MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1
15
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC
LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH
1.1. Các khái niệm công cụ
1.2. Nội dung quản lý phối hợp các lực lượng trong
giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý phối hợp
các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh
trung học phổ thông
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
THPT HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC
TRĂNG
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội, GD&ĐT
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
2.2. Thực trạng việc quản lý phối hợp các lực lượng
trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
2.3. Đánh giá chung về quản lý phối hợp các lực lượng
113
118
121
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo
dục “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ngày nay, phương châm “Dạy người, dạy
chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh. Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài
lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo
đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội
sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định,…”
Đảng ta đã khẳng định "Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân". Điều 3
chương I, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: "Hoạt động giáo dục phải được thực hiện
theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất,
lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội". Điều 93 đến điều 98 chương VI cũng đã qui định trách
nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý
nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội. Sự phối hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì
hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược lại sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ
gây cản trở hoặc khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh.
Như chúng ta đã biết, mặt trái của toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ
đến thế hệ trẻ, ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy
thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn đã tác động lớn đến đại đa số
thanh thiếu niên và học sinh như: có lối sống thực dụng, sống tùy tiện, cẩu
giáo dục, chưa kết hợp "dạy chữ" với "dạy người". Các lực lượng xã hội lại
luôn kêu ca là nhà trường, gia đình chưa có giải pháp cho giáo dục, đưa ra xã
hội nhiều "phế phẩm", "sản phẩm của giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu xã
hội….". Việc đỗ lỗi cho nhau giữa ba lực lượng trên xuất phát từ sự phối hợp lỏng lẻo
3
giữa nhà trường, gia đình và xã hội, là hiện tượng " trống đánh xuôi kèn thổi
ngược". Đây chính là thực trạng của nhiều địa phương trên đất nước ta và
chính là nỗi bức xúc của nhiều nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục. Nếu sự
phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội được tốt hơn thì những khó khăn
trong giáo dục đạo đức chắc rằng sẽ được hạn chế, những tồn tại được đẩy lùi.
Trong thực tế, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở đây thực ra
chỉ có tính bề nổi, còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là giải pháp phối hợp như thế
nào để đạt hiệu quả, thường xuyên và đồng bộ.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng” làm
luận văn tốt nghiệp cao học Quản lý giáo dục của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) trong các tác
phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc
của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được
lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc. Theo ông, muốn xác định được chuẩn
mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học .
Aristoste (384-322 TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế
áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu
trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
dục làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này. Komensky có khả năng như
là bẩm sinh trong việc nắm bắt tâm lý trẻ em và hiểu được cả những khía cạnh
tinh vi nhất của tâm hồn trẻ. Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải
bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em như những cây non trong vườn
5
ươm: "Để cây đó lớn lên một cách lành mạnh, nhất thiết phải được sự quan
tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót…".
Theo quan niệm học thuyết Mac-Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó
phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì
đạo đức cũng thay đổi theo. Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và
tính dân tộc.
- V.A Xukhomlinxky, nhà giáo dục lớn người Nga cũng rất quan tâm đến
những biện pháp quản lý đạo đức cho học sinh, đóng góp nhiều lí luận, kinh
nghiệm giáo dục thế hệ trẻ.Với kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục ở trường
nông thôn Pavlush ông cho rằng: dạy học trước hết là sự giao tiếp về tâm hồn
giữa thầy và trò "dạy trẻ phải hiểu trẻ, thương trẻ và tôn trọng trẻ…". Trong quá
trình giáo dục, hình thành nhân cách cho học sinh, ông quan tâm đặc biệt tới sự
cân đối hài hòa giữa sự phát triển xúc cảm, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ
với sự phát triển trí tuệ, thể chất, năng lực hoạt động xã hội, giao tiếp, kỹ năng
lao động nghề nghiệp, kỹ thuật, ý thức công dân XHCN. Ông đã có nhiều kinh
nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa quá trình giáo dục và tự giáo dục, chủ đạo
tác động của nhà sư phạm với chủ động, tự quản rèn luyện của học sinh và tập
thể học sinh, giải quyết hợp lí giữa giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân. Ông đã
nêu lên nhiều kinh nghiệm phối hợp các lực lượng giáo dục xã hội, gia đình, nhà
trường, tận dụng những điều kiện xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ
trẻ. Những tác phẩm về giáo dục đạo đức như "Giáo dục con người chân chính
như thế nào", "Giáo dục cộng sản đối với lao động" vẫn được sử dụng và có giá
“Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo, “Những
khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang,
“Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc
Bảo, “Lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Quản lý
7
nhà trường” của tác giả Nguyễn Phúc Châu, “Tâm lý học lãnh đạo, quản lý”
của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, “Quản lý hành chính nhà nước
và quản lý ngành giáo dục và đào tạo” của tác giả Phạm Viết Vượng làm chủ
biên, … đó là những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý hành
chính, nghệ thuật quản lý nhằm mang lại hiệu quả nhất định cho công tác
quản lý giáo dục nói chung và công tác quản lý trong nhà trường nói riêng.
