LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG ở HUYỆN THƯỜNG tín, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Cơ cấu kinh tế

CCKT

Cơ cấu lao động

CCLĐ

Công nghiệp hóa

CNH

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

CDCCKT

Chuyển dịch cơ cấu lao động

CDCCLĐ

Hiện đại hóa

HĐH

Xã hội chủ nghĩa

3.2. Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu lao động ở huyện Thường Tín trong thời
gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
3

10
10

22

37
37
44

57

62
62

66
82
84
88



Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản của quá trình
chuyển dịch CCLĐ tại huyện Thường Tín – Thành phố Hà Nội hiện nay, đề
xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình
chuyển dịch CCLĐ của huyện là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu lao động ở huyện
Thường Tín - thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chuyển dịch cơ cấu lao động là một vấn đề hết sức quan trọng đối với
các địa phương đang trong quá trình đô thị hóa, nhất là trong giai đoạn đẩy
mạnh CNH, HĐH hiện nay. Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động đã
thu hút rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý… quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu
như một số công trình sau:
- Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và tác động của
nó đến củng cố quốc phòng nước ta hiện nay – Phạm Anh Tuấn – Luận án
tiến sỹ kinh tế – 2004.
Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản của quá trình chuyển dịch
CCLĐ nông nghiệp, nông thôn, đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả của quá trình chuyển dịch CCLĐ nông nghiệp, nông thôn
đồng thời với củng cố quốc phòng đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động tại Thành phố Cần Thơ, trường hợp
nghiên cứu ở quận Ô Môn – Võ Thanh Dũng - Luận văn thạc sỹ kinh tế – 2007.
Luận văn nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu
giá trị sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch lao động làm cơ sở
để nhận dạng chuyển dịch cơ cấu lao động của quận Ô Môn giai đoạn 2000 –
2005, qua đó đề xuất các chiến lược chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý.
4


- Thực trạng cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động trong giai

Luận văn nghiên cứu thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành tại tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó, đánh giá quá trình chuyển dịch, rút rra kết
luận làm cơ sở đề xuất một số giải pháp có hiệu quả thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở Thái Bình trong giai đoạn
hiện nay – Phí Thị Hằng – Luận án Tiến sỹ kinh tế – 2014
Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCLĐ theo ngành ở tỉnh Thái Bình
trong thời gian qua và đề xuất một số định hướng, dự báo về chuyển dịch
CCLĐ theo ngành tại địa phương đến năm 2020 cùng các giải pháp thực hiện.
- Thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động vùng Đồng bằng
sông Hồng - Nguyễn Sinh Cúc - Tin tham khảo nội bộ kinh tế - xã hội. - 1995
- số 11 - Tr. 3-10.
Bài nêu những nguyên nhân, đặc điểm của quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động và đi theo nó là cơ cấu ngành nghề của các tỉnh Đồng bằng sông
Hồng từ năm 1989 trở lại đây và hiệu quả kinh tế - xã hội của nó.
- Thực trạng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
- Hoàng Kim Ngọc - Tạp chí Lao động và xã hội. - 2001 . - số 12 . - Tr. 42-44
Bài phân tích những đặc điểm chủ yếu về cơ cấu lao động theo ngành
kinh tế, vùng lãnh thổ và chất lượng của lao động nông nghiệp sau những
năm đổi mới; Phân tích xu hướng chung về chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn hiện nay và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian qua - Nguyễn Văn Khang
- Tạp chí Lao động và xã hội. - 2002 . - số 197 . - tr. 29-31, 35.

6


Bài viết xem xét tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam; Rút
ra một số nhận xét chung và những bài học rút ra từ việc chuyển dịch cơ cấu
lao động Việt Nam vừa qua

* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu lao động ở
huyện Thường Tín. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và những giải pháp có
tính khả thi nhằm đẩy nhanh chuyển dịch CCLĐ của huyện trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nội dung cơ bản chuyển dịch CCLĐ của huyện Thường Tín.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch CCLĐ của huyện Thường
Tín – Thành phố Hà Nội trong thời gian qua, tìm ra các nguyên nhân và
những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết trong thời gian tới.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình
chuyển dịch CCLĐ của huyện Thường Tín – Thành phố Hà Nội đến năm 2020.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Quá trình chuyển dịch CCLĐ trên địa bàn huyện Thường Tín – Thành
phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: huyện Thường Tín - Thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Từ năm 2010 cho tới nay (2015).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách
8


pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, nghị quyết về đẩy mạnh phát triển
kinh tế.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp: Phương pháp trừu tượng hóa khoa
học, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp điều tra

quan hệ tỷ lệ số lượng, chất lượng lao động giữa các ngành, lĩnh vực; mối
quan hệ giữa các phần tử, bộ phận lao động cấu thành tổng thể lao động trong
nền kinh tế quốc dân.
Phạm trù CCLĐ có những thuộc tính cơ bản, đó là tính khách quan,
tính lịch sử và tính xã hội:
Tính khách quan của CCLĐ bắt nguồn từ dân số và CCKT của một
quốc gia, của một địa phương, từ đó xác định CCLĐ xã hội. Ở nước ta, phần
lớn dân số sống ở nông thôn, kéo theo phần lớn lực lượng lao động là lao
động nông thôn, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nên lao động sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ lệ cao...
Tính lịch sử: CCLĐ xã hội là một chỉnh thể, tồn tại và vận động gắn liền
với phương thức sản xuất xã hội. Khi phương thức sản xuất xã hội có sự vận
động, biến đổi thì CCLĐ một quốc gia cũng có sự vận động, biến đổi theo.
Tính xã hội của CCLĐ: CCLĐ mang tính xã hội đậm nét và sâu sắc.
Quá trình phân công lao động xã hội phản ánh quá trình tiến hoá của lịch sử
xã hội loài người. Khi lực lượng sản xuất có sự phát triển và nhảy vọt lại đánh

10


dấu sự phân công lao động mới. Quá trình phát triển phân công lao động mới,
với CCLĐ mới phản ánh trình độ văn minh của xã hội. Xét về phương diện
sản xuất, CCLĐ phản ánh cơ cấu các giai tầng xã hội trong nền sản xuất xã
hội. Thông qua CCLĐ có thể nhận biết được hoạt động kinh tế của các giai
tầng xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển.
Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Trong những điều kiện nhất định, sự cải biến CCKT như là nhân tố kéo
theo sự cải biến CCLĐ. Trong môi trường của tiến bộ khoa học - công nghệ
nhanh chóng thì khoa học - công nghệ trở thành tác nhân dẫn đường cho sự ra
đời ngành nghề mới, làm thay đổi nhanh chóng CCKT. Các phát minh mới về

địa phương. Cũng như CCKT ngành, CCLĐ theo ngành, nghề là kết quả của sự
phát triển phân công lao động theo ngành nghề ở cả nước hay địa phương.
Nếu phân chia theo ngành kinh tế - kỹ thuật, CCLĐ bao gồm: lao động
nông nghiệp; lao động công nghiệp, xây dựng; lao động dịch vụ và lao
động ngành nghề khác. Trong nội bộ mỗi ngành, lao động lại được chia
thành những ngành hẹp hơn, như trong nông nghiệp có lao động trồng trọt,
lao động chăn nuôi; trong công nghiệp, xây dựng có lao động tiểu thủ công
nghiệp, lao động công nghiệp chế biến, lao động cơ khí; trong dịch vụ có
lao động thương nghiệp, lao động dịch vụ, tư vấn, lao động du lịch, lao động
tài chính, tín dụng…
Từ các ngành hẹp, lao động lại tiếp tục được phân chia thành các nghề
chuyên môn hẹp hơn nữa… và như vậy sẽ tạo nên một cơ cấu lao động ngành
nghề đa dạng với chuyên môn sâu. Đây là điều kiện cơ bản để phát triển kỹ
năng nghề nghiệp, nâng cao năng suất lao động của các ngành, nghề, tạo điều
kiện sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực lao động.
CCLĐ này dùng để đánh giá thực trạng phân bố, chuyển dịch CCLĐ
giữa các ngành hoặc nhóm ngành trên địa bàn tỉnh, thành phố, vùng, cả nước.
Đồng thời là căn cứ thực tiễn để nghiên cứu xây dựng các kế hoạch định
12


hướng và chương trình phát triển phù hợp với chiến lược phát triển riêng của
mỗi ngành, nghề.
CCLĐ theo thành phần kinh tế: là quan hệ tỷ lệ và xu hướng vận động,
phát triển của lực lượng lao động giữa các thành phần kinh tế. Sự tồn tại các
thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hiện nay, nước ta có 5 thành phần kinh tế:
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (bao gồm cá thể, tiểu chủ và
tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với

