3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bằng xã hội là mục tiêu đã được Đảng và nhân dân ta xác định
ngay từ những ngày đầu bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng
thời cũng là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Công bằng xã hội được thể hiện trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hóa - xã hội. Đặc biệt, trong quá trình phát triển đất nước hiện nay, vấn đề
công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo luôn được nhấn mạnh. Bởi vì, thực
hiện tốt CBXH trong GD - ĐT sẽ góp phần to lớn đối với việc bồi dưỡng
năng lực cá nhân, làm cho mọi tiềm năng về năng lực cá nhân đều trở nên có
những cơ hội như nhau hoặc tương đương nhau. Công bằng trong GD - ĐT
chính là cái gốc để giảm bớt bất công về năng lực, tạo ra những năng lực lao
động mới, không để uổng phí các mầm mống tài năng và sẽ tạo được cơ hội
không quá chênh lệch để mọi người cùng tự do phát triển.
Trong những năm qua, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn. Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách
nhằm đẩy mạnh thực hiện CBXH trong GD - ĐT. Mọi công dân không phân
biệt thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính…đều được tạo cơ hội,
điều kiện thuận lợi để học tập; giảm dần sự chênh lệch về giáo dục giữa thành
thị với nông thôn, đồng bằng với miền núi. Tuy nhiên, thực trạng GD - ĐT ở
các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa hiện nay cũng như vấn
đề thực hiện CBXH trong GD - ĐT vẫn còn nhiều bất cập. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã khẳng định:
Chưa thực hiện tốt CBXH trong giáo dục. Con em gia đình nghèo gặp nhiều
khó khăn khi muốn học lên cao. Ở các trường đại học tỉ lệ sinh viên là con em
gia đình nghèo, con em xuất thân công nông, nhất là nông dân ở vùng sâu,
4
5
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề CBXH đã từng thu hút được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo,
quản lý, của giới khoa học trong và ngoài nước. Hiện nay, nhiều bài viết,
công trình khoa học, từ góc độ nghiên cứu khác nhau đã đề cập tương đối
toàn diện về vấn đề này. Tiêu biểu có các bài viết, công trình khoa học như:
* Các sách tham khảo, chuyên khảo
Phạm Như Cương, Góp phần nghiên cứu chính sách xã hội, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988. Công trình khoa học này đã đi sâu vào
bàn về các chính sách xã hội, trong đó có đề cập đến thực hiện các chính sách
xã hội chính là góp phần hiện thực hoá mục tiêu CBXH ở nước ta hiện nay.
Nguyễn thị Nga (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - Vấn đề và giải pháp, Nxb Lý luận
Chính trị, Hà Nội. Trong cuốn sách này, tác giả đi vào làm rõ khái niệm về
tăng trưởng kinh tế và CBXH, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa tăng
trưởng kinh tế với việc thực hiện CBXH. Theo tác giả, tăng trưởng kinh tế là
cơ sở để thực hiện CBXH. Và ngược lại, thực hiện CBXH sẽ là động lực thúc
đẩy kinh tế phát triển. Từ đó, đánh giá thực trạng việc giải quyết mối quan
giữa tăng trưởng kinh tế với CBXH ở Việt Nam hiện nay, đưa ra một số giải
pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn nữa vấn đề này. Có thể nói, công trình
khoa học này đã góp phần làm rõ thêm quan niệm về CBXH cũng như vị trí,
vai trò của việc thực hiện CBXH ở nước ta.
Nguyễn Minh Hoàn (2009), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, . Trong cuốn sách này, tác giả
Nguyễn Minh Hoàn đã trình bày khá rõ quan niệm về CBXH trên cơ sở đưa
ra các quan niệm khác nhau trong lịch sử về CBXH (quan điểm trước Mác
như Platon, Aritxtot, Môrenly...; một số quan điểm hiện đại về CBXH của các
6
“Quan điểm, giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và
tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta” - đề tài do Giáo sư, tiến sĩ Hoàng Đức
Thân, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân làm chủ nhiệm. Đây là một trong 32
đề tài thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn
2006-2010. Mục tiêu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
phương pháp luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, CBXH;
đưa ra khái niệm và giới thiệu những thước đo thông dụng nhất đối với tăng
trưởng kinh tế và tiến bộ, CBXH; phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm từ
thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, CBXH ở một
số nước trên thế giới. Đề tài đã kiến nghị quan điểm tổng quát: Phát triển kinh
tế gắn kết hợp lý với thực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong từng giai đoạn
phát triển và trong suốt quá trình phát triển; phát triển kinh tế nhanh và bền
vững gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng;
bảo đảm thống nhất chính sách phát triển kinh tế và chính sách xã hội.
* Các bài viết, bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề công bằng xã
hội
Lê Hữu Tầng, “Tư tưởng của C.Mác về công bằng và bình đẳng trong
chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Triết học, số 2, 1993, tr.27-31; Nguyễn Tấn Hùng,
“Vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội”, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 7,
1996, tr.15; Bùi Đình Thanh, “Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá”, tạp chí Cộng sản, số 18, 1996, tr.6-12; Lương Việt Hải,
“Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”,
Tạp chí Triết học, số 4, 2004. tr.5.
Hầu hết, các công trình và bài viết này bàn đến vấn đề CBXH trên cơ sở
đưa ra các quan niệm khác nhau, các tiêu chí để đánh giá về CBXH. Từ đó
đưa ra quan niệm về CBXH, thực trạng việc thực hiện CBXH trong điều kiện
8
phát triển nền kinh tế hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện
hội trong giáo dục - đào tạo ở tỉnh Nam Định thời gian qua, luận văn đề xuất
yêu cầu và một số giải pháp cơ bản để thực hiện tốt hơn công bằng xã hội
trong giáo dục - đào tạo ở tỉnh Nam Định hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ khái niệm công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo, những
nhân tố chi phối đến công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo và vai trò của
thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo.
- Đánh giá thực trạng về công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo ở
tỉnh Nam Định thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra cần
giải quyết.
- Đề xuất yêu cầu, một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn công
bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo ở tỉnh Nam Định hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công bằng xã hội trong giáo dục
- đào tạo ở tỉnh Nam Định.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu về việc
thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo ở tỉnh Nam Định, thời
gian khảo sát từ năm 2006 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết
lãnh đạo của Tỉnh uỷ Nam Định về giáo dục - đào tạo và công bằng xã hội
trong giáo dục - đào tạo.
* Cơ sở thực tiễn
10
Luận văn được xây dựng dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng công bằng
Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là vấn đề được đặt ra từ lâu trong lịch sử loài người,
ngay từ khi con người ý thức được những bất công trong xã hội. Trải qua các
thời đại khác nhau, con người đã có cách nhận thức, đánh giá và giải quyết
khác nhau về vấn đề này. Ph.Ăngghen từng nhận xét: Công bằng của người
Hy Lạp và người La Mã là công bằng của chế độ nô lệ, công bằng của giai
cấp tư sản những năm 1789 là đã xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó cho là bất
công. Nhận thức của con người về bất công ở mức độ nào sẽ hướng con người
vươn tới sự công bằng mở mức độ tương ứng. Việc đặt ra và giải quyết vấn đề
này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà còn phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ nhận thức, đặc biệt sự chi phối lợi ích giai cấp, các
nhóm chủ thể xã hội. CBXH trong từng giai đoạn lịch sử, với những thể chế
chính trị khác nhau có những tiêu chí khác nhau.
Tiếp thu quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về CBXH, đồng thời
trực tiếp chứng kiến tất cả những gì xảy ra trong đời sống kinh tế - xã hội của
các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam vào giai đoạn trước cách mạng,
Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: trong chế độ xã hội thực dân, phong kiến
hoàn toàn không có CBXH và trong xã hội đó: “…nhân dân chỉ có nghĩa vụ,
như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi” [17, tr.219].
Từ việc đánh giá đó, Hồ Chí Minh đưa ra kết luận rằng, CBXH chỉ có
được trong chế độ xã hội mới, đó là dưới chế độ dân chủ cộng hoà. Người
12
khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều,
làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng” [18, tr.181]. Trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, CBXH không chỉ biểu hiện như là mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Người căn dặn rằng: “Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều
quan trọng phải luôn nhớ: - Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; - Không
Như vậy, CBXH là vấn đề đã được các nhà kinh điển mác xít đề cập
đến từ lâu. Sau này, những tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam tiếp thu, vận dụng sáng tạo trong suốt tiến trình cách
mạng Việt Nam. Khi đất nước đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề
CBXH đã, đang và sẽ là vấn đề thời sự cần quan tâm giải quyết từng bước.
Trên thực tế, có nhiều học giả đã nghiên cứu nhằm đưa ra một quan
niệm thống nhất về CBXH. Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận khác nhau, có
nhiều quan điểm về CBXH. Trong một nghiên cứu, tác giả Dương Xuân Ngọc
có đưa ra quan niệm:
Công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển
về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng), được
thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như:
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tinh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã
hội. Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi, giữa xã hội và
cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà của con người, của xã hội
phù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội. Công bằng xã hội vừa là khát
vọng của con người, vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã
hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [24, tr.37].
Từ điển bách khoa Triết học có định nghĩa:
Công bằng là khái niệm đạo đức - pháp quyền, đồng thời là khái niệm
chính trị - xã hội. Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự
phối hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của
họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa
14
làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng
phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phối hợp
CBXH trong GD - ĐT giữa các dân tộc trước hết phải tạo cho đồng bào có cơ
hội được học tập, được tiếp cận các hình thức giáo dục phù hợp để xoá mù
chữ và nâng cao trình độ dân trí. Đây chính là điều kiện quan trọng để thực
hiện quyền bình đẳng thật sự giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay.
Ngay từ những ngày đầu tiến hành cách mạng, mặc dù bận rất nhiều
công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục và
tư tưởng “ai cũng được học hành” là nội dung quan trọng trong hệ thống tư
tưởng của Người về giáo dục. Tư tưởng đó được phát triển mạnh mẽ và liên
tục từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Hồ Chí Minh luôn có một
ham muốn: “…ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành” [21, tr.161].
Theo Người, trong xã hội phong kiến thực dân, nhân dân ta không
được đi học theo đúng nguyện vọng của mình. Thực dân Pháp thực hiện chủ
trương “ngu dân dễ trị”. Vì thế, chúng không cho mở mang trường học, hạn
chế việc đến trường của nhân dân ta. Hậu quả là, sau khi cách mạng tháng
Tám năm 1945 thành công, trên 90% dân số mù chữ. Đó là một lực cản lớn
đối với sự nghiệp cách mạng. Nhận thức được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã phát động phong trào “Bình dân học vụ” nhằm mục đích “Diệt giặc dốt”.
Phong trào đó đã được nhân dân ta hưởng ứng một cách nhiệt tình và tư tưởng
“ai cũng được học hành” đã thể hiện mong ước của toàn dân ta là: không phân
biệt trai - gái, giàu - nghèo, già - trẻ…đều được học hành theo nguyện vọng
chính đáng của mình. Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phấn đấu thực
hiện mục tiêu đó. Người đã nêu: hết thảy con cái các nhà lao động được học
cho tới 16 tuổi; trẻ em đến 7 tuổi đều được đến trường…Việc tạo mọi cơ hội
đến trường cho mọi tầng lớp nhân dân chính là tư tưởng cốt lõi nhất của việc
thực hiện CBXH trong GD - ĐT.
16
17
nước tạo cơ hội bình đẳng học tập cho mỗi người dân) và thực hiện dịch vụ xã
hội. Do đó, thực hiện CBXH trong GD - ĐT có sự tác động trực tiếp nhằm
đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu giáo dục nói riêng và phát triển kinh
tế - xã hội nói chung.
Xung quanh vấn đề CBXH trong GD - ĐT có nhiều quan niệm khác nhau.
