BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ
PHI NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN THƯỜNG
TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ
PHI NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN THƯỜNG
TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thương Mại, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ của phòng kinh tế huyện Thường Tín,
đã tận tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả
hoàn thành đề tài luận văn này.
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập và nghiên cứu nhưng luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm. Tác giả rất mong nhận được những
góp ý từ các nhà khoa học để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đề tài hơn nữa./.
Thường Tín, ngày……. tháng…….năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp trên địa bàn huyện...........................................................................23
Bảng 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín giai đoạn 2011 - 2015...................38
Bảng 2.2. GDP, giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởn kinh tế huyện Thường Tín
giai đoạn 2011 - 2015.............................................................................................40
Bảng 2.3. Tốc độ tăng trưởng trung bình các ngành huyện Thường Tín giai
đoạn 2011 - 2015....................................................................................................40
(Nguồn: Phòng Kinh tế huyện).............................................................................41
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín giai đoạn 2011-2015................41
Bảng 2.4. Cơ cấu làng nghề huyện Thường Tín năm 2015.................................43
Bảng 2.5. Cơ cấu làng nghề theo doanh thu giai đoạn 2011- 2015.....................45
Bảng 2.6. Số lượng lao động tại các làng nghề được đào tạo..............................45
giai đoạn 2011 - 2015.............................................................................................45
GTSX
HĐND
KCN
NSNN
NSTW
NTM
QLNN
Từ viết tắt
Cụm công nghiệp
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Giá trị sản xuất
Hội đồng nhân dân
Khu công nghiệp
Ngân sách nhà nước
Ngân sách Trung Ương
Nông thôn mới
Quản lý nhà nước
TW
UBND
Trung ương
Ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong hai thập kỷ vừa qua
quả, đầu tư còn phân tán, dàn trải nên kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng
được so với các yêu cầu đặt ra. Đồng thời quá trình tổ chức thực hiện chính sách
còn nhiều khó khăn, hạn chế và vướng mắc cần sớm được giải quyết.
Thường Tín là một huyện ven đô của thành phố Hà Nội, nổi tiếng với những
làng nghề truyền thống. Kinh tế phi nông nghiệp của huyện bao gồm tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ. Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chung của Đảng,
Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ và nhân dân Thường Tín luôn tích
cực trong triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế
địa phương trong đó ưu tiên phát triển kinh tế phi nông nghiệp. Huyện đã tiến hành
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ lệ nông nghiệp, tăng tỉ trọng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ, trong đó đặc biệt là
khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống để các hộ gia đình phát triển
kinh tế một cách hiệu quả và bền vững.
Tuy nhiên, thực tế quá trình thực hiện cho thấy hầu hết các xã đều chưa quan
tâm đúng mức đến việc triển khai các chính sách phát triển kinh tế phi nông nghiệp.
Các chính sách được áp dụng mang lại hiệu quả chưa cao, thu nhập và đời sống
nhân dân nhiều địa phương trên địa bàn huyện vẫn chưa được cải thiện. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy đã đúng hướng nhưng diễn ra còn chậm, phát triển
thiếu quy hoạch, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn còn manh mún,
hiệu quả thấp; việc khôi phục và phát triển lại các làng nghề truyền thống gặp nhiều
khó khăn, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ sản xuất còn hạn chế; vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động gặp khó khăn. Điều này dẫn đến kinh tế ở một số xã phát
triển chưa vững chắc, không có chiều sâu, chất lượng và hiệu quả chưa cao, quan hệ
hợp tác trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế... Từ đó, đặt ra yêu cầu cần phải làm
gì và làm như thế nào để áp dụng và thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển
kinh tế của địa phương? Đó là lý do cao học viên chọn vấn đề “Các giải pháp phát
triển ngành nghề phi nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
4
tế nông nghiệp theo ngành, cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ và cơ cấu theo
thành phần được làm rõ hơn về bản chất, đặc trưng và các nhân tố tác động đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt, những vấn đề thực tiễn của
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam sau hơn 15 năm đổi
mới được các tác giả nghiên cứu trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Trần Văn Nam (2011) “Giải pháp phát triển khu vực phi nông nghiệp ở tỉnh
Hà Nam trong giai đoạn 2003-2010”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân. Tác giả Trần Văn Nam đã có những cái nhìn cụ thể về khu vực
kinh tế phi nông nghiệp dựa theo việc phân chia các ngành nghề kinh tế theo khu
vực Công nghiệp nông thôn và Thương mại- dịch vụ nông thôn. Bên cạnh đó tác giả
đã đề xuất các giải pháp cho từng khu vực.