hiện CCLĐ theo ngành, nghề trên vùng lãnh thổ đó. Một cơ cấu lao động
theo vùng hợp lý là một điều kiện cơ bản để phát huy lợi thế so sánh của
từng vùng.
CCLĐ theo vùng lãnh thổ thường được dùng để đánh giá thực trạng
phân bố lao động xã hội về mặt không gian; xây dựng các chương trình, kế
hoạch định hướng vĩ mô phân bố lại lực lượng lao động xã hội, từng bước
cân đối hợp lý hơn giữa tiềm năng về đất đai, tài nguyên thiên nhiên trong
nội bộ từng địa phương cũng như giữa các vùng, tiểu vùng, giữa các khu vực
trên phạm vi cả nước.
CCLĐ theo trình độ chuyên môn, kỹ thuật: là quan hệ tỷ lệ và xu
hướng vận động giữa các loại lao động có trình độ chuyên môn - kỹ thuật
trong các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. CCLĐ theo trình độ
chuyên môn, kỹ thuật được phân ra như sau:
CCLĐ theo trình độ văn hoá: là tỷ lệ lao động tốt nghiệp tiểu học, lao
động tốt nghiệp trung học cơ sở, lao động tốt nghiệp trung học phổ thông, lao
động chưa biết đọc, chưa biết viết…
Cơ cấu theo trình độ chuyên môn - kỹ thuật thì lao động lại được chia
thành lao động có chuyên môn và lao động phổ thông. Trong đó, lao động
phổ thông là lao động chưa qua đào tạo với công cụ sản xuất thủ công, lạc
hậu, năng suất lao động thấp. Còn lao động có chuyên môn, kỹ thuật lại
14


phân chia thành lao động có trình độ công nhân kỹ thuật, lao động có trình
độ sơ cấp, lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp, lao động có trình
độ cao đẳng và đại học, lao động có trình độ trên đại học. CCLĐ theo trình
độ chuyên môn, kỹ thuật dùng để nghiên cứu, xác định, đánh giá đặc trưng
cơ bản về văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, tình trạng hoạt động của nguồn
nhân lực để đề ra hệ thống các giải pháp khả thi trong chiến lược phát triển,
bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu

nhân tố có tác động thúc đẩy CDCCKT và CDCCLĐ nhanh là phải chú ý phát
triển nguồn nhân lực.
Trong kinh tế học Mác xít, vấn đề CDCCLĐ chủ yếu được đề cập trong
hai học thuyết: học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái
sản xuất tư bản xã hội. Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, các
nhà kinh tế học Mác xít không chỉ nêu rõ những tiền đề vật chất mà còn
khẳng định vai trò quan trọng của môi trường thể chế đối với quá trình
CDCCLĐ. Những tiền đề vật chất được đề cập ở đây đó là sự tách rời giữa
thành thị và nông thôn, quy mô và mật độ của dân số, mức năng suất lao động
trong nông nghiệp.
Về nguyên tắc, mức năng suất lao động nói trên phải có khả năng đáp
ứng được đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Còn môi
trường thể chế đóng vai trò "bà đỡ" cho quá trình CDCCLĐ chính là sự phát
triển của cuộc cách mạng công nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Các Mác đã khẳng định rằng: "Cơ sở của mọi sự phân công lao động phát
triển và lấy sự trao đổi hàng hoá làm môi giới là sự tách rời giữa thành thị và
nông thôn" [26, tr.77].
Trong học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội, vấn đề CDCCLĐ được
các nhà kinh tế học Mác xít nghiên cứu thông qua quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế quốc dân; theo đó, như Lênin viết: "Sản xuất tư liệu sản
xuất để chế tạo tư liệu sản xuất phát triển nhanh nhất; sau đó đến sản xuất tư
liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của
sản xuất tư liệu tiêu dùng" [24, tr.98].
16


Do tốc độ phát triển khác nhau nên quy mô và trình độ sản xuất của
các ngành sẽ dần thay đổi, tạo ra sự CDCCKT ngành và CDCCLĐ. Tuy
nhiên, quá trình chuyển dịch nói trên chỉ có thể xảy ra khi nền sản xuất xã
hội đã phát triển tới một trình độ nhất định; trong đó những tiền đề vật chất