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng về trách nhiệm của nhà
trường đối với tổ chức phối hợp với gia đình và xã hội: “…Phải mật thiết liên
hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn
cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để cho việc giáo dục đạo
đức của học sinh trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường
dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả
cũng không hoàn toàn…”.
Việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục đạo đức cho học sinh đã trở thành một đề tài nghiên cứu khoa
học của các nhà giáo dục. Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này phải
kể đến: GS.TS Hà Thế Ngữ, GS.TS Đặng Vũ Hoạt, vấn đề này cũng được
đưa vào một số giáo trình khác như giáo dục gia đình của PGS.TS Phạm Khắc
Chương đã đề cập đến vai trò, vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của sự phối
hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học
sinh. Nhóm tác giả ở Trung tâm Giáo dục học thuộc Viện Khoa học Giáo dục
đã đề cập tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Tác
giả Nguyễn Thị Kỷ, Viện khoa học Giáo dục đã hệ thống những quan điểm
Sóc Trăng nói chung và huyện Cù Lao Dung nói riêng về lý luận và thực tiễn
vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống dựa trên đặc điểm đặc
thù của địa phương. Vì vậy qua đề tài này tôi mong rằng sẽ giúp cho các
trường THPT tìm ra được nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
9
quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học
sinh THPT, đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Cù lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về phối hợp và quản lý phối hợp các lực lượng
trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc phối hợp và quản lý phối hợp
các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Cù Lao
Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Khách thể nghiên cứu: Công tác phối hợp các lực lượng trong giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT.
* Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng
trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tìm ra được các biện
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận về quản lý giáo dục,
bồi dưỡng đội ngũ; các văn kiện Đại hội Đảng các cấp; các văn bản pháp quy
về giáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó rút
ra cơ sở lý luận để đề xuất các giải pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường với
gia đình và xã hội trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh.
11
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi đến lãnh
đạo các đoàn thể chính trị ở địa phương, lãnh đạo và GV các trường THPT
nhằm thu thập nhiều thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu để có cơ sở
cho việc đưa ra các giải pháp thực hiện.
+ Phương pháp quan sát: Quan sát để thu thập các thông tin có liên
quan đến công tác quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục trường THPT trên
địa bàn huyện Cù Lao Dung để có cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp tổ chức
thực hiện.
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lãnh đạo các trường THPT và
GV các trường THPT về thực trạng công tác quản lý phối hợp các lực lượng
trong giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT trên địa bàn huyện Cù Lao
Dung nhằm làm căn cứ đề xuất các biện pháp một cách hiệu quả.
+ Phương pháp chuyên gia: Bằng việc tổ chức gặp gỡ, trao đổi ý kiến
về những vấn đề có liên quan đến nội dung quản lý phối hợp các lực lượng
trong giáo dục đạo đức ở trường THPT với các chuyên gia nghiên cứu, người
có nhiều kinh nghiệm; các nhà quản lý nhằm xác định các giải pháp tối ưu
cho công tác quản lý hoạt động này.
+ Phương pháp toán thống kê: Sử dụng các công thức toán để xử lý kết
quả khảo nghiệm, phân tích kết qủa nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy
của phương pháp điều tra.
vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao
động và con người với chính bản thân mình.
Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí , hành vi, thói quen và cách ứng xử
của họ trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với
người khác và với chính bản thân mình.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, có nguốn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã
hội, phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là sư thống nhất trong tư
tưởng và phong cách. Người có đạo đức là người biết kính yêu nhân dân,
khiêm tốn, thật thà, thẳng thắn và có thái độ cầu thị, làm việc chí công, vô tư,
không kêu ngạo, không giấu dốt. Ở Người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống
thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo hành động, lối sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù
chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản
ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu
15
hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp
lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong
xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm,
những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều
chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và
sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân và xã hội”.
Giáo dục đạo đức là một quá trình bao gồm hai mặt, một mặt đó là sự
tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục, mặt khác thông qua sự tác
động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng
mình lên qua giáo dục.
Giáo dục đạo đức góp phần chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát
sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận
thức các giá trị đạo đức cho mỗi người, từ trình độ nhận thức thông thường
lên trình độ nhận thức khoa học. Nhận thức thông thường hình thành do ảnh
hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh hoạt hàng ngày mang lại, nó phản
ánh những giá trị đạo đức gần gũi với cuộc sống đời thường, còn nhận thức
khoa học phản ánh các giá trị đạo đức một cách gián tiếp, khái quát, cả những
giá trị đạo đức hiện đại, cả những phẩm giá của con người được kết tinh trong
truyền thống lâu dài của dân tộc.
Giáo dục đạo đức góp phần to lớn, tích cực trong việc truyền lại cho
thế hệ đang trưởng thành những giá trị đạo đức, mà thế hệ trước đã tạo ra,
những giá trị đạo đức được kết tinh trong hàng nghìn năm lịch sử của dân
tộc. Trên cơ sở đó giúp họ nhận ra chân giá trị của các giá trị đạo đức, nhận
17
thấy giá trị và ý thức cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu
sắc, góp phần to lớn trong việc nhân đạo hóa con người và đời sống xã hội
của con người, trong việc hình thành, củng cố những giá trị nhân cách tốt đẹp.