Dưới góc độ chính trị - xã hội, có thể hiểu CBXH trong GD - ĐT như sau:
Công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo là quá trình tạo được nhiều
cơ hội, điều kiện, môi trường học tập phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội,
với mọi nhu cầu, nguyện vọng cũng như khả năng của mỗi người dân trong
xã hội để ai cũng được tham gia học tập nâng cao trình độ kiến thức, phát
triển nghề nghiệp, tài năng, hiểu biết đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ quan niệm trên cho thấy, CBXH trong GD - ĐT là một vấn đề lớn
và phức tạp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả bước đầu nghiên
cứu một số nội dung cơ bản của CBXH trong GD - ĐT như sau:
Thứ nhất, công bằng về cơ hội học tập
Đây là nội dung quan trọng hàng đầu của CBXH trong GD - ĐT. Nó là
cơ sở để mọi người, mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt
đời. Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội
và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [7, tr.77].
Công bằng về cơ hội không nên hiểu theo nghĩa là tạo điều kiện như
nhau cho mọi người mà quan trọng hơn là cơ hội đó phải phù hợp với mỗi
chủ thể. Nói cách khác, công bằng về cơ hội học tập phải được hiểu là tạo ra
cơ hội học tập phù hợp với mỗi cá nhân, mỗi chủ thể. Điều đó sẽ hạn chế
được cái gọi là cơ hội như nhau nhưng chỉ với những cá nhân này thì phát
huy được lợi thế, còn đối với những cá nhân khác lại là sự bất lợi. Chỉ có
được công bằng về cơ hội học tập thực sự khi cơ hội đó phù hợp với mỗi chủ
thể, tức là tạo điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp cho mỗi chủ thể phát huy
vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả
xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế” [7, tr.216].
Bên cạnh đó, đội ngũ các nhà giáo dục cũng cần được quan tâm thích
đáng bởi họ có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng GD - ĐT.
19
Đảng và Nhà nước cần có sự phân công, điều động phù hợp đối với đội ngũ
các nhà giáo để giảm thiểu chênh lệch giữa các vùng miền. Việc ban hành và
thực hiện những chính sách ưu đãi thích đáng đối với đội ngũ nhà giáo sẽ là
động lực để họ tích cực, say mê, nhiệt huyết trong sự nghiệp trồng người. Cần
thực hiện tốt mục tiêu “Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng
yêu cầu về chất lượng” [7, tr.216].
Nói đến công bằng giáo dục, không thể không nói đến sự công bằng
về giới trong giáo dục. Vì vậy, cần mở rộng cơ hội học tập cho phụ nữ và trẻ
em gái, nhất là những người có khả năng vượt trội, mở ra những con đường
để phụ nữ có những đóng góp giá trị vào sự phát triển bền vững của xã hội.
Cùng với đó, cần tạo cơ hội cho những người có hoàn cảnh kinh tế khó
khăn, những người tàn tật, người dân tộc thiểu số để họ có cơ hội học tập
theo nguyện vọng và khả năng. Đảng và Nhà nước “Quan tâm hơn tới phát
triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Bảo đảm công
bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với
người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh
nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có
nhiều khó khăn” [7, tr.217].
Như vậy, CBXH trong GD - ĐT trước hết là tạo ra sự công bằng về cơ
hội học tập cho mọi công dân. Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất nhằm mục
tiêu nâng cao dân trí, hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh “ai cũng được học
hành”. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ tạo nên một phong trào học tập rộng lớn
cho toàn xã hội.
Hiện nay, những trường công lập do Nhà nước đầu tư xây dựng không
thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của mọi tầng lớp dân cư. Điều đó dẫn đến
nhu cầu phát triển giáo dục ngoài công lập. Trong đó, mô hình giáo dục công
lập giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo định hướng về quy mô và chất lượng (với
yêu cầu chặt về đầu vào), cùng với thực hiện đan xen phát triển hệ thống
trường dân lập, tư thục (với yêu cầu chặt đầu ra) đã tạo nên sự công bằng về
điều kiện và môi trường cho mọi công dân được học tập để nâng cao trình độ
kiến thức, kỹ năng tay nghề. Nó đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và khả
21
năng học tập của nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, nhà nước cần có sự
thống nhất quản lý từ nội dung chương trình đến quy chế học, thi cử, vǎn
bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo điều kiện cho mọi người có thể lựa chọn cách
học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình. Phát triển các trường bán
công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở
một số bậc học như: mầm non, THPT, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại
học. Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước
hiện đại hoá hình thức giáo dục. Đó chính là quá trình tạo ra những điều kiện
mới để mọi người có thể học tập nâng cao trình độ kiến thức, góp phần đào
tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội.