- Thực chất của CDCCLĐ là quá trình tổ chức và phân công lại lao
động, qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ trọng lao động giữa các ngành, vùng,
thành phần kinh tế.
Do đặc điểm của nguồn lao động Việt Nam, nên CDCCLĐ ở nước ta
chủ yếu theo hướng chuyển lao động nông nghiệp, nông thôn sang lao động
công nghiệp, dịch vụ ở các thành thị và khu công nghiệp cũng như ở ngay tại
khu vực nông thôn.
- Xu hướng CDCCLĐ là sự thay đổi, vận động của các hiện tượng, các
bộ phận cấu thành tổng thể lao động theo chiều hướng nhất định tương đối ổn
định trong một thời gian với những bối cảnh kinh tế xã hội nhất định. Có
những xu hướng chuyển dịch mang tính quy luật hoạt động cùng với sự phát
triển của xã hội, có những xu hướng vận động chỉ trong những giai đoạn lịch
sử mang tính nhất thời.
Thứ nhất, xu hướng CDCCLĐ gắn với xu hướng CDCCKT ngành. Đây là
xu hướng chuyển dịch quan trọng nhất và có thể được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu: lao động nông nghiệp từ chỗ chỉ tập trung vào độc
canh cây lúa là chính, chuyển sang sản xuất thâm canh tăng vụ và đa
dạng hoá cây trồng, vật nuôi, qua đó từng bước hình thành các vùng sản
xuất chuyên canh có tính quy mô lớn, hiện đại hoá. Quy mô và tốc độ
chuyển dịch lao động ở giai đoạn này phụ thuộc vào tốc độ tăng năng
suất lao động của ngành trồng cây lương thực và khả năng ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật mới vào trồng trọt và chăn nuôi.
Giai đoạn tiếp theo: khi lao động trong nông nghiệp đã có sự dư thừa cả về
tuyệt đối lẫn tương đối thì các ngành sản xuất phi nông nghiệp, như: công nghiệp
nông thôn; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ… sẽ được đầu tư phát
18


triển mạnh để thu hút lao động nông nghiệp; do vậy, tạo ra sự chuyển dịch lao
động từ hướng thuần nông sang cơ cấu lao động nông - công nghiệp - dịch vụ.

Thứ năm, xu hướng CDCCLĐ gắn với các thành phần kinh tế: đây là
động thái phản ánh việc phân bổ và tái phân bổ lại nguồn lực lao động giữa các
thành phần kinh tế. Về lâu dài, trong điều kiện có nhiều thành phần kinh tế
cùng tham gia vào phát triển kinh tế thì các xu hướng CDCCLĐ ở đây sẽ cho
biết tương quan tỷ lệ phân bố sức lao động giữa các thành phần kinh tế đó.
* Các giai đoạn chuyển dịch cơ cấu lao động
Theo quy luật chung thì các nước đều phải trải qua những giai đoạn
nhất định của CDCCLĐ, đó là:
CCLĐ của xã hội truyền thống: trong giai đoạn này có đặc trưng nông
nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu, do đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ
trọng đa số với lao động cơ bản làm bằng thủ công, năng suất lao động thấp.
CCLĐ của thời kỳ này mang nặng tính thuần nông.
CCLĐ của giai đoạn nền kinh tế chuẩn bị phát triển: ở đây nhiều ngành
kinh tế đã áp dụng thành tựu của khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng được
thiết lập nhanh chóng, các hoạt động đầu tư và thương mại tăng lên, nhiều
ngành nghề mới xuất hiện và phát triển… Do đó, CDCCKT và phân công lại
lao động có sự vận động tích cực, một bộ phận khá lớn lao động dần dần
chuyển sang các ngành, nghề phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch vụ…
CCLĐ của giai đoạn nền kinh tế phát triển: trong giai đoạn này, các
ngành công nghiệp và dịch vụ về quy mô và trình độ công nghệ, quản lý phát
triển với tốc độ nhanh. Ngành nông nghiệp được cơ giới hoá và có năng suất
lao động cao. Tốc độ chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành công
nghiệp và dịch vụ nhanh.
CCLĐ của giai đoạn nền kinh tế phát triển cao: ở giai đoạn này, thu
nhập của dân cư đạt mức rất cao, phát triển xã hội tiêu dùng, đa số lao động
nông nghiệp được chuyển nhanh sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Quá
trình đô thị hoá, CNH đạt được ở mức độ cao, đa số lao động trong nguồn
nhân lực có tay nghề và lao động chuyên môn, kỹ thuật cao.
20