Giáo dục đạo đức không chỉ có tác dụng nâng cao các giá trị đạo đức,
tạo ra những giá trị đạo đức mới, mà còn góp phần tích cực vào việc khắc
phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách,
những thói hư tật xấu, chống lại những hiện tượng vô đạo đức đang đầu độc
bầu không khí xã hội, tạo ra cơ chế phòng ngừa các phản giá trị đạo đức, phản
giá trị văn hóa...
Hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức trong xã hội,
Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục truyền thống tốt đẹp của
ông cha ta, giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc và sự kế thừa, tiếp thu những tinh
hoa văn hoá của nhân loại; giúp cho học sinh thấy được và biết giữ gìn những
thành quả Cách mạng. Vì thế, giáo dục đạo đức trong nhà trường chỉ có được
kết quả khi nhà giáo dục biết tổ chức phù hợp,hình thức đa dạng, phong phú ,
khơi dậy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học.
Người học biết chuyển hoá những cái tốt đẹp đó thành phẩm chất nhân cách của
mình, phục vụ cho cuộc sống xã hội.
Như vậy, giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có
mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo
dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực,
hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.1.2. Các lực lượng giáo dục
Quá trình GDĐĐ cho học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong. Có thể hiểu rằng có bao
nhiêu mối quan hệ trong nhà trường và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động
thì có bấy nhiêu yếu tố tác động đến học sinh. Đó là gia đình, nhà trường và
19
xã hội. Mỗi lực lượng có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và
tính ưu việt riêng.
* Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt
chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo
những định hướng của xã hội.
Về mặt cấu trúc có nhiệm vụ chuyên biệt là: “Nâng cao dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực, phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, trong đó có
nhiệm vụ giáo dục, hình thành nhân cách cho trẻ em theo những định hướng
của xã hội”.
Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động
cái và tình cảm kính yêu, biết ơn của con cái đối với cha mẹ. Bên cạnh đó,
những tác động giào dục của gia đình còn là tác động thường xuyên, lâu dài
trong các tình huống khác nhau, các loại hoạt động đa dạng trong gia đình.
* Các lực lượng xã hội bao gồm: Theo Luật Giáo dục năm 2005 đã nêu
rõ trách nhiệm của xã hội trong điều 97: Các lực lượng xã hội bao gồm các
cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng… Góp
phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những
hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thế hệ trẻ, tạo điều kiện để thế hệ trẻ được
vui chơi hoạt động văn hoá, thể dục thể thao lành mạnh… hình thành nhân
cách, đạo đức con người mới.
1.1.3. Phối hợp các lực lượng giáo dục
Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” của Nxb Giáo dục năm 2002:
Phối hợp là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau.
Phối hợp các lực lượng giáo dục là sự cùng bàn bạc, hỗ trợ nhau của
các lực lượng xã hội nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức, hành động trong
công tác giáo dục của tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó nhà
trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp và có ký kết giao ước thực
21
hiện mục tiêu, nội dung giáo dục học sinh và xác định trách nhiệm, nhiệm vụ
của nhà trường và các tổ chức khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và
ngoài nhà trường theo một kế hoạch đã được bàn bạc.
Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội thường nhằm mục đích
huy động nguồn lực tổng hợp để nhằm xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
sao cho kế hoạch phải vừa bao quát, vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng
khác nhau. Để thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh, việc phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội có một ý nghĩa đặc biệt vì đó là những môi trường
trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của học sinh phổ thông nói
của học sinh; Những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi
tích cực có điều kiện thực hiện; Những phương pháp và biện pháp giáo dục
được sử dụng khéo léo, không mâu thuẫn với nhau và không để dẫn đễn tính
chất hai mặt trong ứng xử của học sinh.
Chất lượng và hiệu quả của giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói
riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản lý và đặc biệt việc
phối hợp quản lý giữa nhà trường, gia đình và xã hội để giáo dục đạo đức cho
học sinh có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Tạo nên tác động tổng hợp và phát huy được những tiềm năng phong
phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh.
Là nguyên tắc quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo
dục, thực hiện các chuẩn mực đạo đức của học sinh.
Tạo ra sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội, tạo ra môi
trường sư phạm lành mạnh, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, tạo ra
những tác động tích cực cho quá trình giáo dục đạo đức và hình thành nhân
cách học sinh.
Việc định hướng cho học sinh THPT về các giá trị chuẩn mực đạo đức,
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực là cần thiết. Yêu cầu đó không chỉ là trách
nhiệm của nhà trường, mà cần đặt ra cho các bậc cha mẹ học sinh, cho mọi
người, cho các ngành, các cấp trong xã hội.
24
1.2. Nội dung quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo
đức học sinh trung học phổ thông
1.2.1. Quản lý kế hoạch, chương trình, nội dung phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội
Hiệu trưởng nhà trường quản lý kế hoạch, chương trình chung cho sự
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch,