LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý PHỐI hợp các lực LƯỢNG GIÁO dục đạo đức CHO học SINH TRUNG học cơ sở THỊ xã ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC
LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.2. Nội dung quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học cơ sở
1.3. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quản lý phối hợp các lực
lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC
LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY
2.1. Khái quát về giáo dục trung học cơ sở ở thị xã Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh
2.2. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức
cho học sinh trung học cơ sở ở thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh hiện nay
2.3. Thực trạng quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học cơ sở ở thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh hiện nay
Chương 3 BIỆN PHÁP VÀ KHẢO NGHIỆM BIỆN PHÁP QUẢN
LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ
SỞ Ở THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
HIỆN NAY
3.1. Những biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng trong giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở thị xã Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục đạo đức là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nhân cách cũng như tạo nên giá trị của mỗi con người
nên được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu, được thể chế hóa thành điều
luật mang tính pháp lý cao. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn
bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, có đoạn viết: “Đổi
mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa
đức, trí, thể mỹ, dạy người, dạy chữ và dạy nghề…, tăng thực hành, vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, chú trọng giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống, tri
thức pháp luật… ”
Bước vào thế kỉ 21, nhân loại cũng như dân tộc đứng trước cơ hội vô
cùng lớn, đó là sự phát triển khoa học công nghệ, mở cửa, hội nhập toàn cầu
hóa … nhưng cũng đối mặt với những thách thức chưa từng có của môi trường
tự nhiên và xã hội như những tệ nạn xã hội, hệ thống giá trị, lối sống có nhiều
thay đổi … Đó là những hiện tượng rất phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển nhân cách học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng. Học sinh
THCS đang trong độ tuổi phát triển, lứa tuổi dễ bị tác động bởi những điều mới
lạ và bị ảnh hưởng lôi kéo của nhóm bạn nên rất cần có định hướng GDĐĐ, vì
vậy quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THCS lại càng
trở lên cấp thiết.
Thực tế các trường THCS ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thời
gian qua cho thấy, vấn đề GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho học sinh đã được các
nhà trường quan tâm đổi mới cả nội dung, hình thức, phương pháp GDĐĐ, xây
dựng được kế hoạch và chỉ đạo các lực lượng thực hiện kế hoạch GDĐĐ đề ra...
Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên vẫn coi nhẹ việc GDĐĐ cho
2




của các cung văn hóa thiếu nhi…(Chinese Education and Research Network,
Basic Education in China (VI) - After - School Education (1/01/2001).
Nghiên cứu “GDĐĐ ở trường THCS sử dụng các tình huống thực trong
cuộc sống” của tiến sĩ giáo dục học Balakaishman trường Đại học Wellington
ở Malaysia năm 2009, nói về những thái độ và phản ứng của học sinh về các
hành vi được coi là thiếu đạo đức trong xã hội qua đó đề ra các biện pháp để
GDĐĐ cho học sinh.
Ở Ấn Độ bài viết “Tôn giáo và GDĐĐ ở Ấn Độ” của tác giả nhà văn
nhà báo tiến sĩ Ashok Maitreya, nói về tác giả của GDĐĐ trong việc chấm
dứt xung đột sắc tộc, tội phạm, tham nhũng và nghèo đói ở Ấn Độ.
Cuốn sách “Giáo dục đạo đức ở Mĩ” của tác giả B. McClellan EdWard
tác giả đã hệ thống lại vai trò và phương pháp GDĐĐ ở Mĩ từ thời còn là
thuộc địa cho đến ngày nay ở các trường học của Mĩ, trong đó có nói đến sự
phối hợp với gia đình và xã hội trong GDĐĐ cho học sinh.
Như vậy, các nước trên thế giới rất quan tâm tới GDĐĐ và quản lý
GDĐĐ cho học sinh, sinh viên, đã xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp
và những yếu tố ảnh hưởng đến HĐGDĐĐ cho học sinh: Nội dung GDĐĐ
gồm 6 nhóm giá trị: Nhóm giá trị trong quan hệ với bản thân; nhóm giá trị
trong quan hệ với người khác; nhóm giá trị trong quan hệ với công việc;
nhóm giá trị trong quan hệ với Tổ Quốc, với cộng đồng; nhóm giá trị trong
quan hệ với nhân dân và các dân tộc trong khu vục, trên thế giới; nhóm giá trị
trong quan hệ với môi trường tự nhiên. Phương pháp GDĐĐ cho học sinh là:
Giáo dục nhà trường qua con đường dạy học các môn học và qua con đường
tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục gia đình, giáo dục xã
hội. Những yếu tố ảnh hưởng đến GDĐĐ học sinh: Gia đình được xác định là
trường học đầu tiên về đạo đức, tính cách đối với mỗi con người, trong đó cha
mẹ chính là người thầy đầu tiên của con cái; giáo dục nhà trường có vai trò rất

4

5


“Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá” của Phạm Minh Hạc, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành
năm 2001. Toàn bộ nội dung cuốn sách này đều liên quan đến vấn đề GDĐĐ
cho học sinh, trong đó có một chương viết về “Định hướng chiến lược xây
dựng đạo đức con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước”. Cũng trong cuốn sách này, tác giả đã nêu lên 6 giải pháp cơ bản
GDĐĐ con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
“Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học; củng cố
giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường
trong việc GDĐĐ cho con người; kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống
nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức,
lối sống cho toàn dân, trước hết là cán bộ, đảng viên, cho thầy cô các trường
học; xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ
nâng cao nhận thức cho mọi người”[26, tr.171].
Trong cuốn sách chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”
của tác giả Trần Đình Tuấn, do Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân phát hành
năm 2012, có nhiều nội dung bàn về cơ sở phương pháp luận của GDĐĐ cho
học sinh. Năm 2001, tác giả Trần Kiều đã công bố kết quả nghiên cứu chuyên
đề KHXH 07-07-CĐ, với tiêu đề: Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức,
tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên trong chiến
lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Về đạo đức, văn hoá đạo đức có các công trình:“Sự biến đổi của thang
giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho
cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Chí Mỳ (1999); “Văn hoá đạo
đức, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thành Duy (2004). Tác giả

hướng đa dạng hoá hoạt động giáo dục trong và ngoài giờ lên lớp ... .
Ngoài các đề tài luận văn nói trên, trong thời gian qua còn có một số đề tài
của các tác giả đi sâu nghiên cứu về quản lý GDĐĐ cho học sinh ở các cấp học
7


khác nhau như: “Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh của trường
trung học phổ thông huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” của Mai Văn Trường
năm 2008; Võ Ngọc Vân với đề tài: “Một số biện pháp phối hợp giữa Hiệu
trưởng và tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác
GDĐĐ cho học sinh THPT tỉnh Bình Dương”; Trần Thị Hải Yến nghiên cứu:
“Những giải pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
nhằm GDĐĐ cho học sinh THPT ở thị xã Thái Bình”....
Nhìn chung, các bài viết, đề tài nghiên cứu của các tác giả nói trên đã
đưa ra các quan niệm của mình về GDĐĐ, quản lý hoạt động GDĐĐ cho học
sinh; xác định các nội dung GDĐĐ, nội dung quản lý hoạt động GDĐĐ cho
học sinh, định hướng các giá trị đạo đức, đánh giá thực trạng, tìm ra biện
pháp GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh nhằm nâng cao chất
lượng GDĐĐ cho học sinh. Nhưng đến nay vẫn chưa có đề tài nào đi sâu
nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý phối hợp các lực lượng
trong GDĐĐ cho học sinh THCS trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh nên tác giả lựa chọn đề tài này là cần thiết , nhằm nâng cao chất
lượng GDĐĐ cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thị xã Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
quản lý phối hợp các lực lượng GDĐĐ cho học sinh THCS; đề tài đề xuất các
biện pháp quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh nhằm
nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THCS ở thị xã Đông Triều, tỉnh

Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay có vai trò rất quan trọng và là vấn đề
phức tạp, nó chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố. Nếu các chủ thể quản lý thực hiện
đồng bộ các biện pháp như bồi dưỡng nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm
của các lực lượng tham gia GDĐĐ cho học sinh THCS; chỉ đạo xây dựng và
thực hiện tốt kế hoạch quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học
sinh; xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THCS;
chỉ đạo xây dựng dư luận xã hội lành mạnh thông qua các phong trào thi đua học
tập, xây dựng điển hình tiên tiến; thường xuyên kiểm tra, đánh giá, rút kinh
nghiệm việc phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THCS thì sẽ
9


nâng cao được chất lượng GDĐĐ cho học sinh, góp phần phát triển toàn diện
nhân cách của học sinh THCS ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về giáo dục, đào tạo và những vấn đề lý luận về GDĐĐ và quản lý GDĐĐ
cho học sinh. Đồng thời, tác giả dựa trên phương pháp luận nghiên cứu khoa học
xã hội nhân văn, các quan điểm hệ thống cấu trúc, quan điểm hoạt động; tiếp cận
lịch sử, tiếp cận quá trình, tiếp cận thực tiễn làm cơ sở cho việc tiếp cận đối
tượng nghiên cứu, luận giải các nhiệm vụ khoa học của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết, gồm:
Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu có
liên quan đến lý luận về GDĐĐ và quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ
cho học sinh THCS. Chú trọng nghiên cứu các tài liệu, báo cáo như: Tổng kết
công tác GDĐĐ cho học sinh và quản lý hoạt động của các lực lượng trong
GDĐĐ cho học sinh THCS ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay.

Sử dụng toán thống kê để tổng hợp, tính toán các số liệu điều tra khảo
sát thực trạng và tổ chức khảo nghiệm.
7. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực
tiễn về GDĐĐ và quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh
THCS ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; cung cấp những luận cứ khoa
học, giúp cho cán bộ QLGD Phòng, và nhà trường trong lãnh đạo, chỉ đạo,
quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh THCS ở thị xã
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý để
tiến hành có hiệu quả trong GDĐĐ và quản lý phối hợp các lực lượng trong
GDĐĐ cho học sinh các trường THCS hiện nay.
8. Kết cấu của đề tài
Luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận,
kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
11


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11đến 15 tuổi,
các em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS, đây là lứa tuổi thiếu
niên, lứa tuổi này có sự phát triển mạnh mẽ về tâm - sinh lý, độ tuổi đang có
nhu cầu học hỏi, khám phá, tìm tòi cái mới. Với sự mở rộng quan hệ xã hội, sự
phát triển mạnh mẽ của tự ý thức … mà trình độ đạo đức của các em được phát
triển tốt hơn. Sự hình thành ý thức đạo đức nói chung, sự lĩnh hội tiêu chuẩn

nhân. GDĐĐ cho học sinh gắn chặt với giáo dục tư tưởng - chính trị, giáo dục
truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà
nước xã hội chủ nghĩa, cung cấp cho học sinh những phương thức ứng xử
đúng đắn trước vấn đề của xã hội, ... giúp các em có khả năng tự kiểm soát
được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những
biểu hiện lệch lạc về lối sống.
GDĐĐ cho học sinh có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công
tác giáo dục ở nhà trường XHCN. Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải
biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, Đó là cái gốc quan
trọng. Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường
và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn
định ...”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Có tài không có
đức chỉ là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Bởi vậy, GDĐĐ cho học sinh THCS có vai trò hết sức quan trọng. Nó góp
phần đào tào, bồi dưỡng, rèn luyện các em, để các em trở thành người có nhân
cách, vừa có đức vừa có tài, đáp ứng được yêu cầu của CNH - HĐH, hội nhập
quốc tế của đất nước và đó cũng chính là nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên,
học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Từ quan niệm GDĐĐ cho học sinh và căn cứ vào đặc điểm của học
sinh THCS, tác giả đề tài cho rằng:
13


“Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là quá trình hình thành và phát
triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh
dưới những tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể giáo dục được
lựa chọn về nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp với học sinh THCS
và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định”.
Mục tiêu GDĐĐ cho học sinh THCS: Xây dựng đời sống tinh thần
lành mạnh, tình cảm tốt đẹp với gia đình, nhà trường và xã hội, hình thành

nhiều hình thức như nói chuyện, kể chuyện, đọc sách báo, mời những người
có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu gương tốt của giáo viên và học
sinh trong trường. Nhưng người thầy cũng phải nghiêm với học sinh, khuyên
bảo, uốn nắn những mặt chưa tốt cho học sinh, nếu chỉ thương mà không
nghiêm với học sinh thì họ sẽ nhờn và ngược lại các em sẽ sinh ra sợ sệt, rụt
rè, không dám bộc lộ tâm tư tình cảm, do đó người thầy không thể uốn nắm tư
tưởng, xây dựng tình cảm đúng đắn cho học sinh được.
1.1.2. Phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học cơ sở
* Các lực lượng trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
Trong phạm vi đề tài này, tôi quan niệm rằng lực lượng giáo dục tham
gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh trường THCS không chỉ là nhà trường,
mà còn là gia đình và các lực lượng xã hội (Đảng - Chính quyền - Đoàn thể
và các tổ chức xã hội khác). Trong đó các lực lượng giáo dục chính là:
Nhà trường: là tổ chức xã hội đặc thù với thiết chế tổ chức chặt chẽ về
mặt cấu trúc có nhiệm vụ chuyên biệt là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn
nhân lực, phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, trong đó có nhiệm vụ
giáo dục, hình thành nhân cách cho trẻ em theo những định hướng của xã
hội.” Quá trình thể hiện các chức năng này là quá trình tổ chức các hoạt động
dạy học và giáo dục… theo hệ thống chương trình được hoạch định chặt chẽ,
nội dung được tổ chức một cách khoa học, có hệ thống, bài bản.
Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc GDĐĐ cho học sinh vì:
15


Nhà trường có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo nhân cách;
Nhà trường có nội dung và phương pháp giáo dục chọn lọc, tổ chức
chặt chẽ, khoa học;
Nhà trường là lực lượng giáo dục của xã hội mang tính chuyên biệt;
Nhà trường là môi trường giáo dục có tính sư phạm, có tác động tích

điều 97: Các lực lượng xã hội bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức kinh tế,
các đoàn thể quần chúng … góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thế hệ trẻ,
tạo điều kiện để thế hệ trẻ được vui chơi hoạt động văn hóa, thể dục thể thao
lành mạnh … hình thành nhân cách, đạo đức con người mới.
* Phối hợp các lực lượng giáo dục
Phối hợp, theo từ điển Tiếng Việt, là cách thức bố trí cùng nhau làm
theo một kế hoạch chung để đạt một mục đính chung. Phối hợp còn được hiểu
như sự hợp tác, sự liên kết hay sự hiệp đồng giữa các lực lượng với nhau
trong quá trình cùng thực hiện một nhiệm vụ nào đó; phối hợp là hoạt động
cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện
một công việc chung.
Phối hợp các lực lượng giáo dục là sự cùng bàn bạc, hỗ trợ nhau của
các lực lượng xã hội nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức, hành động trong
công tác giáo dục của tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Trong đó nhà
trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp và có ký kết giao ước thực
hiện mục tiêu, nội dung giáo dục học sinh và xác định trách nhiệm, nhiệm vụ
của nhà trường và các tổ chức khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và
ngoài nhà trường theo một kế hoạch đã được bàn bạc.
Phối hợp là một khái niệm mang tính chất liên minh của các lực lượng
tham gia hoạt động: trước hết thể hiện cùng nhau, gắn kết với nhau, không
tách rời nhau và diễn ra trong cả quá trình. Phối hợp trong hoạt động giáo dục
thể hiện sự thống nhất từ nhận thức đến hành động giữa các thành viên tham
17


gia phối hợp trong giáo dục. Nó thể hiện sự giàng buộc, gắn bó chặt chẽ với
nhau về mục tiêu, quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và sát cánh bên nhau
trong mọi hoàn cảnh dù thuận lợi hay lúc khó khăn. Liên kết đòi hỏi tính tự

quá trình giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội được thuận lợi,
trôi chảy, nhịp nhàng và thường xuyên thì hiệu quả sự phối hợp sẽ cao hơn.
Tuy nhiên mục tiêu phối hợp cần phù hợp ở từng địa phương và tùy mức độ
nhận thức của các thành viên. Nếu mục tiêu quá khó và vượt khả năng phối
hợp thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp.
Nội dung phối hợp là những công việc cần phải thực hiện của nhà
trường, gia đình và xã hội trong sự phối hợp giáo dục học sinh như:
Thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục học
sinh cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh.
Đưa nội dung, mục tiêu giáo dục trong nhà trường vào các tổ chức xã
hội trong địa phương như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh,
Câu lạc bộ những người cao tuổi…nhằm thống nhất định hướng tác động đối
với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Phát huy vai trò nhà trường là trung tâm văn hóa giáo dục của địa
phương, tổ chức việc phổ biến các tri thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã
hội…đặc biệt là những kiến thức biện pháp giáo dục học sinh trong điều kiện
xã hội phát triển theo cơ chế thị trường đang rất phức tạp cho các bậc cha mẹ,
giúp họ hiểu được đặc điểm trong đời sống, tâm sinh lý của trẻ hiện nay.
Phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào
các hoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm nghèo, dân số kế hoạch hóa
gia đình, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới…nhằm góp phần
cải tạo môi trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Giúp địa phương theo dõi tiến trình, đánh giá kết quả của việc giáo dục
thanh thiếu niên, phân tích các nguyên nhân, đề xuất các biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa các môi trường giáo dục.
Nhà trường theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình
học sinh kết quả học tập, rèn luyện của học sinh; nhà trường làm cho gia đình
19