- Bùi Quang Cường (2010), “Những giải pháp chủ yếu phát triển tiểu thủ
công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Để đi sâu phân tích những hạn chế trong công tác
phát triển tiểu thủ công nghiệp, tác giả đã đưa ra hệ thống lý luận rất khoa học, phân
tích chi tiết các tác động đến hoạt động phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh.
- Vương Thị Ngọc (2011) “Phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn
huyện Gia Bình- Tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện nông nghiệp
Hà Nội. Tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển của các làng nghề truyền
thống trên địa bàn huyện Gia Bình- Tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất những giải pháp cụ thể
trong phát triển làng nghề truyền thống, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra các giải pháp
mang tính chất lâu dài như: thị trường, vấn đề môi trường…
Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn nhiều công trình nghiên
cứu của các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ,
luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho phát triển các ngành nghề kinh tế phi
nông nghiệp ở nông thôn nước ta. Qua đó khẳng định việc phát triển các ngành
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp phát triển các ngành nghề
phi nông nghiệp từ góc độ quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Thường Tín.
Phạm vi nghiên cứu:
6
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển
các ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Trong đó,
chủ thể quản lý là UBND huyện, khách thể là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia
đình tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các ngành
nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các ngành nghề
phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2011 2015; mục tiêu, phương hướng và đề xuất giải pháp giai đoạn từ nay đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập từ các nguồn sau: Các báo cáo về tình
hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, các hộ sản xuất và làng
nghề… trên địa bàn huyện Thường Tín; Niên giám thống kê thành phố Hà Nội; Các
đề tài, báo cáo khoa học liên quan; Các bài báo, tạp chí đánh giá của các chuyên
gia; Các văn bản quy định, nghị định của các cơ quan nhà nước về phát triển các
ngành nghề phi nông nghiệp.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
+ Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học.
+ Đề tài đã tiến hành điều tra phỏng vấn nhằm tìm hiểu về thực trạng triển
khai các chính sách phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín. Đề
tài phát ra 90 phiếu điều tra và phỏng vấn hướng tới các đối tượng là nhà quản lý,
doanh nghiệp, các hộ sản xuất trên địa bàn huyện Thường Tín.
- Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp thống kê: Qua các số liệu thu thập được từ các nguồn kể trên,
VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ PHI NÔNG NGHỆP TỪ GÓC ĐỘ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
1.1. Kinh tế phi nông nghiệp, các ngành nghề phi nông
nghiệp và tầm quan trọng của các ngành nghề phi nông
nghiệp trong phát triển kinh tế nông thôn
1.1.1. Kinh tế phi nông nghiệp
1.1.1.1. Phân định khái niệm kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông nghiệp
a) Khái niệm kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư thì: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản
của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật
nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và
một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao
gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng,
còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”[1].
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào
tự nhiên. Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ
mặt trời... trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông
nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản
xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở
nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán... đã có
từ hàng nghìn năm nay và gắn chặt với khu vực nông thôn hay kinh tế nông thôn .
Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở khu vực nông thôn đã làm nảy sinh yêu cầu phát triển khu vực kinh tế
phi nông nghiệp, chính vì thế khái niệm kinh tế phi nông nghiệp ra đời.
9
Thực tế hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn, đây là một vấn đề phức tạp. Tuy
10
đầu vào là các loại cây trồng, vật nuôi và được làm ở quy mô nhỏ sử dụng lao động
nông nhàn là chính đôi khi được xem là hoạt động phi nông nghiệp.
Theo Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Chính phủ Việt Nam ban hành
ngày 24/11/2000 về Phát triển hoạt động phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn có
xác định rằng: “Các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn được coi là tất cả các
hoạt động công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp nhỏ và vừa, các dịch vụ sản
xuất và đời sống được thực hiện ở khu vực nông thôn, sử dụng các nguồn lực tại
địa phương (lao động, đất đai, nguyên vật liệu) và có liên hệ mật thiết với việc phát
triển đời sống nông thôn”.
Trong phân định hoạt động phi nông nghiệp, các nhà kinh tế phân hoạt động
phi nông nghiệp thành hoạt động phi nông nghiệp do áp lực thu nhập và hoạt động
phi nông nghiệp do áp lực nhu cầu thị trường theo đó:
- Hoạt động phi nông nghiệp do áp lực thu nhập được xuất phát là do thiếu hụt
thu nhập và người nông dân cố gắng tranh thủ thời gian nhàn rỗi để sản xuất các vật
phẩm phi nông nghiệp mà không biết thị trường có chấp nhận hay không.
