bản 30 tác
phẩm và ngoài ra, ông còn để lại hàng nghìn trang bản thảo viết tay chưa
được công bố cũng như rất nhiều thư từ quan trọng trao đổi với nhà triết học


Mỹ gốc Đức - Hannah Arendt. Khác với nhà triết học M. Heidegger đã gia
nhập Đảng Quốc xã, Jaspers phản đối kịch liệt chủ nghĩa phát xít và ông cho
rằng: "Bất kỳ ai tham gia tích cực vào việc chuẩn bị hay thực hiện những tội
ác chiến tranh chống lại loài người đều có tội về mặt đạo đức".

do vậy, sẽ đưa con người tới những cái điên rồ, vô lý. Triết học Jaspers là kết
quả của những tư tưởng, những suy ngẫm chân thành và sâu sắc về con người.
Trong triết học của ông, người ta thấy những suy tư trong việc đi tìm định
mệnh con người, thấy sự cố gắng của ông trong việc giúp cho con người thoát
ra khỏi cảnh sa lầy tự mãn và do vậy, những suy tư, cố gắng này của ông đã
có ảnh hưởng tích cực tới nền triết học hiện đại. Điều đáng ghi nhận nhất
trong triết học về con người của Jaspers là sự thức tỉnh con người, buộc con
người phải tự ý thức về trách nhiệm làm người của mình và phải sống sao cho
xứng đáng với sự hiện sinh ấy. Tư tưởng của Jaspers về tự do, về tôn giáo
cũng mang ý nghĩa sâu sắc, khi nó giúp cho con người nhận thức được tự do
có giới hạn, tự do là ý nghĩa căn bản của hiện sinh, nhưng đó không phải là tự
do vô lối, vô ý thức của con người.
Cuốn Ý niệm đại học dài 164 trang, gồm 3 phần không đều nhau: Phần
I bàn về đời sống tinh thần nói chung; phần II bàn về những mục tiêu của Đại
học; phần III bàn về những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của đại học.
Trong đó, phần II là quan trọng nhất, nên được trình bày một cách sâu rộng
hơn hai phần kia. Trong cuốn sách này, Jaspers đã chỉ ra hiện thực tại nước
Đức, tại các trường đại học của Đức trong cuộc khủng hoảng nhận thức chung
đã tiến hành những cải cách, mang tới những thất vọng, lãng phí và vô nghĩa
chính trị, đưa tới việc đe dọa các trường đại học ở Đức. Ông đã đặt ra những
câu hỏi mà các trường đại học của Đức cần trả lời như: các trường đại học của


tương lai là như thế nào? Cần có bao nhiêu cuộc cải cách, có bao nhiêu cạnh
tranh, làm thế nào với các vấn đề quốc tế mà họ cần phải trở thành? Các
chuyên gia nổi tiếng tham gia vào nghiên cứu và trường đại học thực hành đặt
nền móng cho các cuộc tranh luận hiện nay. Từ sự khởi đầu trong thế kỷ XII,
để cải cách các trường đại học của Wilhelm von Humboldt và các trường đại
học cho quần chúng trong thời đại. Phạm vi từ phân tích lịch sử quan điểm
thực tế kích thích tư duy và tương lai mới cho các trường đại học của tương

phát triển giao thông vận tải, v.v… và hàng hóa được vận chuyển lưu thông
nhanh chóng trong toàn nước Anh, đã đưa tới một tất yếu khác trong sự phát
triển xã hội là sự hình thành giai cấp vô sản do cuộc cách mạng công nghiệp
đem lại [2, tr.51]. Cuộc cách mạng đã đòi hỏi một số đông công nhân có sẵn
để cung cấp cho nhiều ngành nghề mới. Mặt khác, nhờ cuộc cách mạng công
nghiệp mà giai cấp tư sản “đã ngoi lên địa vị của tầng lớp quý tộc thực sự”
[22, tr.39]. Sự kiện thứ hai đánh dấu cho sự phát triển của xã hội châu Âu lúc
bấy giờ là cuộc Cách mạng Tư sản diễn ra ở Pháp 1789 – 1794 nhằm thủ tiêu
chế độ phong kiến để mở đường cho lực lượng sản xuất của xã hội tư bản
phát triển. Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với xã hội phương Tây
lúc bấy giờ, khi xé toang màn đêm của xã hội đêm trường Trung cổ, làm cho
những quan hệ phong kiến cũ bị phá vỡ, chế độ quân chủ sụp đổ, để xã hội
phương Tây bước vào một kỷ nguyên mới của tự do, bình đẳng, bác ái, với
những quyền con người được đề cao trong xã hội. Những nhà tư tưởng ở châu
Âu lúc bấy giờ ở Pháp, Anh, Đức, Hà Lan, v.v… đã nhanh chóng đón nhận
những sự kiện này, đặc biệt là các nhà triết học Đức. Với tinh thần của khẩu
hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” mà cách mạng tư sản Pháp mang tới đã thực
sự khơi gợi cảm hứng và là đề tài chủ đạo cho “tự do”, “tinh thần phổ biến”,