viên khen thưởng kịp thời. Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động
phối hợp với cha mẹ học sinh cho giáo viên chủ nhiệm lớp.
Điều kiện và cơ chế phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo
dục đạo đức học sinh
Điều kiện của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội là phải phù
hợp với trình độ phát triển về kinh tế và văn hóa của thực tế địa phương, trình
độ nhận thức của mỗi gia đình học sinh, thời gian thuận tiện để các thành viên
trong nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội gắn kết với nhau, đồng thời
cần có những quy chế, quy định để các thành viên có điều kiện thực hiện tốt
sự phối hợp.
Nhà trường có vai trò chủ đạo trong quá trình phối hợp, trong đó hiệu
trưởng nhà trường là người xây dựng kế hoạch, chịu trách nhiệm chỉ đạo mọi
hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh và các tổ chức đoàn
thể xã hội. Giáo viên chủ nhiệm lớp là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm thực
hiện các chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường - gia đình của hiệu trưởng nhằm
kết hợp với mỗi gia đình học sinh để thống nhất nội dung, phương pháp giáo
dục học sinh.
Đoàn thể trong nhà trường (Công đoàn, Đoàn thanh niên…) là những
bộ phận kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các tổ chức đoàn thể địa
phương dưới sự chỉ đạo thống nhất của hiệu trưởng nhà trường.
Gia đình có vai trò chủ động để thực hiện trong quá trình phối hợp như là:
hội cha mẹ học sinh thông qua quy chế, người đại diện cho cha mẹ học sinh
thống nhất với nhà trường qua kế hoạch và biện pháp thực hiện, gia đình phải
nhận thức đúng trách nhiệm phối hợp với nhà trường, xã hội, gia đình có nhiệm
vụ phối hợp với nhà trường, xã hội để giáo dục học sinh theo Luật Giáo dục đã
ban hành, chủ động liên hệ với nhà trường để nắm vững mục tiêu giáo dục, tham
gia các hoạt động do nhà trường tổ chức, thường xuyên gặp gỡ giáo viên chủ
nhiệm lớp để biết tình hình học tập, rèn luyện của con em mình…
21

họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất
22


hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới
những mục tiêu chung.
Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc
của C.Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần
nhạc trưởng”. Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “Tổ chức”. Tổ chức là
thể hiện của quản lý, ý tưởng của Mác dẫn ra trên đây đã nói lên mối liên hệ
hữu cơ của hai phạm trù tổ chức và quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định” [49, tr789]. Hay nói cách khác: “Quản lý
là việc tổ chức điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”
Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều
khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác. Các nhà
nghiên cứu Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đính,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. [41]
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cũng thống nhất quan điểm:
“Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là
một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định” [40, tr.17].
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa: “Quản lý là sự tác động của tổ
chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra
trong điều kiện biến chuyển cua môi trường” [47, tr.43].
Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng
nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con

hợp các lực lượng giáo dục theo kế hoạch đã đề ra và được cam kết để phát
huy tối đa tiềm năng của các lực lượng giáo dục, tạo ra sự thống nhất tác
động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong GDĐĐ cho học sinh.
24


Mục tiêu của việc quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho
học sinh: Nhằm tạo sự nhất quán trong nhận thức, thái độ, tình cảm và hành
vi của các lực lượng giáo dục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung là xây
dựng đạo đức cho học sinh theo chuẩn mực giá trị đạo đức chung của nhà
trường, gia đình và xã hội.
Chủ thể quản lý phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh:
Gồm có chủ thể quản lý phối hợp là Phòng giáo dục, nhà trường - gia đình xã hội. Trong đó nhà trường đóng vai trò chính trong quá trình quản lý phối
hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THCS.
Chủ thể quản lý phối hợp là Phòng giáo dục, nhà trường: Quá trình
GDĐĐ cho học sinh THCS trong nhà trường phải là người chủ động tổ chức
phối hợp: “Nhà trường cần phải tổ chức quá trình Giáo dục và Đào tạo theo
hướng đẩy mạnh quá trình tự đào tạo của thế hệ trẻ, coi trọng vai trò chủ thể
của thế hệ trẻ trong quá trình giáo dục”
Chủ thể CBQL nhà trường tác động có ý thức tới khách thể quản lý và
các thành tố tham gia nhằm đa dạng hóa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
dục đạt kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.
Chủ thể quản lý phối hợp là gia đình: Gia đình cũng là một lực lượng
giáo dục, một chủ thể giáo dục. Gia đình phối hợp với nhà trường để giáo dục
con cái, mang lại cho đứa trẻ có tính xúc cảm cao, tính linh hoạt, tính thiết
thực, thích ứng nhanh giữa yêu cầu của cuộc sống. Phối hợp với nhà trường,
cha mẹ học sinh có quyền yêu cầu nhà trường cho biết kết quả học tập - rèn
luyện của con em; tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà
trường, tham gia các hoạt động của cha mẹ học sinh do nhà trường tổ chức.
Để sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình học sinh được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status