Mặt khác, học tập còn là nhu cầu cần thiết của mỗi cá nhân để nâng cao
trình độ kiến thức, trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội. Vì
thế, ai cũng muốn có điều kiện được học tập ở những bậc học cao. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời…Không ai
có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày đổi mới, nhân
dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến
bộ…” [22, tr.215].
Đối với các hộ nghèo, dân tộc thiểu số, nông thôn, miền núi thường ít
có điều kiện được tiếp tục tham gia bậc học cao hơn, nhất là bậc học cao
tập, công tác; còn những người yếu kém sẽ thấy được khả năng của bản thân
để có sự cố gắng vươn lên hơn nữa. Ngược lại, việc đánh giá thiếu công bằng
sẽ làm xuất hiện tư tưởng “trung bình chủ nghĩa”, kìm hãm khả năng của mỗi
cá nhân, làm “thui chột” nhiều người tài năng. Đánh giá phẩm chất và năng
lực của mỗi cá nhân một cách công bằng trong quá trình GD - ĐT sẽ tạo ra
một môi trường dân chủ, phát huy được khả năng của mỗi người trong quá
trình học tập, rèn luyện. Đối với lĩnh vực GD - ĐT, việc đánh giá ở đây thể
hiện trên nhiều mặt như: đánh giá trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục và đội ngũ giáo viên; đánh giá năng lực học tập của học sinh, đặc
biệt là đánh giá về kết quả học tập. Hiện nay, GD - ĐT vẫn còn những biểu
hiện của sự thiếu công bằng và khách quan trong đánh giá kết quả học tập của
23
người học. “Bệnh thành tích” trong GD - ĐT đã trở thành vấn đề nhức nhối
của nền giáo dục Việt Nam. Do đó, cần phải có sự công bằng trong đánh giá
phẩm chất và năng lực của mỗi chủ thể, nhất là đánh giá đúng kết quả học tập,
công tác của mỗi cá nhân sẽ tạo điều kiện tốt để những người tài phát huy hết
khả năng về trí tuệ .
Thêm vào đó, công tác tuyển dụng cũng cần có sự công bằng. Chúng ta
cần có những tiêu chí cụ thể với mỗi ngành, mỗi vị trí và được công khai hóa
để mọi người cùng biết và thực hiện. Trong thi tuyển công chức, đảm bảo tính
khách quan, đánh giá đúng trình độ chuyên môn và phẩm chất năng lực, từ đó
có kế hoạch sử dụng đúng người, đúng việc; tránh tình trạng tuyển dụng thiếu
khách quan, có sự ưu ái đặc biệt với “con ông cháu cha”; hoặc tuyển người
không đúng chuyên môn. Điều đó dẫn đến tình trạng có người thực sự có
trình độ kiến thức và phẩm chất đạo đức không được trọng dụng nên chưa
khơi dậy và phát huy được nguồn nhân lực chất lượng cao, thậm chí còn có sự
bồi dưỡng nhầm đối tượng. Những hình thức bè phái, lợi ích cá nhân kiểu này
suy cho cùng chỉ làm mất lòng tin của nhân dân, làm suy giảm nhiệt huyết
dừng lại ở việc lựa chọn đúng người có phẩm chất, năng lực mà cần phải có
những chế độ, chính sách ưu đãi thỏa đáng đối với những người đó. Do vậy,
sẽ tạo ra động lực thôi thúc họ học tập, rèn luyện phát triển tài năng để xây
dựng gia đình và xã hội. Chúng ta cần tạo ra môi trường thuận lợi nhất để
những tài năng của các cá nhân đó phát triển; đồng thời có hướng sử dụng
đúng người sau quá trình đào tạo.
