LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý TRANG THIẾT bị kỹ THUẬT GIÁO dục đào tạo ở học VIỆN QUÂN y HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1.

Trang
3
LÝ LUẬN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ KỸ
THUẬT GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO Ở HỌC VIỆN

QUÂN Y
1.1. Quan niệm trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo và

14

quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học
viện Quân y
1.2. Nội dung quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào

14

tạo ở Học viện Quân y
1.3. Nhân tố tác động quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo

23

dục, đào tạo ở Học viện Quân y
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

26

Chương 2.

Viết đầy đủ
Bảo đảm sửa chữa
Cán bộ giảng viên
Cán bộ nhân viên

Viết tắt
BĐSC
CBGV
CBNV


Cán bộ quản lý
Cung cấp động vật thí nghiệm
Mục tiêu
Nội dung
Phương pháp
Vật chất huân luyện

CBQL
CCĐVTN
MT
ND
PP
VCHL


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng XI khẳng định: đổi mới căn bản toàn diện giáo dục,

thuận lợi cho Học viện trong công tác giáo dục, đào tạo đồng thời cũng đặt ra
vấn đề về quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo. Trong thời gian qua,
công tác quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y luôn
được quan tâm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Tuy vậy, bên
cạnh những ưu điểm, công tác quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo
còn có những hạn chế bất cập, nhất là đối với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại,
hiệu quả sử dụng trong giáo dục, đào tạo chưa góp phần trực tiếp nâng cao chất
lược giáo dục - đào tạo. Hiện nay việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong
các nhà trường quân đội nói chung, Học viện Quân y nói riêng là một yêu cầu cấp
thiết. Để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo phải tiến hành đồng bộ nhiều giải
pháp, trong đó có việc đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng trang thiết bị kỹ thuật
phục vụ giáo dục, đào tạo. Chính vì vậy, quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục,
đào tạo hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về quản lý trang thiết bị
kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y.
Với những lý do đã nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Quản lý trang thiết bị kỹ
thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận
văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong lịch sử phát triển giáo dục, các quốc gia muốn phát triển nhanh, bền
vững thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tập trung đầu tư cho phát triển giáo
dục; trong đó sự quan tâm rất lớn đến sự phát triển trang thiết bị kỹ thuật phục vụ


5
công tác giáo dục, đào tạo nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học.
Theo V.I.Lênin, quy luật nhận thức của con người là "từ trực quan sinh động đến tư
duy trìu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn". Lý thuyết về dạy học trực quan
đã phát triển cùng với các lĩnh vực khác, từ đó giúp ta nhận định được vai trò của
thiết bị trực quan trong quá trình dạy học, giúp người học lĩnh hội được bản chất sự

coi trọng việc đào tạo kiến thức nghề nghiệp quân sự với trau dồi kiến thức về tin
học. Quan điểm đào tạo người chỉ huy cho chiến tranh tương lai của họ đã xác định:
Người chỉ huy chiến đấu phải thông hiểu về máy tính, không nhất thiết phải biết
vận hành một phần cứng hay phần mềm cụ thể nào, nhưng phải hiểu những hệ
thống mới sẽ đem lại điều gì cho chiến trường số hóa.
Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo luôn là mối quan tâm hàng đầu của
lãnh đạo các quốc gia trên toàn thế giới. Lý Quang Diệu-cựu Thủ tướng Singapore đảo quốc rất thành công về cải tổ giáo dục - từng nói: “Phát triển đất nước phải bắt
đầu từ giáo dục”. Việt Nam cũng đã xác định giáo dục là lĩnh vực ưu tiên
hàng đầu trong quốc sách. Lãnh đạo giáo dục thường tập trung vào ba yếu tố
trọng tâm 3M, tức Men - Money - Material means. Men - đầu tư về con
người, về đội ngũ giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục; Money - đầu tư về tài
chính, ngân sách; Material means - đầu tư phát triển cơ sở vật chất trường
học, đổi mới trang thiết bị giáo dục.
Ở Nhật Bản, từ năm 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim giáo
khoa dùng trong nhà trường. Ở Pháp ngay từ khi có mạng máy tính đã sử dụng trang
bị kỹ thuật dạy học và Trung tâm quốc gia rađio - truyền hình dạy học.
Ở Mỹ và các nước Châu Âu, cũng như một số nước khu vực Châu Á Thái
Bình Dương như Inđônexia, Thái Lan, Philippin, Singapo,... người ta thay thế dần
tranh ảnh giáo khoa in trên giấy bằng các hình ảnh trên màn tivi phục vụ dạy học.
Ở nước ta, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, việc nghiên cứu cải tiến,
ứng dụng, phát triển trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác đào tạo trở thành chủ


7
đề thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo gắn liền lý thuyết với thực hành. Tiêu biểu là các công trình nghiên
cứu, đề tài khoa học sau.
“Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học” của Nguyên Lương (1995); “Vai
trò của phương tiện dạy học trong dạy học hiện nay” của Hứa Xuân Trường
(1997); “Hiện trạng và những giải pháp đầu tư phát triển khai thác phương tiện kỹ

thiết bị kỹ thuật dạy học nói riêng là một yếu tố không thể thiếu được của quá trình
sư phạm, chúng góp một phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Tác giả khẳng
định trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là một bộ phận không thể thiếu được
của quá trình sư phạm. Rõ ràng việc “Dạy chay – dạy xuông” hay còn nói “Dạy từ
miệng đến tai” sẽ gây tổn hại lớn cho giáo dục đào tạo. Nó làm cho người học thụ
động, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học. Sự hỗ trợ đắc lực
của trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo sẽ là cầu nối giữa người dạy và người
học, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện: Mục tiêu đào
tạo – Nội dung đào tạo – Phương pháp đào tạo, làm cho chất lượng giảng dạy và
học tập được nâng cao.
Luận văn cũng chỉ ra được những mặt mạnh, những tồn tại đối với trang thiết
bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo. Với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ hiện nay, mỗi công nghệ dịch vụ mới cần được đào tạo với những thiết bị
tương ứng thì sau khi tốt nghiệp mới thực sự đáp ứng yêu cầu với thực tế cược sống
hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Đông “Quản lý cơ sở vật chất và
thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông Phan Bội Châu huyện Krụng Năng
tỉnh Đăk Lăk, thực trạng và giải pháp”(2011) [29].
Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Đức Hùng “Biện pháp quản lý thiết bị
dạy học ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn


9
hiện nay” (2012).
Tác giả đã nêu bật tầm quan trọng của trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào
tạo. Thiết bị dạy học là yếu tố không thể thiếu được của quá trình dạy học, nó
chịu sự chi phối của nội dung và phương pháp dạy học nhưng lại là điều kiện để
thực hiện nội dung và phương pháp dạy học. Trang thiết bị dạy học phải được sử
dụng có hiệu quả nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao
chất lượng giáo dục.

đảm bảo hoặc là trình độ tin học của giáo viên còn yếu. Nhiều giáo viên cho rằng,
khi việc cung ứng thiết bị đã đi vào ổn định, cần có những quy định cụ thể để ràng
buộc trách nhiệm của hiệu trưởng các trường vào việc sử dụng thiết bị trường học.
Hiện thực tế là một số giáo viên rất có ý thức với việc sử dụng thiết bị
dạy học trong qúa trình sử dụng bài giảng điện tử, nhưng cũng không nên lạm
dụng nhiều sẽ dẫn tới tình trạng đọc chép sang chiếu chép thì rất nguy hiểm,
mà chỉ áp dụng cho những bài học nào cần sử dụng để minh họa và phát huy
tính sáng tạo của học sinh.
Tóm lại, các công trình, đề tài trên đã nghiên cứu về trang bị kỹ thuật dạy học
ở các khía cạnh khác nhau; luận giải những cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất
phương hướng biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác sử dụng phương
tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác đào tạo trong các nhà trường. Những kết quả
nghiên cứu trên là cơ sở giúp cho việc kế thừa, hoàn thiện lý luận về vấn đề quản lý
trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao chất lượng đào tạo,
nghiên cứu khoa học trong các nhà trường quân đội hiện nay nói chung, Học viện
Quân y nói riêng.
Các tác giả đã đi sâu vào khai thác ở các cấp độ, mức độ khác nhau về vị trí,
vai trò, chức năng cũng như về quản lý khai thác sử dụng các phương tiện kỹ thuật
dạy học. Tuy nhiên tại Học viện Quân y hiên nay, hoạt động Giáo dục – Đào tạo có
những nét đặc thù riêng. Các trang thiết bị ký thuật dạy học cũng có những đặc
điểm khác. Chính vì vậy việc quản lý các trang thiết bị dạy học cũng có những nét
đặc thù, nó vừa mang tính quân sự, vừa mang tính y học. Cho đến giờ, vẫn


