Quản lý trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
 VŨ ĐÌNH TUẤN
QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: TS. Từ Đức Văn



Hà Nội - 2009

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài chính là những nguồn lực mà các
nhà trường đều cần phải có, đó là những nguồn lực quan trọng góp phần tạo
nên sự thành công của bất kỳ nhà trường nào. Trong các cơ sở đào tạo lực
lượng lao động có kỹ thuật cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước thì cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ đào tạo càng thể hiện
rõ vai trò quan trọng. Việc quản lý, sử dụng thiết bị dạy học phục vụ đào tạo
một cách khoa học, hiệu quả là một trong các nhân tố quyết định chất lượng
của đào tạo, đặc biệt là trong cơ sở đào tạo nghề kỹ thuật cao hiện nay.
Đảng và Nhà nước nhận thấy rõ vai trò quan trọng của phát triển giáo
dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh đào tạo nghề cho người lao động. Điều
này được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược kinh tế - xã hội của đất
nước, đó là luôn đặt con người và vấn đề giải quyết việc làm ở vị trí trọng tâm,
lấy lợi ích của người lao động làm điểm xuất phát của mọi chương trình, kế
hoạch phát triển của mình.

hiệu quả, nhà trường hoàn thành được sứ mạng cao cả của mình đối với xã
hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý trang thiết bị phục vụ
hoạt động đào tạo của trường ĐHCN HN thời gian qua, đề xuất các biện pháp
quản lý thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo của nhà
trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm, phạm trù, quy luật trong hoạt động đào tạo,
lĩnh vực quản lý, quản lý nhà trường.
- Các vấn đề lý thuyết về quản lý trang thiết bị trong hoạt động đào tạo
trường Đại học. 3

3.2. Khảo sát thực trạng hoạt động đào tạo và quản lý trang thiết bị phục vụ
hoạt động đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
- Khảo sát thực trạng hoạt động đào tạo của trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý trang thiết bị thiết bị phục vụ
hoạt động đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết
bị dạy học phục vụ đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất về các biện pháp quản lý thiết bị dạy học được triển khai
đồng bộ thì trường Đại học Công nghiệp Hà Nội sẽ quản lý, khai thác, sử
dụng một cách có hiệu quả hơn thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo.
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt
động đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Chương 3: Các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động
đào tạo ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. 5

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo
1.1.1. Khái niệm hoạt động đào tạo
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2002, thì „‟Hoạt động‟‟ là tiến hành những
việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời
sống xã hội.[12, tr.452]
Theo Từ điển Giáo dục học thì “Hoạt động‟‟ là hình thức biểu hiện quan
trọng nhất của mối quan hệ tích cực, chủ động của con người đối với thực tiễn
xung quanh. Còn đối với từng khía cạnh của thực tiễn, hoạt động là quá trình
diễn ra một loạt hành động có liên quan chặt chẽ với nhau tác động vào đối
tượng nhằm đạt được mục đích nhất định trong đời sống xã hội.[11]
“Đào tạo” là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn
nhất định.[12, tr.289]
Đào tạo - Quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những
kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn,
đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế
cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo
vệ đất nước.

độ theo đúng chương trình, thời gian do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã
quy định cho đào tạo ở bậc đại học.
1.1.2. Vai trò của đào tạo đại học đối với sự phát triển kinh tế – xã hội
“Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua GD
ĐH được xem là quy luật tất yếu trong thời đại ngày nay. Vì vậy, GD ĐH có
vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi
quốc gia”,[26,tr72].
Từ trước tới nay giáo dục đại học có mục đích là thúc đẩy sự phát triển
kinh tế-xã hội của đất nước bằng cách cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo
ở trình độ cao. 7

Mục đích này được thực hiện bằng hai hoạt động có liên quan với nhau
là: Đào tạo sinh viên đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các nghành, các tổ chức
trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế xã hội của đất nước; và làm phong
phú thêm kho tàng kiến thức thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học.
“Việc hình thành và tạo dựng nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân là
một quá trình thay đổi chất lượng sức lao động. Qúa trình này chủ yếu do
trình độ giáo dục quyết định. Theo lý thuyết vốn con người, thì vốn đó được
thể hiện thông qua năng suất lao động, nghĩa là vốn nhân lực càng cao thì
năng suất lao động càng cao. Nguồn vốn nhân lực được tạo ra qua quá trình
giáo dục, bồi dưỡng thể chất, trong đó giáo dục đại học có vai trò rất quan
trọng‟‟[26, tr.24]. Cụ thể là:
- Đào tạo đại học sẽ góp phần làm tăng khả năng tích tụ vốn nhân lực
cho người lao động, tăng quy mô tập trung vốn nhân lực cho toàn bộ nền kinh
tế quốc dân.
Nghiên cứu về quá trình phát triển cúa xã hội loài người trải qua các
phương thức sản xuất từ thấp đến cao, học thuyết Mác đã chỉ rõ: cái làm thay

thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn. Về phần
mình, công nghệ thay đổi nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao
hơn. Vì vậy tích luỹ vốn con người, đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát
triển các công nghệ mới và là nguồn duy trì tăng trưởng.
- Hơn nữa vai trò của ĐTĐH còn thể hiện ở sự đóng góp làm tăng thêm
thu nhập quốc dân bình quân đầu người và nguồn để tái đầu tư với quy mô lớn
và tốc độ nhanh.
Khả năng làm tăng thêm thu nhập quốc dân bình quân đầu người từ
ĐTĐH thực chất là hệ quả của sự tăng trưởng kinh tế; trong điều kiện các
nhân tố khác không có gì thay đổi đáng kể. Đây cũng là xu thế tất yếu thường
xảy ra trong hoạt động thực tiễn vì khi ĐTĐH đã đạt đến một mức độ đủ khả
năng để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng thì dân trí cũng đã được nâng cao và
vòng xoáy của thị trường lao động cuốn hút mọi người phải đi theo tiến độ của
nó. Nhờ vậy nhịp độ gia tăng dân số sẽ có mức giảm đáng kể nên thu nhập 9

quốc dân bình quân đầu người sẽ được tăng dần qua các năm. Khi thu nhập
quốc dân đàu người tăng sẽ tạo nguồn tài chính cho việc hình thành các hình
thức phân phối mới hoặc điều chỉnh lại các mức phân phối của các hình thức
đã có theo xu hướng tăng lên; trong đó thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội
cũng được cải thiện. Nếu chỉ xét riêng về mức tăng trưởng thu nhập cá nhân
của những người đào tạo ở trình độ đại học thì tốc độ tăng trưởng thu nhập
cá nhân của những người này cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn
xã hội, bởi vì „‟lao động có kỹ thuật cao phải bỏ ra một khoản chi phí về
công sức và tiền của để trau dồi nghề nghiệp nhiều hơn, do vậy thu nhạp cao
là để những chi phí cho việc học tập và ít nhất cũng có một số lợi nhuận qua
đầu tư giáo dục‟‟- theo Adam Smith. Người lao động đã tốt nghiệp đại học
lại có cơ hội dành một phần thu nhập của mình cho mục đích tái đầu tư nhằm

quốc tế.
Bởi vì sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân được quyết định
bởi chất lượng giáo viên. Chất lượng giáo viên được thể hiện qua mức trình độ
đào tạo và mức độ nâng cao, cập nhật kiến thức cho đội ngũ này như thế nào.
Yêu cầu này chỉ có thể thực hiện được thông qua các chương trình đào tạo ở
các mức khác nhau thuộc phạm vi của ĐTĐH. Đặc biệt khi nền kinh tế phát
triển ở trình độ cao, càng đòi hỏi trình độ giáo viên phải cao hơn hẳn ít nhất
một bậc so với vị trí mà họ được phép đứng giảng. Khi ĐTĐH phát triển mạnh
mẽ sẽ làm cho trình độ dân trí của quốc gia không ngừng nâng cao, làm cho
vị thế xã hội của quốc gia trên trường quốc tế được nâng cao.
- ĐTĐH góp phần tích cực trong việc thiết lập sự công bằng xã hội về
giáo dục. Công bằng xã hội về giáo dục tức là phải đảm bảo quyền được tham
gia dự học đại học của mọi người không phân biệt giới tính, tôn giáo, thu
nhập… nếu các cá nhân có nhu cầu ĐTĐH đáp ứng đủ các tiêu chuẩn mà nhà
nước quy định đối với bậc học này. Để tạo điều kiện cho người nghèo có thể
theo học đại học cần có các ưu đãi về tài chính thông qua giảm hoặc miễn các
khoản đóng góp về học phí, tạo điều kiện cho người sống ở vùng kinh tế – xã 11

hội kém phát triển. Đó chính là cách thức mà ĐTĐH góp phần thiết lập sự
công bằng xã hội.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, trong khuôn khổ
luận văn này chỉ xem xét những nhân tố cơ bản nhất tác động và gây ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo. Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng theo hai
nhóm: Nhóm các nhân tố bên trong và nhóm các nhân tố bên ngoài.
1.1.3.1. Nhóm nhân tố bên trong.
- Chương trình mục tiêu và nội dung đào tạo.