* Những yếu tố chi phối đến công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo
Một là, công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo chịu sự chi phối có ý
nghĩa quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế và bản chất xã hội
Cũng như các lĩnh vực khác: chính trị, y tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật,
…GD - ĐT phụ thuộc rất chặt chẽ vào trình độ phát triển kinh tế. Không thể nói
một quốc gia yếu kém về kinh tế lại có một nền giáo dục phát triển. Bởi vì, kinh
tế có phát triển mới tạo ra ngân sách dồi dào để chi phí cho hoạt động GD - ĐT
nói chung và việc thực hiện công bằng xã hội trong GD - ĐT nói riêng. Nó biểu
hiện rất rõ ở việc đầu cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học, tiền lương
25
chi trả cho hoạt động quản lý và giảng dạy; việc hỗ trợ kinh phí học tập cho các
đối tượng chính sách, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Nếu
kinh tế phát triển mạnh, thu nhập của người dân cao là điều kiện tốt để đầu tư
cho GD - ĐT và thực hiện CBXH trong GD - ĐT. Theo đó, mạng lưới trường
lớp ở các địa phương, từ nông thôn đến thành thị, từ vùng đồng bằng ven biển
đến trung du, miền núi…sẽ được phát triển mạnh với việc đầu tư thích đáng.
Ngược lại, kinh tế chậm phát triển, ngân sách chi cho lĩnh vực giáo dục không
nhiều nên việc thực hiện CBXH trong GD - ĐT cũng bị hạn chế.
Trong khi xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa
quyết định đến việc thực hiện CBXH trong GD - ĐT, cần thấy được sự tác
động trở lại của nó đối với sự phát triển kinh tế. CBXH trong GD - ĐT sẽ góp
phần khơi dậy và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, trở thành động
ta nói chung và lĩnh vực GD - ĐT nói riêng. Vì vậy, quá trình hiện thực hoá
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về CBXH trong GD - ĐT sẽ
khó khăn hơn. Thậm chí, người dân còn có nhận thức không đúng dẫn tới
không thực hiện hoặc vi phạm các chính sách đó. Cho nên, trong khi thực
hiện CBXH trong GD - ĐT cần phải chú ý đến nâng cao trình độ dân trí của
nhân dân, coi đó là thước đo của chất lượng GD - ĐT. Mặt khác, thực hiện
CBXH trong GD - ĐT sẽ tác động lớn đến nâng cao trình độ dân trí. Bởi lẽ,
thông qua đó, mọi tầng lớp nhân dân có được cơ hội học tập nâng cao trình độ
kiến thức cũng như kỹ năng tay nghề.
Các phong tục, tập quán cũng tác động không nhỏ đến CBXH trong GD
- ĐT. Nó có thể tác động theo hai chiều hướng cơ bản, đó là tích cực và tiêu
cực. Những truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “lá lành đùm lá rách”, “nhất tự
vi sư, bán tự vi sư”,…có tác động tích cực đến hoạt động giáo dục và CBXH
trong GD - ĐT. Bên cạnh đó, một số phong tục, tập quán lạc hậu như: trọng
nam, khinh nữ; văn hay chữ tốt không bằng thằng dốt lắm tiền; hoặc tư tưởng
kỳ thị các dân tộc thiểu số…là những lực cản đối với quá trình thực hiện
CBXH trong GD - ĐT. Do đó, cần khơi dậy và phát huy những phong tục, tập
27
quán tốt và hạn chế ảnh hưởng của các phong tục, tập quán lạc hậu trong quá
trình thực hiện CBXH trong GD - ĐT.
Ba là, công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo phụ thuộc vào các
chủ trương, chính sách về giáo dục - đào tạo và khả năng tổ chức thực
hiện trên thực tế
CBXH trong GD - ĐT chịu sự chi phối lớn bởi các chủ trương, chính
sách GD - ĐT của Đảng và Nhà nước. Đảng ta luôn có sự quan tâm đặc biệt
đối với nền giáo dục, coi đó là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Chúng ta sẽ không thể có chủ nghĩa xã hội với một nền giáo dục thấp kém và
trình độ dân trí thấp. Bởi GD - ĐT chính là động lực to lớn cho sự phát triển