tăng tỷ trọng giá trị của hàng hóa nông sản. Bên cạnh đó, CDCCLĐ góp phần
đắc lực cho phát triển công nghiệp và dịch vụ sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân sách.
CDCCLĐ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất cho
nhân dân. CDCCLĐ sẽ làm cho một bộ phận lao động nông nghiệp sang các
ngành, nghề khác, một mặt có điều kiện tăng quỹ đất canh tác cho số lao động
nông nghiệp còn lại, mặt khác có thể rút bớt một phần ruộng đất xây dựng các
khu công nghiệp, khu chế xuất; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và
đời sống. Sự phát triển của các cơ sở công nghiệp, các khu công nghiệp tập
trung ở nông thôn và vùng ven đô vừa có tác dụng giải quyết sức ép về môi
trường ở đô thị, tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm cho nông dân lại vừa đảm
bảo cho sự phát triển công nghiệp đồng đều giữa các địa phương.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn Thường Tín trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Quan niệm và mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu lao
động ở huyện Thường Tín
1.2.1.1. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động ở huyện Thường Tín
Từ quan niệm chung về CDCCLĐ của nền kinh tế đã trình bày ở trên,
với đặc điểm và những điều kiện cụ thể của địa phương, tác giả luận văn đưa
ra quan niệm của mình về CDCCLĐ ở huyện Thường Tín – Hà Nội như sau:
CDCCLĐ trên địa bàn huyện Thường Tín là quá trình vận động, biến
đổi về số lượng, quan hệ tỷ lệ và chất lượng lực lượng lao động trong các
ngành, các vùng, các thành phần kinh tế của huyện dựa trên việc tổ chức,
phân công lại lao động trong quá trình CNH – HĐH nhằm tạo ra một cơ cấu
lao động mới tiến bộ, hiện đại, năng động.
Theo quan niệm của tác giả luận văn, CDCCLĐ ở huyện Thường Tín
trước hết là kết quả của quá trình tổ chức và phân công lại lao động xã hội
dựa trên việc nhận thức và vận dụng các quy luật, các quá trình kinh tế khách

phần và tổ chức kinh tế.
23


Việc CDCCLĐ ở huyện Thường Tín ngoài những đòi hỏi chung như
các địa phương khác trong cả nước còn xuất phát từ những đặc điểm riêng và
yêu cầu của huyện:
Thứ nhất: Vị trí vai trò của huyện đối với sự phát triển của Thành phố
Thường Tín là huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, là một bộ phận
hợp thành của kinh tế Thủ đô, có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội của toàn thành phố
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả
nước. Do vậy, Hà Nội phải được xây dựng là một thành phố có kinh tế phát
triển, môi trường văn hóa, xã hội hiện đại mà vẫn mang đậm nét văn hóa dân
tộc. Để phát triển kinh tế, tạo tiềm lực phát triển văn hóa, xã hội của Thủ đô,
thì phát triển kinh tế của các huyện ngoại thành trong đó có Thường Tín là
một bộ phận không thể tách rời trong tổng thể nền kinh tế của Hà Nội. Một
nhân tố để phát triển mạnh về kinh tế là CDCCKT, trọng tâm là CDCCLĐ.
Thường Tín là địa phương có nhiều lợi thế để CDCCLĐ xét cả về điều kiện
địa lý tự nhiên, điều kiện xã hội và các yếu tố khoa học, công nghệ, thị
trường… so với các địa phương khác trong cả nước. Vì vậy, đẩy nhanh quá
trình CDCCLĐ, có hiệu quả cao là một nhiệm vụ quan trọng để góp phần
phát triển Thủ đô hiện đại văn minh, xứng đáng là trung tâm kinh tế, văn hóa,
chính trị của cả nước. Phải làm cho thu nhập của Thường Tín hằng năm mang
lại một giá trị GDP lớn, thậm chí còn mang về một lượng ngoại tệ xuất khẩu
không nhỏ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung của Thủ đô. Mặt khác,
kinh tế huyện Thường Tín phát triển cũng chính là tạo điều kiện mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành công nghiệp, dịch vụ của Thủ đô.
CDCCLĐ của huyện Thường Tín còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
cải tạo và bảo vệ môi trường tự nhiên cho Thủ đô. Thường Tín là huyện thuần

chất lượng cao, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Kết quả
của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện
đại hóa là tạo ra một nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, đáp ứng tốt quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước. Qua đó một bước nâng cao
khả năng cạnh tranh của lao động trong nước với lao động nước ngoài.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status