11
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về quản lý trang
thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo phục vụ cho hoạt động giáo dục, đào tạo ở
Học viện Quân y.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu

vai trò, tầm quan trọng của trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo; Kế hoạch hóa
quản lý trang thiết bị kỹ thuật; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý; thường
xuyên bồi dưỡng năng lực quản lý, khai thác sử dụng trang thiết bị kỹ thuật giáo
dục, đào tạo; tăng cường kiểm tra đánh giá công tác quản lý trang thiết bị giáo dục
thì sẽ quản lý chặt chẽ trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Tác giả nghiên cứu tiếp cận đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng, duy vật lích sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo và quản
lý giáo dục. Đồng thời quán triệt và vận dụng các quan điểm hệ thống – cấu
trúc, quan điểm logic – lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích và giải
quyết những nhiệm vụ nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan như:
Các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, của các cấp về giáo dục, đào tạo và quản lý
giáo dục; Luật giáo dục 2005, sửa đổi bổ xung năm 2009; Dự thảo chiến lược phát
triển giáo duc 2009 – 2020. Các giáo trình, sách chuyên khảo ... về quản lý và quản
lý giáo dục. Các công trình khoa học, bài báo khoa học có liên quan đến đề tài fdax
được công bố và đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học.


13
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát thực tế: Trực tiếp quan sát các vấn đề liên quan, các
hoạt động quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y để tìm
hiểu thực trạng, những vấn đề cần giải quyết.
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi: tọa đàm, trao đổi với cán bộ nhân viên quản

1.1. Quan niệm trang thiết bị kỹ thuật giáo dục,
đào tạo và quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện
Quân y
1.1.1. Quan niệm trang thiết bị kỹ thuật giáo dục,
đào tạo ở Học viện Quân y
Theo các chuyên gia nghiên cứu về giáo dục của Việt Nam cho rằng:
Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc
một tập hợp đối tượng vật chất mà người giảng viên sử dụng với tư cách là
phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của người học. Còn đối với
người học thì đó là các nguồn tri thức, là các phương tiện giúp người học lĩnh
hội các khái niệm, định luật, lý thuyết khoa học...hình thành trong họ kỹ năng,
kỹ xảo nhằm đạt được mục đích của quá trình giáo dục, đào tạo ở nhà trường.
Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y là những dụng
cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động giáo dục, dạy học, giúp cho
quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của người học được tốt hơn. Ví dụ: sách giáo
khoa, giáo trình, bảng viết, bảng dữ liệu đã chuẩn bị sẵn, tranh ảnh, phim, các đoạn
clip hoạt hình mô phỏng cùng với máy chiếu qua đầu (overhead), máy chiếu đa
năng (Projecter) với sự trợ giúp của máy tính, của các phần mềm, chương trình như
Powerpoint, mindmap, Workbelch,…vật mẫu, vật thật các phương tiện, dụng cụ
trang bị trong các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành.
Có thể hiểu trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là tất cả các phương tiện
vật chất, kỹ thuật và sản phẩm khoa học - công nghệ (chứa đựng) thông tin học tập
được huy động vào các hoạt động giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Trang thiết
bị kỹ thuật dạy học góp phần nâng cao chất lượng của các phương pháp dạy
học đã có mà không làm thay đổi bản chất các phương pháp này.
Từ nghiên cứu ở trên tác giả quan niệm: Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục,


15
đào tạo là tập hợp những thiết bị kỹ thuật và phương tiện giáo dục, dạy học mà

học, ngoại ngữ.
Trang thiết bị thao trường, bãi tập, trường bắn bao gồm thiết bị chuyên dùng
quân sự tại khu vực, địa hình được cấu trúc để huấn luyện, kiểm tra kết quả huấn
luyện hoặc để thử nghiệm vũ khí trang bị kỹ thuật của cơ sở đào tạo.
Lý luận và thực tiễn dạy học ở các trường đã khẳng định: Trang thiết
bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là “mắt xích” để gắn kết các nhân tố: mục
tiêu, nội dung, phương pháp; đồng thời nó là điều kiện để thực hiện nguyên
lý giáo dục “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”. Trong đó
phương pháp dạy học và trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo tuy là hai
mặt của quá trình giáo dục, đào tạo song luôn gắn bó, tương tác; trang thiết
bị giáo dục, đào tạo là công cụ của phương pháp giáo dục, đào tạo, nó càng
hiện đại, càng hỗ trợ tốt hơn cho phương pháp.
Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là nhân tố minh chứng khách
quan cho việc gắn lý luận với thực tiễn. Thực tế cho thấy, bất kỳ một hoạt động
nào cũng luôn đi liền với tư duy và tư duy luôn gắn kết với hoạt động. Vì thế,
trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo sẽ tạo ra sự toàn diện của hoạt động,
đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học;
góp phần to lớn vào việc cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học; là điều
kiện rất cần thiết để người dạy và người học thực hiện được các chức năng,
nhiệm vụ dạy học đặt ra, giúp sự phối hợp hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn
vị được nhanh chóng và thuận tiện.
Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là điều kiện thuận lợi cho sự nghiên
cứu dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng.
Trang bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo giúp cụ thể hóa những sự việc, vấn đề quá trừu
tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp. Giúp người học nắm
bài học sâu sắc hơn.
Trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo còn giúp người học phát triển năng


17

lợi. Có được các phương tiện thích hợp, người giảng viên sẽ phát huy hết năng lực
sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của
người học trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho người học những tình cảm
tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến
thức mới của ngời học tăng dần theo các cấp độ của tri giác.
Khi đưa những phương tiện kỹ thuật vào quá trình gió dục, đào tạo giảng
viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, tính tư duy độc lập của người học và từ
đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ
năng, kỹ xảo của người học. Ngoài ra với các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại giảng
viên có thể rút ngắn được thời gian giảng giải thuyết trình để tập trung hơn vào rèn
luyện phương pháp, kĩ năng cho người học.
Phân loại trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo bao gồm các nhóm sau:
Nhóm trang thiết bị kỹ thuật được sử dụng để giáo viên truyền đạt, lĩnh hội
kiến thức, nó tác động lên các giác quan của người học, để truyền tải thông tin dạy
học đến họ. Khi sử dụng các phương tiện này, thường phải kết hợp với các phương
pháp của giảng viên viên như thuyết trình, diễn giải..để định hướng việc tiếp nhận
có hiệu quả tri thức môn học.
Nhóm trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo được sử dụng để luyện tập kỹ
năng: Đó là các thiết bị kỹ thuật và phương tiện dạy học giúp người học tiếp thu và
rèn luyện hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp, sử dụng thành
thạo các trang bị kỹ thuật và tâm lý. Trong nhóm này bao gồm các phương tiện
dùng để luyện tập kỹ năng, kỹ xảo cá nhân và dùng để luyện tập kỹ năng, kỹ xảo,
phối hợp làm việc theo nhóm trong sản xuất theo dây chuyền....
Nhóm trang bị kỹ thuật kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
người học đó là: Các thiết bị đo lường, các máy trắc nghiệm, máy đo lực kéo nén,
máy đo các giá trị của dòng điện …Các phương tiện này thường dùng để thu thông


19
tin ngược từ phía người học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học.

hiệu quả, các chủ thể quản lý cần có những cách thức, biện pháp tác động vào các
trang bị kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bảo đảm bền, an toàn
và tiết kiệm.
Với vai trò là chủ thể: Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường; cấp uỷ, chỉ
huy các khoa giáo viên là chủ thể lãnh đạo, quản lý, thực hiện các chủ trương,
biện pháp nhằm quản lý có hiệu quả trang bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo, các
giảng viên, nhân viên quản lý cơ sở vật chất, học viên là chủ thể trong việc quản
lý, khai thác sử dụng trang thiết bị kỹ thuật. Để đạt được các mục tiêu giáo dục,
đào tạo đề ra, các chủ thể tiến hành đồng bộ các cách thức, biện pháp quản lý
trang thiết bị kỹ thuật và sử dụng có hiệu quả trong quá trình giáo dục, đào tạo
tạo ra sự biến đổi nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Biện pháp quản lý trang
bị kỹ thuật được thể hiện ở các nghị quyết lãnh đạo của Đảng uỷ nhà trường, của
cấp uỷ các khoa giáo viên; thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các kế
hoạch quản lý và sử dung. Cấp uỷ, chỉ huy các khoa giáo viên là chủ thể trực tiếp
nhất thực hiện các biện pháp quản lý và sử dụng trang thiết bị kỹ thuật vào quá
trình giáo dục, đào tạo.
Quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là các hoạt động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý trong tổ chức bảo quản giữ gìn, theo dõi nắm
bắt, kiểm tra đánh giá trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo. Quản lý trang thiết bị
kỹ thuật giáo dục, đào tạo bao gồm hệ thống liên quan đến lãnh đạo, chỉ huy, tổ
chức, điều khiển, theo dõi nắm bắt kiểm tra đánh giá tình trạng sử dụng, hiệu quả
của các trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo.
Với cách tiếp cận như vậy tác giả đưa ra quan niệm: Quản lý trang thiết bị kỹ
thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y là tổng thể các hoạt động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý chặt chẽ số lượng, chất lượng, chủng loại và tình
trạng kỹ thuật của trang thiết bị kỹ thuật hiện có phục vụ cho việc khai thác sử
dụng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường.
Chủ thể quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở Học viện Quân y
bao gồm hệ thống tổ chức lãnh đạo chỉ huy các cấp của học viện đến các nhân viên


chủ thể quản lý nắm bắt và đánh giá được số lượng, chủng loại, đồng bộ, chất


22
lượng các trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo được phân công quản lý.
Tất cả các loại trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo đều phải được
thường xuyên, liên tục đăng ký, thống kê đúng các nội dung vào sổ sách, mẫu
biểu quy định. Các số liệu, sự việc được đăng ký, thống kê phải phù hợp với thực
tế và được cấp có thẩm quyền xác nhận.
Kiểm tra, kiểm kê là việc xác định thực tế số lượng của từng loại trang bị và
chất lượng của từng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo. Kiểm tra, kiểm kê có
thể được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất. Sau khi kiểm tra, kiểm kê cần đối chiếu
so sánh với số liệu đã đăng ký, thống kê trên sổ sách và các tiêu chuẩn chất lượng.
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm đủ trang thiết bị kỹ
thuật giáo dục, đào tạo theo biên chế hoặc theo yêu cầu nhiệm vụ và bảo đảm duy
trì hay phục hồi tính năng kỹ thuật, độ tin cậy, tuổi thọ của trang thiết bị kỹ thuật
giáo dục, đào tạo.
Báo cáo tình hình (có thể theo mẫu quy định) cho chủ thể quản lý cấp trên
nắm được thực lực (tình trạng thực tế về số lượng, chủng loại, đồng bộ, chất lượng,
đặc điểm kỹ thuật. v.v.) trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo của Học viện và các
biện pháp giải quyết nhằm đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị kỹ thuật cho thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy, thực hành, điều trị và nghiên cứu khoc học của Học viện Quân
y. Báo cáo tình hình trang thiết bị kỹ thuật có thể tiến hành theo định kỳ hoặc đột
xuất, vai trò của các báo cáo như các thông tin phản hồi cho chủ thể quản lý biết
được tình hình thực hiện quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo ở các bộ
môn, khoa diễn ra như thế nào để có quyết định điều chỉnh.
Các hình thức quản lý trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo: Ra văn bản quản
lý; dùng các phương tiện kỹ thuật trong quản lý; sơ kết, tổng kết, hội thảo, v.v.
Kiểm tra việc thực hiện các công việc quản lý của các bộ phận và cá nhân
theo các tiêu chí, quan điểm, nguyên tắc, phương pháp trong quản lý trang thiết

Các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo
phải lập kế hoạch sử dụng trang thiết bị kỹ thuật thuộc biên chế đơn vị mình
nhằm: Duy trì tỉ lệ trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo hoạt động tốt, bảo
đảm khả năng thực hiện nhiệm vụ giàng dạy, thực hành điều trị, nghiên cứu


24
khoa học.
Làm cơ sở để báo cáo cấp trên đưa trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào
tạo đi sửa chữa định kỳ.
Làm cơ sở để xây dựng kế hoạch bảo đảm vật tư kỹ thuật.
Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo
ở Học viện Quân y.
Kế hoạch công tác của Học viện Quân y.
Chỉ tiêu giờ (lần) hoạt động của trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo.
Chỉ tiêu bảo đảm của cấp trên về vật chất kỹ thuật và sửa chữa định kỳ
trang thiết bị kỹ thuật. Tình trạng kỹ thuật, tuổi thọ kỹ thuật còn lại của trang
thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo.
Nội dung kế hoạch sử dụng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo:
Chủng loại, số lượng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo được sử
dụng cho các hoạt động của Học viện Quân y.
Số giờ (lần) hoạt động của từng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo.
Thời điểm trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo phải dừng hoạt động
để thay thế các cụm tổng thành hoặc đưa đi sửa chữa.
Tỉ lệ trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo tốt, sẵn sàng để sử dụng
từng thời kỳ.
Kế hoạch sử dụng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo là một nội
dung của kế hoạch công tác kỹ thuật. Khi xây dựng kế hoạch sử dụng trang
thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo, cơ quan kỹ thuật cần phối hợp chặt chẽ với
cơ quan tham mưu và thống nhất trình người chỉ huy.

Quản lý tình trạng kỹ thuật của từng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo
theo tiêu chuẩn phân cấp chất lượng, hệ số kỹ thuật (Kt).
Quản lý hạn sử dụng của từng trang thiết bị kỹ thuật giáo dục, đào tạo; thiết
bị lẻ, cụm tổng thành lắp trên trang thiết bị kỹ thuật giáo dục đào tạo đó.
Cùng với quản lý số lượng, quản lý chất lượng là cơ sở để lập kế



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status