học cũng tuỳ theo từng chuyên ngành cụ thể mà bố trí số tiết giảng cho hợp lý.
Việc sắp xếp thứ tự các môn học trong từng học kỳ cũng hết sức quan trọng,
nó phải được sắp xếp theo một trình tự logic cụ thể, hợp lý, có như vậy hoạt
động đào tạo mới diễn ra một cách trôi chảy, hài hoà, học sinh mới tiếp thu
các môn học một cách dễ dàng.
- Nhân lực (Đội ngũ giảng viên)
Đội ngũ giảng viên đóng vai trò quyết định trong các hoạt động đào tạo,
đảm bảo cho quá trình đào tạo được diễn ra theo đúng kế hoạch, có hiệu quả,
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các đơn vị nhà trường.
Thầy là người truyền thụ kiến thức, dạy người, dạy nghề; trong quá
trình đào tạo, người thầy thiết kế và tổ chức các hoạt động của người học,
hướng nghiệp và khơi nguồn cảm hứng, hứng thú học tập của sinh viên, kích
thích khả năng sáng tạo, giúp sinh viên hình thành những kỹ năng, kỹ sảo, thái
độ nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường,
giúp cho người học có thể tự tin khi ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị
trường lao động. Đó cũng là cơ sở để khẳng định vị thế và chất lượng đào tạo
của nhà trường trong điều kiện hiện nay.
Để làm được điều này thì đội ngũ giảng viên tối thiểu phải đạt chuẩn
theo quy định, nghĩa là tất cả giảng viên tham gia giảng dạy phải tốt nghiệp
đại học trở lên, phải có chứng chỉ sư phạm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy
định. 13

Như vậy để hoạt động đào tạo được thực hiện tốt, chất lượng đào tạo
ngày một nâng cao, trước hết phải lưu ý đến việc xây dựng đội ngũ giảng viên
không những phải đủ về mặt số lượng, mà còn phải có chất lượng. Muốn vậy
các đơn vị nhà trường phải có kế hoạch cụ thể trong việc tuyển dụng, sử dụng
và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và năng lực của đội

đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện khác như
đội ngũ giảng viên, chương trình, tài liệu học tập.
Có thể nói hiện nay cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo đã
được nhiều trường quan tâm. Nhiêù trường đã có các khu giảng đường
khang trang, hiện đại, đáp ứng được nhu cầu người học. Tuy nhiên còn
nhiều trường do kinh phí còn hạn hẹp, không thể đầu tư xây dựng mới được
khu giảng đường, lớp học.
Trang thiết bị kỹ thuật là nhân tố quan trọng đảm bảo nâng cao chất
lượng đào tạo. Học phải gắn với hành, lý thuyết kết hợp với thực hành. Việc
đảm bảo đủ số lượng máy móc thiết bị, các phương tiện dạy học cho học sinh
thực tập là vấn đề cấp thiết hiện nay. Thực tế cho thấy chỉ cần đủ về mặt số
lượng máy móc cho học sinh thực tập đã là vấn đề khó, chứ chưa nói gì đến
chất lượng của máy móc thiết bị. Đa phần các máy móc phục vụ cho đào
tạo hiện nay ở các trường đều đã lạc hậu so với cá doanh nghiệp và so với
các trường trên thế giới. Điều đó đã làm cản trở trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo ở nước ta hiện nay.
Do vậy các nhà trường muốn thu hút học sinh đến học thì cần phải nỗ
lực rất nhiều để nâng cấp hệ thống nhà xưởng, trang thiết bị dạy học, các
phòng chuyên môn hoá, phòng thí nghiệm, khu giảng đường, lớp học.
- Tài liệu giảng dạy
Giáo trình là tài liệu môn học, thông qua bài giảng kết hợp với giáo
trình môn học giúp cho học sinh có thể tiếp thu bài giảng sâu hơn.
Để phù hợp với điều kiện cụ thể, các trường cần khuyến khích giảng
viên viết giáo trình và các tài liệu tham khảo nội bộ… Trong từng năm học, tài 15

liệu phải luôn luôn được sửa đổi, hiệu chỉnh bổ sung kịp thời để phù hợp với
sự phát triển của thời đại nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.

