LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ CHẤT LƯỢNG tín DỤNG TRONG GIẢM NGHÈO của NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH xã hội , THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRONG GIẢM NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng
1.2. Quan niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng trong
giảm nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Thành
phố Hà Nội
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG
GIẢM NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI
GIAN QUA
2.1. Một số nét khái quát về Ngân hàng chính sách xã hội
Thành phố Hà Nội
2.2. Thành tựu, hạn chế về chất lượng tín dụng trong giảm
nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Hà Nội thời gian
qua, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG GIẢM
NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ
HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Những quan điểm cơ bản để tiếp tục nâng cao chất lượng tín
dụng trong giảm nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội
Thành phố Hà Nội
3.2. Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tín dụng trong
giảm nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Thành phố
Hà Nội
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

vùng, địa bàn và giữa các nhóm dân cư. Trong Báo cáo "Khởi đầu tốt nhưng
chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và
những thách thức mới" của Ngân hàng thế giới ngày 24/1/2013, cũng ghi
nhận: Trong vòng 20 năm (1990 - 2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ
gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân vẫn
ở trong tình trạng đói nghèo và các đối tượng chính sách cần được quan tâm
giúp đỡ. Một trong những nguyên nhân của những hộ nghèo là thiếu vốn để
sản xuất kinh doanh, thiếu điều kiện để học nghề... Để giải quyết vấn đề đó,
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam được thành lập nhằm mục đích cấp tín
dụng ưu đãi đối với các hộ nghèo và đối tượng chính sách khác để giải quyết
nhu cầu về vốn cho họ.
Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Hà Nội là chi nhánh của
NHCSXH Việt Nam. Trong những năm qua bằng sự hoạt động tích cực của
mình, NHCSXH thành phố Hà Nội đã giúp các các đối tượng chính sách được
tiếp cận thuận lợi và vay vốn kịp thời để phát triển sản xuất, thực hiện xóa đói
giảm nghèo, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong cấp
tín dụng cho hộ nghèo trên địa bàn thành phố của NHCSXH vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập, nhất là về chất lượng tín dụng. NHCSXH Thành phố Hà Nội
mặc dù đã cố gắp phấn đấu đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng
nhưng quy mô cấp tín dụng còn tăng chậm, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu
cầu của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

3


Hiệu quả xã hội trong hoạt động cho vay ưu đãi của NHCSXH vẫn còn
hạn chế, chưa bền vững. Mặt khác vẫn còn tồn tại nợ quá hạn nên vẫn tiềm ẩn
nguy cơ không thu hồi được vốn cho vay của NHCSXH Thành phố Hà Nội.
Điều này khiến cho hiệu quả tín dụng của NHCSXH trong cho vay hộ nghèo

hàng chính sách xã hội huyện Lý Nhân.Chi nhánh tỉnh Hà Nam. Thực trạng và
giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Phần cơ sở lý luận tác giả đã hệ thống những vấn đề cơ bản về Ngân hàng
Chính sách như: Mục tiêu, hoạt động huy động và cho vay, nguyên tắc cho
vay...sau đó, đã nêu lên tính cấp thiết và vai trò cho vay hộ nghèo. Phần chương
2, tác giả nêu thực trạng cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch ngân hàng chính
sách xã hội huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Đánh giá chung về thực trạng và chất
lượng tín dụng cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Lý Nhân
như: những mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của nó. Từ đó rút ra được
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch Ngân
hàng CSXH Huyện Lý Nhân.
- Huyền Thị Thùy Linh (2008) Giải pháp góp phần phát triển hoạt
động cho vay người nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Kết
cấu bài làm gồm 3 phần, phần cơ sở lý luận tác giả đã đưa ra một số khái
niệm cơ bản về Ngân hàng CSXH như mục tiêu, cơ chế, ý nghĩa của hoạt
động cho vay đặc biệt là cho vay hộ nghèo. Phần này tác giả cũng đã nêu lên
tính cấp thiết đối với nhu cầu vay vốn của người nghèo và một số nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hộ nghèo. Phần hai, tác giả đánh giá thực
trạng cho vay của Ngân hàng CSXH Việt Nam đối với hộ nghèo, qua các số
liệu thực tế thu thập được tác giả đã rút ra nhữngthành tựu đạt được và hạn
chế, nguyên nhân tác động đến hoạt động cho vay đối với hộ nghèo. Từ đó,
tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển hoạt động cho
vay người nghèo tại NHCSXH Việt Nam. Các giải pháp này khá chi tiết, cụ
thể, dễ dàng áp dụng vào thực tiễn hoạt động cho vay hộ nghèo của
NHCSXH, tuy nhiên các giải pháp chưa mang tính đồng bộ thống nhất cao.
- Phạm Thị Châu (2007), Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội với
công tác xóa đói giảm nghèo, luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế thành
5