cho các nhà triết học thời kỳ này. Sự thay đổi mau lẹ của nước Anh và Pháp
như vậy trên con đường tư bản chủ nghĩa thì tại Đức lúc bấy giờ vẫn là một
nước phong kiến lạc hậu về kinh tế và chính trị. Với những ràng buộc bởi
quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ
ở nông thôn và chế độ phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động
thấp, đời sống của dân chúng thì nghèo nàn, lạc hậu và cùng cực. Mặc khác,
sự phân chia lãnh địa thành cát cứ phong kiến, cùng với sự phân chia về kinh
tế và chính trị đã cản trở nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ
nghĩa. Đúng như Ăngghen khi nghiên cứu về nước Đức đã nhận xét về “tình
hình nước Đức” như sau: “Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao

phương Tây lúc bấy giờ. Trong xã hội thời kỳ hiện đại, nền sản xuất phương
Tây đã thể hiện sức mạnh vượt trội với quy mô sản xuất tăng, dẫn tới tích tụ
sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa phong phú và đa dạng, v.v… thành quả của
những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật ấy được ý thức hệ của xã hội phương
Tây miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý [5, tr. 5]. Lịch sử đã ghi nhận
và cho thấy, xã hội phương Tây bước từ giai đoạn phong kiến sang tư bản chủ
nghĩa, được gọi là thời kỳ của triết học Khai sáng để thay thế cho đêm trường
Trung cổ ở châu Âu. Từ đó người ta cho rằng, mọi tiến bộ trong đời sống xã
hội chỉ có thể thực hiện được dựa trên sự phát triển phồn vinh của khoa học
kỹ thuật và công nghệ, thông qua sự duy lý hóa chính trị, kinh tế và toàn bộ
đời sống xã hội. Sự lạc quan đối với trí tuệ và tri thức đã thể hiện một cách
đầy đủ và triệt để nhất trong ý thức lấy công nghệ làm nền tảng. Cuộc cách
mạng khoa học công nghệ giữa thế kỷ XX đã làm nảy sinh ý tưởng cho rằng,
sự phát triển khoa học – kỹ thuật có thể cứu chủ nghĩa công nghiệp khỏi cuộc
khủng hoảng, loại trừ những xấu xa, băng hoại và mâu thuẫn vốn có trong xã
hội của nó. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong khoa học kỹ thuật có tác


động không nhỏ tới sự phát triển trong kinh tế đã đưa đến sự hình thành một
xu hướng duy lý cao gọi là chủ nghĩa kỹ trị và những quan điểm kỹ trị được
bộc lộ rõ ràng trong những mô hình xã hội của những nhà tương lai học về
chủ nghĩa công nghiệp mang nhiều màu sắc khác nhau. Trong đó, tính duy lý
luôn luôn đối lập với tính phi duy lý, như tâm linh, tôn giáo, đạo đức, tình
yêu, v.v… và được coi là phương thức vạn năng để hoàn thiện xã hội. Người
ta đã có sự tuyệt đối hóa trong sự định nghĩa cũng như hiểu về xã hội khi
quan niệm rằng, mọi tiến bộ xã hội được hiểu như là kết quả của sự truyền bá
những tư tưởng duy lý chân thực trong việc loại bỏ những điều phi duy lý.
Điều này đã đưa đến sự ngộ nhận về sự toàn năng của tư duy khoa học - kỹ
thuật trong việc giải quyết những vấn đề của xã hội đặt ra lúc bấy giờ.
Trong những biểu hiện của chủ nghĩa duy lý trong đời sống xã hội lúc

bị tước mất cái mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những
lực lượng vật chất đơn thuần” [5, tr.8]. Với bối cảnh lịch sử, xã hội như vậy
sự duy lý hóa ở phương Tây đã sa vào khủng hoảng, suy đồi khi nó đã phi
nhân vị hóa con người và biến con người chỉ còn là “một lực lượng vật chất
đơn thuần”. Khi con người đã trở nên bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ
trị khổng lồ của xã hội hiện đại, thì sự suy sụp của những cá nhân là điều
không thể tránh khỏi. Thân phận con người trong chính xã hội mà con người
tạo ra ấy đã thực sự nuốt chửng con người với những gì giành được không
phải giá trị của loài người mà lại phải trả giá bằng sự băng hoại, suy đồi của
đạo đức. Khi tìm hiểu về con người trong nền văn minh kỹ trị, F. Fromm đã
có những nhận xét thật độc đáo: Ở thế kỷ XIX, sự tàn bạo chống lại con người
vì vậy vấn đề của thế kỷ này theo Nietzsche nói là “Chúa đã chết”. Còn ở thế
kỷ XX, con người đã tha hóa, có tính chất nô lệ để biến con người trong
tương lai có nguy cơ trở thành thần kinh phân liệt [5, tr. 9] và vấn đề của con



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status