- Hoạt động phi nông nghiệp do nhu cầu thị trường là hoạt động bắt đầu từ các
tín hiệu thị trường, người nông dân bắt đầu chú ý tới việc sản xuất những sản phẩm
mà thị trường cần hoặc thiếu. Hoạt động này thể hiện trình độ kinh doanh cao hơn
hoạt động phi nông nghiệp do áp lực của thu nhập.
Khái niệm trên đây tuy đã xác định rõ bản chất của các hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp, nhưng trên thực tế khi xác định một đối tượng thuộc hoạt động nông
nghiệp hoặc phi nông nghiệp cũng có nhiều khó khăn. Nhiều lao động tham gia
đồng thời vào nhiều hoạt động khác nhau, vừa làm nông nghiệp và làm tiểu thủ
công nghiệp, vừa làm nông nghiệp vừa đi làm thuê, buôn bán, hoặc trong thời gian
này làm nông nghiệp, nhưng thời gian khác lại đi buôn bán hoặc làm thuê…
b) Quan hệ giữa kinh tế phi nông nghiệp và nông nghiệp
Có thể nói, ranh giới giữa hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và hoạt động
kinh tế nông nghiệp là tương đối khó xác định. Để làm rõ mức độ phát triển của
hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn, các nhà kinh tế khi phân tích hoạt động
Tại khu vực nông thôn việc vừa tham gia vào hoạt động nông nghiệp, đồng
thời tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp (Ví dụ: Một gia đình tham gia sản xuất
nông nghiệp thông qua hoạt động trồng trọt, đồng thời gia đình này đầu tư xây dựng
xưởng chế biến nông sản sạch và sử dụng đầu vào chủ yếu là nông sản của gia đình,
sau khi kinh doanh có lãi, gia đình tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp để tạo
ra nhiều nguyên liệu cho xưởng chế biến của gia đình). Điều này cho thấy việc tích
12
lũy vốn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể được đầu tư vào các hoạt động
phi nông nghiệp và ngược lại. Đối với lao động tại nông thôn thường bị ảnh hưởng
bởi tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp nên vào ngày mùa họ sẽ tập trung vào
sản xuất nông nghiệp và lúc nông nhàn thì họ sẽ tham gia vào các hoạt động sản
xuất phi nông nghiệp.
- Mối quan hệ về đầu tư. Tại nông thôn việc đầu tư hoàn toàn vào sản xuất
nông nghiệp sẽ gặp rất nhiều rủi ro do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phụ
thuộc vào khí hậu, thời tiết và có tính mùa vụ tập trung nên việc phát triển các hoạt
động phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn sẽ giúp người nông dân chia sẻ nguồn
lực và phân công lao động rõ ràng hơn.
1.1.1.2. Đặc điểm của kinh tế phi nông nghiệp
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với địa bàn nông thôn. Do
đó, việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp phải mang tính toàn diện là tiền
đề cho các hoạt động nông nghiệp phát triển.
- Các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp phát triển rất đa dạng và phong phú
về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại và dịch vụ nông thôn
- Các ngành nghề phi nông nghiệp thường hoạt động đan xen lẫn nhau, bổ trợ
cho nhau và cùng nhau phát triển. Hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các ngành
sản xuất nông nghiệp và trong ngành dịch vụ như: sản xuất hàng kim khí, sản xuất
hàng tiêu dùng, dệt may, thêu đan... Trong dịch vụ nông nghiệp có dịch vụ cung ứng
yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm
nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về
kinh tế, xã hội và văn hóa. Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề
thủ công. Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người
thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu
chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống
ngay tại làng quê của mình.
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định
nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền
thống thì: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
14
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt
động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác
nhau”.
Làng nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ
công vẫn là chính, mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa.
Trong các làng nghề không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có
những cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm
làng nghề.
Có hai cách phân loại làng nghề phổ biến:
(1) Phân loại theo số lượng làng nghề:
- Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một
nghề thủ công duy nhất;
- Làng nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc
nhiều nghề khác.
(2) Phân loại theo tính chất nghề:
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử
xuất và đời sống dân cư nông thôn, nông lâm thủy sản. Các hoạt động này có thể do
các hộ gia đình, cá nhân, các tổ, nhóm hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,… thực hiện.