6


và nguyên nhân của những han chế trong chất lượng tín dụng của Ngân hàng
chính sách xã hội Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh từ năm 2011- 2013. Từ đó,
luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam chi nhánh Bắc Ninh tới năm 2018.
- Đỗ Quế Lượng (2001), Thực trạng và giải pháp tín dụng ngân hàng
hỗ trợ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, Đề tài nghiên cứu khoa học mã số
KNN2000, Hà Nội. Trong công trình nghiên cứu, các tác giả đã đánh giá
những thành tựu đã đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt nam.
Trong công cuộc đó, vai trò của ngân hàng trong việc giải quyết nhu cầu vốn
cho hộ nghèo và hộ chính sách đã phát huy những hiệu quả nhất định. Công
trình đã làm rõ vai trò của tín dụng ngân hàng trong xóa đói giảm nghèo.
Đồng thời đánh giá những hạn chế và nguyên nhân trong công tác cấp tín
dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Trên cơ sở đó, các tác giả đã
đề xuất những phương hướng tăng cường vai trò tín dụng đối với xóa đói
giảm nghèo, tập trung vào giải pháp tăng chất lượng hoạt động tín dụng.
- Hương Thủy (2014), Làm tốt hơn hoạt động tín dụng trong xóa đói
giảm nghèo, báo Khoa học và đời sống. Tác giả đã đánh giá những thành tựu
mà NHCSXH làm được trong công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2012 –
2013; đồng thời, tác giả cũng đề cập tới những biện pháp nâng cao hơn nữa
hiệu quả tín dụng trong xóa đói giảm nghèo.
- Ngô Thị Huyền (2010), Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo, báo
Khoa học và đời sống. Thông qua nghiên cứu này, tác giả đề cập về mặt lý
luận những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới
hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo.
- Phan Thanh Tú (2013), Nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tân Kỳ (Nghệ An), bài nghiên cứu đánh
giá những thành tựu và những tồn tại cần khắc phục trong việc nâng cao hiệu

chất lượng tín dụng trong giảm nghèo của NHCSXH Thành phố Hà Nội dưới
góc độ khoa học kinh tế chính trị. Vì vậy, đây là một “khoảng trống” khoa học

8


để tác giả lựa chọn vấn đề “Chất lượng tín dụng trong giảm nghèo của ngân
hàng chính sách xã hội Thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng tín
dụng của NHCSXH trong giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Trên
cơ sở đó, đề xuất những phương hướng và giải pháp để tiếp tục nâng cao hơn
nữa chất lượng tín dụng của NHCSXH trong giảm nghèo trong những năm tới
(đến năm 2020).
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ chất lượng tín dụng của NHCSXH trong hoạt động giảm
nghèo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đối với hoạt động
giảm nghèo của NHCSXH Thành phố Hà Nội, làm rõ nguyên nhân và các vấn
đề đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất những quan điểm cơ bản để tiếp tục nâng cao chất lượng tín
dụng trong giảm nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Thành phố Hà Nội và
các giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của NHCSXH
đối với giảm nghèo những thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chất lượng tín dụng của NHCSXH trong giảm nghèo.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhất là khu vực thuộc

ra cần giải quyết, đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tín
dụng phát huy vai trò của NHCSXH Thành phố Hà Nội đối với hộ nghèo và
đối tượng chính sách khác trên cơ sở những quan điểm cơ bản về nâng cao
chất lượng tín dụng trong giảm nghèo của NH trong thời gian tới.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu giảng dạy môn kinh
tế chính trị và tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các cấp, lãnh đạo các chi nhánh
NHCSXH của Hà Nội cũng như các địa phương khác tham khảo nhằm đề ra các
biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong giảm nghèo trong thời gian tới.
7. Kết cấu của đề tài

10


Luận văn gồm: phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG GIẢM
NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
1.1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng
1.1.1. Khái niệm, bản chất và chức năng của tín dụng
Một là, khái niệm về tín dụng
Tín dụng và tiền tệ gần như có lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển
đồng thời. Cũng như tiền tệ, quan hệ tín dụng phát triển từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp và từng bước được đa dạng hoá theo sự phát triển của
nền kinh tế thị trường.
Quan hệ tín dụng thô sơ nhất phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ cộng sản
nguyên thuỷ tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện thì đồng
thời cũng xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hoá. Bên cạnh đó hiện tượng phân
hóa giàu nghèo cũng hình thành và phát triển. Rất nhiều tư liệu sản xuất và

lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định
thu hồi được một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Quá trình đem
tiền cho vay với tư cách là một việc với đặc điểm là sẽ quay trở về điểm xuất
phát của nó, mà vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn
lên thêm trong quá trình vận động.
Các nhà kinh tế học hiện đại, đã nghiên cứu và đưa ra rất nhiều định
nghĩa khác nhau về tín dụng. Các nhà kinh tế học A.Ararit và Ksuk định
nghĩa tín dụng như sau: Tín dụng phát sinh giữa một bên (người cho vay) trao
cho bên khác (người đi vay) quyền sử dụng một số tiền nhất định, trong đó
người đi vay có nhiệm vụ phải trả lại số tiền vay đó đúng hạn quy định. Để có
quyền sử dụng tư bản đó, bên đi vay phải trả một khoản bồi thường, tức là lợi

12


tức. Theo Opst và Khimt Nher, đặc trưng của quan hệ tín dụng là: Người cho
vay thực hiện ngay nghĩa vụ của mình nhưng chỉ nhận được quyền lợi trong
tương lai xa hơn. Những rủi ro đặc biệt của hình động tín dụng chủ yếu xuất phát
từ đó. Theo hai cách định nghĩa này, tín dụng được hiểu là quan hệ nhường
quyền sử dụng tiền trong hiện tại để đổi lấy quyền hưởng lợi tức trong tương lai.
Ở đâu tính chất sinh lời và rủi ro của hoạt động tín dụng được nhấn mạnh.
Tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể
sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ
hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa các chủ thể kinh tế có
ngân hàng làm trung tâm. Dưới hình thức này, các quan hệ tín dụng được
thực hiện thông qua hoạt động của ngân hàng. Theo đà phát triển của nền
kinh tế, hình thức tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành hình thức chủ yếu
không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế.
Theo nội dung của khoản 14 và 16, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số

Hai là, đặc điểm của tín dụng ngân hàng
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng Ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (động sản và bất động sản). Về mặt
hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất
định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người
sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại
cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi
là lợi tức tín dụng.
Trong hình thức tín dụng ngân hàng, nguồn tài chính có thể được biểu
hiện dưới hình thức là tiền tệ nhưng có thể thể hiện dưới hình thức là hiện vật.
Dưới hình thức là tiền tệ, người cho vay sẽ chuyển giao cho người đi vay một
khoản tiền nhất định để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong một khoảng thời
gian nhất định. Dưới hình thức là tài sản, người cho vay sẽ nắm giữ quyền sở

14


hữu tài sản và cho người đi vay thuê tài sản để sử dụng trong một khoảng thời
gian nhất định.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, nên khi người cho vay chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng, họ phải có cơ sở để tin rằng người đi vay trả
đúng hạn. Tín dụng ngân hàng cũng giống như các hình thức tín dụng khác,
được thực hiện dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tức là, người đi vay chỉ được sử
dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó phải hoàn trả phần
vốn gốc này cho người cho vay. Hay nói cách khác, người đi vay chỉ có
quyền sử dụng vốn mà không có quyền sở hữu vốn. Chính vì vậy, khi cho
vay, người đi vay phải có cơ sở để tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người
đi vay. Do đó, người đi vay phải chứng minh được mục đích sử dụng vốn
vay, nguồn tài chính trả nợ vay trong tương lai và thường phải thế chấp hay
cầm cố tài sản có giá trị để vay vốn.

được thay thế bởi nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ.
Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, luôn luôn tồn tại một hiện tượng, đó
là trong khi một số chủ thể có trong tay những khoản vốn tiền tệ tạm thời dư
thừa, chưa sử dụng; đồng thời cũng tại thời điểm này, lại có những chủ thể
đang ở trạng thái ngược lại họ đang bị thiếu vốn, đang có nhu cầu cần được
bổ sung vốn tiền tệ. Đây chính là một mâu thuẫn rất thường xuyên, phổ biến
và không thể không được giải quyết.
Xét về bản chất kinh tế, ẩn sau mâu thuẫn trên chính là sự phản ánh
hiện tượng ách tắc của dòng chu chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Giải
quyết mâu thuẫn này cũng chính là việc khơi thông dòng chu chuyển vốn tiền
tệ trong nền kinh tế, nhằm tạo điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển nền
kinh tế xã hội. Công cụ tín dụng dựa trên nguyên lý cơ bản là ứng vốn có
hoàn trả. Khi một chủ thể lâm vào tình trạng tạm thời thiếu vốn, họ sẽ được
đáp ứng nhu cầu bằng khoản cho vay của chủ thể có vốn. Ngược lại một chủ
thể ở trạng thái tạm thời thừa vốn, họ có thể tìm kiếm được một khoản lợi

16


nhuận nhất định từ hành vi chuyển giao tạm thời quyền sử dụng số vốn nhàn
rỗi đó cho chủ thể khác.
Như vậy, thông qua công cụ này mâu thuẫn giữa tạm thời thừa và thiếu
vốn trong nền kinh tế xã hội được giải quyết một cách hợp lý, dòng chảy vốn
tiền tệ đã được khơi thông, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể có liên quan. Sự
xuất hiện của các tổ chức tín dụng làm trung gian tài chính trong nền kinh tế
đã làm cho các dòng chảy vốn ngày càng mạnh mẽ, giải quyết mọi nhu cầu
của các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn.
Bốn là, chức năng của tín dụng
Thứ nhất, tín dụng có chức năng tập trung và phân phối lại tiền tệ trên
cơ sở có hoàn trả. Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông

hàng, chất lượng dịch vụ tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn như cầu vay
vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đát nước,
đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng được hiểu một cách khái quát nhất đó là sự đáp
ứng nhu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín
dụng cung cấp sản phẩm tín dụng đó. Theo từ điển Weekipedia thì: Chất
lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp
cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh, đo lường chất lượng tín dụng,
có rất nhiều chỉ tiêu nhưng nhìn chung có thể đề cập tới: tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo.
Với mỗi bên tham gia vào hoạt động tín dụng thì chất lượng dịch vụ tín
dụng lại được hiểu một cách khác nhau.
Đối với ngân hàng: Chất lượng dịch vụ tín dụng thể hiện ở phạm vi,
mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân Ngân
hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả
đúng hạn và có lãi.

18


Đối với khách hàng: Do nhu cầu sử dụng dịch vụ tín dụng của khách
hàng là để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên chất
lượng dịch vụ tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử
dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục vay đơn giản,
thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyên tác tín dụng.
Đối với nền kinh tế: Dịch vụ tín dụng có chất lượng nghĩa là phải huy
động được tối đa lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và thực hiện cho vay đầu tư
phát triển nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước một cách có hiệu quả
nhất. Tức là việc đầu tư tín dụng sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động,

nhận và sự thỏa mãn của khách hàng, tức là hoạt động tín dụng của ngân hàng
có làm hài lòng khách hàng hay không, có đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn
của khách hàng không….
Cùng với đó, chất lượng tín dụng là khái niệm vừa cụ thể vừa trừu
tượng: Chất lượng tín dụng là một khái niệm mang tính cụ thể vì nó được thể
hiện qua các chỉ tiêu tính toán được như dư nợ tín dụng, cơ cấu tín dụng, tỷ lệ
nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn… Đồng thời chất lượng tín dụng cũng là khái niệm
mang tính trừu tượng vì nó còn được thể hiện thông qua các tiêu chí định tính
như khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế, mức độ hài lòng
của khách hàng…
Ngoài ra, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và là một
chỉ tiêu tổng hợp vì nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay
đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức cạnh tranh của một ngân hàng
trong môi trường hoạt động.
1.2. Quan niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng trong giảm
nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Thành phố Hà Nội
1.2.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng trong giảm nghèo của Ngân
hàng chính sách xã hội Thành phố Hà Nội
Ngân hàng Chính sách là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là
cho vay theo chính sách và kế hoạch của Nhà nước (cho vay chính sách). Do
đối tượng phục vụ của Ngân hàng chính sách xã hội khá đặc biệt, là các đối

20


tượng chính sách như hộ nghèo, sinh viên… nên chất lượng tín dụng trong
giảm nghèo đối với Ngân hàng chính sách xã hội phải dựa trên sự thỏa mãn
nhu cầu của các đối tượng này và đảm bảo mục tiêu hoạt động của ngân hàng.
Như vậy, chất lượng tín dụng trong giảm nghèo của NHCSXH Thành
phố Hà Nội là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của các đối tượng hộ

lí, hồ sơ thủ tục đơn giản theo đúng quy định của pháp luật mặt khác khách
hàng sử dụng vốn vay thực hiện thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng kì hạn
thoả thuận. Việc sử dụng vốn vay đó không những có hiệu quả mang lại lợi
nhuận cho khách hàng mà mang lại kinh tế - xã hội đối với đất nước.
Như vậy riêng đối với hoạt động tín dụng mang tính chất xã hội như
cho vay giảm nghèo của ngân hàng CSXH thì ngoài yêu cầu hoàn trả vay
đúng hạn, hiệu quả tín dụng còn phải hướng đến tạo thu nhập cho người đi
vay để họ nhanh chóng “thoát” nghèo, thực hiện được các mục tiêu của chính
sách xã hội đề ra.
Hai là, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu về chức năng và nhiệm vụ
của ngân hàng.
NHCSXH thực hiện chức năng, nhiệm vụ là đồng thời thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, thực hiện
tín dụng ưu đãi với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận. Chính vì vậy, chất lượng tín dụng phải bao hàm
cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng tới hiệu
quả xã hội của hoạt động cho vay này. Mặc dù, đối với các NTHM, chất
lượng tín dụng của NH cũng phải đảm bảo cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội nhưng dường như hiệu quả kinh tế đối với NHTM được xem trọng hơn.
Hiệu quả kinh tế: khả năng bảo toàn vốn của NH, giảm rủi ro trong
hoạt động tín dụng của NH. Đối với Ngân hàng phạm vi mức độ giới hạn Tín
dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân Ngân hàng vừa đảm bảo được
tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn thu được tiền
vay; vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân hàng và thực hiện các

22


mục tiêu về kinh tế xã hội góp phần hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp phát
triển trên cơ sở sử dụng vốn Tín dụng của Ngân hàng. Trong khi đó, với

tín dụng của NH trong giảm nghèo như sau:
Một là, cho vay đúng đối tượng, thủ tục thuận tiện phù hợp với quan
điểm đường lối, chính sách, luật pháp, các quy định của Luật ngân hàng và
điều kiện của người vay vốn.
Cho vay đúng đối tượng có nghĩa là NHCSXH phải đảm bảo người vay
vốn chứng thực là thuộc đối tượng thuộc diện cấp tín dụng của NHCSXH.
Các đối tượng vay vốn này phụ thuộc vào quy định của NHCSXH, từng
chương trình cho vay của NH trong những thời kỳ khác nhau. Nhìn chung,
các đối tượng vay vốn của NHCSXH đều là hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc các
đối tượng chính sách khác.Việc đảm bảo cho vay đúng đối tượng của
NHCSXH rất quan trọng vì nguồn vốn tín dụng này có lãi suất ưu đãi thấp,
nên đối tượng cấp tín dụng cũng chỉ giới hạn. Tuy nhiên, lãi suất thấp nên
người dân đều có nhu cầu tiếp cập nguồn vốn ưu đãi này. Chính vì vậy, lựa
chọn đối tượng cấp tín dụng phải được tiến hành thận trọng, chính xác và
công bằng để nguồn vốn của Nhà nước không bị sử dụng sai đối tượng, sai
mục đích. Trong khi triển khai các chương trình cho vay, NHCSXH cần có
các quy định cụ thể về tiêu chuẩn cấp tín dụng và thực hiện các biện pháp
kiểm tra, giám sát đối tượng cấp tín dụng.
Thủ tục cho vay vốn của NHCSXH cần phải được quy định rõ ràng, tạo
điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng trên địa bàn có thể hiểu rõ về các tiêu
chuẩn và điều kiện vay vốn, dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng
chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
Hai là, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng trên cơ sở huy
động tối đa nững khả năng của ngân hàng về cung cấp tín dụng.
Một ngân hàng nếu có thể đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu của những
khách hàng có đủ điều kiện cần thiết để vay vốn của ngân hàng thì ngân hàng
đó đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Như vậy khả năng cấp tín dụng đối

24




giản, mức lãi suất thấp sẽ tạo điều kiện cho các đối tượng này có vốn phát
triển sản xuất kinh doanh.
Giảm nghèo: Mục đích của việc cấp tín dụng là cho các đối tượng có
thu nhập thấp vay vốn với lãi suất ưu đãi để có thể mở rộng hoạt động sản
xuất, kinh doanh, chuyển đổi nghề nghiệp và gia tăng thu nhập cho gia đình,
giúp các gia đình thoát nghèo bền vững. Hiệu quả giảm nghèo có thể đo
lường qua các tiêu chí như: số hộ nghèo được vay vốn ưu đãi, mức vay bình
quân trên một hộ nghèo được vay vốn, tỷ lệ hộ nghèo của địa phương qua các
năm và mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương qua các năm.
Giải quyết việc làm: Thông qua việc cấp tín dụng cho các đối tượng
chính sách nhằm chuyển đổi nghề nghiệp, mở rộng kinh doanh, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thì qua đó còn tạo thêm công ăn việc làm cho người dân trên
địa bàn. Hiệu quả xã hội này có thể đo lường qua tiêu chí tỷ lệ thất nghiệp của
địa phương và số lao động nông thôn được chuyển đổi nghề hàng năm.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chất lượng tín dụng của ngân hàng chính
sách cũng được thể hiện thông qua việc góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế vùng lãnh thổ theo hướng hợp lý hơn.
Nâng cao trình độ dân trí: Ngân hàng chính sách còn cấp tín dụng cho
các đối tượng chính sách là sinh viên của các trường cao đẳng, đại học… với
lãi suất ưu đãi để trang trải chi phí học tập. Qua đó có thể góp phần giúp cho
các đối tượng hộ chính sách có thể tiếp cận với trình độ dân trí cao hơn, được
tạo điều kiện học tập. Đo lường hiệu quả xã hội này có thể thông qua các tiêu
chí: số lượng sinh viên được vay vốn qua các năm, số vốn cấp tín dụng cho
các sinh viên qua các năm.
Bốn là, đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích, nâng cao khả
năng thu hồi vốn và nâng cao kết quả hoạt động của NHCSXH.
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình
hình tài chính của ngân hàng. Nợ qua hạn hay còn gọi là nợ xấu là một loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status