giáo dục 16

Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nguồn lực tài chính. Đây là nhân tố
gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Nếu không có nguồn tài chính dồi
dào chắc chắn không thể đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết
bị dạy học phục vụ cho quá trình đào tạo.
Mặt khác, muốn có đội ngũ giảng viên giỏi, có trình độ, có năng lực
thực sự thì nhà trường phải đưa ra mức thù lao hấp dẫn cũng như chính sách
đãi ngộ thoả đáng.
Hơn nữa khi không đủ nguồn lực tài chính, chắc chắn vật tư, trang thiết
bị máy móc phục vụ cho quá trình đào tạo cũng thiếu. Với tình trạng đó dễ
hiểu vì sao chất lượng đào tạo sẽ không cao.
Như vậy tăng nguồn kinh phí là điều cần thiết để tăng chất lượng đào
tạo hiện nay. Nhưng nếu tăng mức học phí thì nguồn này là do nhà nước quy
định.
Để đa dạng hoá các nguồn tài chính, các trường có thể liên doanh, liên
kết đào tạo, vay mượn từ các tổ chức khác. Có như vậy mới huy động được
nhiều nguồn để bổ sung vào mua sắm trang thiết bị vật tư phục vụ cho quá
trình đào tạo.
- Chất lượng tuyển sinh đầu vào
Các đối tượng này phần lớn ở lứa tuổi 18, có đặc điểm chung của lứa
tuổi thanh niên mới lớn, đa phần ý thức học tập chưa cao, cuộc sống tự lập còn
hạn chế. Do vậy khi rời gia đình để đi học, các em rất cần đến sự quan tâm của
đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý. Các ảnh hưởng tiêu cực cũng dễ tác
động mạnh vào lứa tuổi này. Việc tổ chức quản lý và giáo dục học sinh là rất
cần thiết, giúp các em có thái độ đúng đắn trong quá trình học tập và rèn
luyện.

Các chính sách về đầu tư, về tài chính đối với các cơ sở đào tạo THCN;
Hệ thống đánh giá, kiểm định, các chuẩn mực đánh giá chất lượng đào tạo,
quy định về quản lý chất lượng đào tạo và cơ quan chịu trách nhiệm giám sát
việc kiểm định chất lượng đào tạo THCN. 18

Các chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của lao động qua
đào tạo, chính sách đối với giáo viên và học sinh ở bậc giáo dục chuyên
nghiệp.
Các quy định trách nhiệm và mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và
người sử dụng lao động, quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất.
Tóm lại: Cơ chế chính sách tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, đến
quá trình đào tạo và đầu ra của các trường.
- Các yếu tố về môi trường
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động đến tất cả các mặt đời
sống xã hội của đất nước, đòi hỏi chất lượng đào tạo của Việt Nam phải được
nâng lên để sản phẩm tạo ra đáp ứng nhu cầu của thị trường khu vực và thế
giới. Đây cũng là cơ hội cho giáo dục nghề nghiệp nhanh chóng tiếp cận trình
độ tiên tiến.
Phát triển khoa học và công nghệ yêu cầu người lao động phải thường
xuyên học tập để nắm bắt kịp thời và làm chủ công nghệ mới, đòi hỏi các
nhà trường phải cải tiến, đổi mới các hoạt động đào tạo bao gồm: nội dung,
chương trình, phương pháp cho phù hợp, đổi mới trang thiết bị cho học tập
và nghiên cứu.
Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội và công chúng
về giáo dục nghề nghiệp được nâng lên, người học ngày càng khẳng định được
vị thế, vai trò của mình trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Từ đó cơ hội
thu hút đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp ngày càng tăng lên, các nhà trường

hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho
quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Nhiều người cho rằng: Quản lý
chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.[24,tr.12]
Hai tác giả Nguyến Quốc Chí và Nguyến Thị Mỹ Lộc nhấn mạnh khía
cạnh Quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức:”Hoạt động quản lý là tác 20

động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý chính là
sự kết hợp được mọi nỗ lực chung của con người trong tổ chức và việc sử
dụng tốt của cải vật chất thuộc phạm vi sở hữu của tổ chức để đạt tới mục tiêu
chung của tổ chức và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có
hiệu quả nhất. Quản lý phải trả lời được các câu hỏi:‟‟ Phải đạt được mục tiêu
nào đề ra?‟‟, “Phải đạt mục tiêu đó như thế nào và bằng cách nào?‟‟, “Phải thu
hút, lôi kéo thêm ai và bằng cách nào?‟‟, “Phải đấu tranh với thế lực nào và
đấu tranh như thế nào?‟‟
Từ những ý chung của các định nghĩa, xét quản lý với tư cách là một
hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong
điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý nhà trường
Theo M.I.Kônđacốp:‟‟Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là
nơi thực hiện các chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm

tiến tới mục tiêu giáo dục. Như vậy “Quản lý nhà trường‟‟ chính là một bộ
phận của quản lý giáo dục. Tác giả Phạm Viết Lượng quan niệm: “QL nhà
trường là hoạt động của cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt
động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy
động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
trong nhà trường‟‟. Một cách tổng quát: QL nhà trường là quá trình nắm
vững các văn bản pháp quy, nắm vững thực trạng nhà trường về CB,GV và
các điều kịên vật chất, nắm được các thông tin về môi trường, từ đó lựa
chọn, sắp xếp, hướng dẫn thực hiện các quyết định QL theo một phương án
tối ưu, nhằm làm cho các đối tượng QL vân động hướng tới việc thực hiện
có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường. 22

Có thể thấy công tác QL trường học bao gồm QL các tác động qua lại
giữa trường học và xã hội, đồng thời QL chính nhà trường. Có thể phân tích
quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Thành tố vật chất của nhà trường: Bao gồm toàn bộ “cái vỏ vật
chất‟‟ của nhà trường, đó là: ngôi trường với các phòng học, phòng làm
việc của Hội đồng giáo viên, phòng làm việc của Hiệu trưởng và các phó
hiệu trưởng…; sân chơi, bãi tập, bàn ghế, bảng tủ, các đồ dùng dạy học,
sách giáo khoa, thưi viên…
Cái vỏ vật chất ấy là kết tinh, là thành quả hoạt động của các thành tố
khác của hệ thống lớn, hệ thống toàn xã hội.
- Thành tố con người của nhà trường: Bao gồm trước hết là hai thành
viên cơ bản của nhà trường: người dạy và người học, ngoài ra là những thành
viên trực tiếp liên quan đến hoạt động của nhà trường: đội ngũ cán bộ công
nhân viên, lao công, bảo vê., nhân viên hành chính, kế toán, thủ quỹ văn thư…
Thành tố con người của nhà trường còn bao gồm tất cả các cán bộ quản lý như

ông là người đầu tiên trên cơ sở xác định rõ công việc mà mỗi thành viên của
tổ chức phải làm đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: Kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này được kết hợp thành
bốn chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
1.1.5.1. Chức năng kế hoạch hoá
Là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và nhiệm vụ được giao
mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, từ đó tìm
ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt mục tiêu đó. Việc lập kế
hoạch cần quyết định xem phải làm những gì, làm như thế nào, làm khi nào và
ai làm. Lập kế hoạch là hoạt động suy tính trước mọi công việc, đòi hỏi sự
cân nhắc, bàn bạc của nhiều người, càng có nhiều người tham gia suy nghĩ thì
ý thức tập thể và tinh thần trách nhiệm chung càng được nâng cao. Việc lập kế
hoạch là cơ sở đảm bảo cho quá trình quản lý đạt hiệu quả cao, nó thay thế cho
các hoạt đồng rời rạc, tuỳ tiện.

Trích đoạn Hiện trạng cung cấp, bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học của trường Đại học Cụng nghiệp Hà Nộ Đỏnh giỏ chung Định hƣớng cụng tỏc quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo ở trƣờng Đại học Cụng nghiệp Hà Nộ Nõng cao nhận thức của cỏn bộ, giảng viờn về cụng tỏc quản lý thiết bị dạy học phục vụ hoạt động đào tạo Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ sử dụng, khai thỏc thiết bị dạy học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status