1.1.2.2. Các hình thức tham dự trong khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Xét theo khía cạnh sở hữu, tham gia vào khu vực kinh tế phi nông nghiệp bao
gồm các hình thức cơ bản sau:
- Hộ gia đình: Loại hình sản xuất kinh doanh qui mô nhỏ với lực lượng lao
động gia đình, dưới sự chỉ huy điều hành của chủ gia đình, tiến hành sản xuất, kinh
doanh tại địa phương thôn, xã là chủ yếu như hộ tiểu thương, hộ bán hàng cơm, hộ
bán giải khát, hộ may đo, hộ vận tải, hộ cày thuê và bơm nước thuê.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh
trong lĩnh vực công nghiệp dịch vụ, cung ứng kỹ thuật công nghệ, các xưởng sữa
chữa máy móc, nông cụ, xưởng chế biến nông sản, hiệu ăn, hiệu giải khát, hiệu tạp
hoá của tư nhân hoạt động dịch vụ cho cả vùng nông thôn lớn và thường tập trung ở
16
các thị trấn. Các doanh nghiệp tư nhân này ngoài lao động gia đình còn thuê mướn
một số lượng nhân công lao động lành nghề. Quy mô của mỗi doanh nghiệp lớn hay
nhỏ phụ thuộc vào địa bàn sản xuất kinh doanh rộng hay hẹp, khối lượng dịch vụ
nhiều hay ít, tập trung hay rải rác.
- Doanh nghiệp nhà nước ở nông thôn: Bao gồm các doanh nghiệp cơ sở, các
công ty, các liên hợp thuộc sở hữu nhà nước, tổ chức và hoạt động theo quy định
của Nhà nước. Các doanh nghiệp này hoạt động theo sự chỉ đạo của Nhà nước
nhằm cung cấp kịp thời các dịch vụ cần thiết cho các đối tượng có nhu cầu với sự
đảm bảo về chất lượng và giá cả.
- Tổ hợp tác và hợp tác xã: Là hình thức liên kết sản xuất - kinh doanh của các
hộ gia đình và các hộ sản xuất với qui mô khác nhau. Tổ hợp tác là hình thức liên
kết dịch vụ của nhiều hộ hoạt đông theo nguyên tắc hiệp thương, hình thức này giúp
cho các xã viên có thể yên tâm sản xuất kinh doanh hay vay vốn mở rộng sản xuất.
thôn đã vượt ra khỏi phạm vi nông thôn và ảnh hưởng rất rõ đến vùng đô thị, gây ra
nhiều vấn đề mà bản thân đô thị không thể tự giải quyết được nếu không bắt đầu
bằng việc phát triển sản xuất, giải quyết việc làm tại nông thôn.
Tạo công ăn việc làm cho lao động tại chỗ trong khu vực nông thôn đang dư
thừa lớn hiện nay và sẽ còn tăng thêm trong tương lai. Phát triển mạng lưới công
nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn có khả năng chuyển lao động dư thừa từ
nông nghiệp sang, góp phần phân công lại lao động hợp lý trong nông thôn. Đây là
xu hướng hợp quy luật, có điều kiện thực hiện đối với nông thôn nước ta (bởi vì
công nghiệp thành thị ngày càng được mở rộng nhưng vẫn phải thu hút lao động
thất nghiệp tại chỗ là chính). Đây cũng là con đường hiệu quả nhất để từng bước đô
thị hoá nông thôn, hạn chế sự di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, góp phần ổn
định kinh tế xã hội cả nước.
Cùng với khả năng tạo việc làm, phát triển công nghiệp nông thôn và dịch vụ
nông thôn là biện pháp chủ yếu để nâng cao thu nhập, tăng mức sống mọi mặt của
đông đảo dân cư nông thôn.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn theo hướng công
nghiệp hiện đại
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp ra đời đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn. Có thể khẳng định sự thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn bắt đầu từ khi xuất
hiện các nghề thủ công độc lập. Trong quá trình vận động của kinh tế nông nghiệp
nông thôn, khu vực phi nông nghiệp ra đời với nhiều ngành nghề có quy mô và
18
nhiều loại hình sản phẩm khác nhau, đã bổ sung và hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp
có năng suất và hiệu quả hơn, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông
nghiệp.
Sự ra đời của khu vực kinh tế phi nông nghiệp làm cho cơ cấu kinh tế nông
thôn chuyển dịch theo các bước: chuyển biến cơ cấu trong nội bộ ngành nông
nghiệp, tạo nền nông nghiệp đa dạng, phong phú và có hiệu quả. Công nghiệp nông