BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------------
TẠ THỊ VÂN ANH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM NHẬN CÁI ĐẸP
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “LÃO HẠC” CỦA
NAM CAO Ở TRƯỜNG THCS
Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VIẾT CHỮ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Hà nội, ngày 10 tháng 05 năm 2017
Tác giả
Tạ Thị Vân Anh
6. Giới hạn của đề tài ........................................................................................ 8
7. Giả thuyết khoa học của luận văn ................................................................. 8
8. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 8
9. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ..................................... 10
1.1. Cảm thụ văn học - vấn đề cơ bản của hoạt động tiếp nhận văn học . 10
1.1.1. Khái niệm cảm thụ thẩm mỹ và ý thức thẩm mỹ ............................... 10
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cảm thụ nghệ thuật nói chung và cảm
thụ văn học nói riêng................................................................................... 12
1.1.3. Những thành tựu nghiên cứu lí luận cảm thụ văn học và cảm thụ
văn chương .................................................................................................. 13
1.1.4. Cảm nhận cái đẹp trong nghệ thuật và cảm nhận cái đẹp trong
dạy học tác phẩm văn chương .................................................................... 15
1.1.5. Cảm nhận cái đẹp trong dạy học truyện ngắn của Nam Cao........... 15
1.2. Cảm thụ văn học với việc cảm nhận cái đẹp trong dạy học tác
phẩm văn chương .......................................................................................... 20
1.2.1. Cảm thụ văn học - một khâu thiết yếu của việc dạy học văn ............ 26
1.2.2. Phát triển năng lực cảm nhận cái đẹp trong dạy học “Lão Hạc”
là một vấn đề bức thiết ................................................................................ 27
1.2.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh THCS trong dạy học truyện ngắn
“Lão Hạc” ................................................................................................... 29
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 41
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM NHẬN
CÁI ĐẸP TRONG DẠY HỌC “LÃO HẠC” CỦA NAM CAO Ở LỚP
8 THCS ........................................................................................................... 42
2.1. Những định hướng cần thiết để phát triển năng lực dạy học cảm
nhận cái đẹp trong dạy học truyện ngắn Lão Hạc ..................................... 42
2.1.1. Bám sát đặc trưng thi pháp thể loại truyện ngắn của Nam Cao về
3.4.1. Biện pháp đánh giá ........................................................................... 90
3.4.2. Hướng đánh giá ................................................................................ 91
3.4.3. Kết quả thực nghiệm và nhận xét đánh giá....................................... 92
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 98
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BP
: Biện pháp
DH
: Dạy học
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
PP
: Phương pháp
được coi là đối tượng tiếp thu của GV. Nhiệm vụ và chức năng chủ yếu của
người học là nghe và ghi chép những gì GV đã khám phá, phân tích trên tác
phẩm, sau đó đến lớp trình diễn lại một cách có nghệ thuật. Vai trò quan trọng
của chủ thể người học đã bị hạ thấp trở thành thụ động, lệ thuộc vào GV.
1.4. Sự sáng tạo bạn đọc, phát huy chủ thể HS là nguyên tắc mới nhất
trong đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Trong tiếp nhận, sáng tạo với bộ môn
nghệ thuật thì phát triển năng lực cảm nhận cái đẹp là trọng tâm. Mọi chức
năng khác đều phải qua chức năng giải trí thẩm mĩ.
1.5. Nam Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn xuất sắc của
văn học Việt Nam thế kỷ XX. Các sáng tác của ông trước 1945 đã đóng góp
1
không nhỏ vào sự phát triển của văn xuôi trên các phương diện: khả năng
miêu tả và phân tích tâm lý, khả năng sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật... Đặc
biệt, nhà văn được khẳng định là lá cờ đầu của chủ nghĩa nhân đạo trong Trào
lưu văn học Hiện thực phê phán 1930 - 1945.
1.6. Các tác phẩm của nhà văn Nam Cao thường đa nghĩa, đa chức
năng và giàu triết lý nhân sinh. Cái đẹp, cái bi, cái hài đan xen làm nổi rõ tính
thẩm mĩ với những giá trị sâu sắc. Tác phẩm “Lão Hạc” được sáng tác năm
1943 là truyện ngắn đặc sắc được coi là truyện ngắn hiện thực trong trào lưu
hiện thực phê phán của thời kì 1930 - 1945. Đây là tác phẩm chứa chan tình
người lay động đến cõi thâm sâu của tâm hồn. Câu chuyện về số phận thê
thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và
cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả.
1.7. Tác phẩm “Lão Hạc” đã được đưa vào nhà trường, giảng dạy trong
nhiều thập kỷ. Đã có nhiều cách dạy, cách khai thác các khía cạnh của tác
phẩm, đã khai thác nhiều về cái đẹp trong tác phẩm. Nhưng khai thác bằng
phát triển năng lực là chưa nhiều vì vậy việc dạy học tác phẩm “Lão Hạc” vẫn
nhân dân ra đời, việc DH văn thoát khỏi hạn chế của lối áp đặt lệ thuộc vào
chính sách thuộc địa của ngoại bang. Từ đây, chúng ta từng bước xây dựng
một chương trình văn học và cách dạy học tiến bộ. Trong thời kì đầu của nền
giáo dục mới, một mặt nhờ tiếp thu kinh nghiệm, hiểu biết của lớp người đi
trước, mặt khác bằng sự nổ lực học hỏi, sáng tạo theo tinh thần học thuật
Cách mạng, người dạy văn đã nhận ra phương hướng tìm hiểu, phân tích bài
văn dựa trên đặc trưng của nội dung và nghệ thuật, dù còn những lúng túng,
vấp váp dễ thấy. Tới khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,
trong điều kiện hoà bình, nhất là khi biên giới phía Bắc được khai thông, miền
Bắc nước ta nối giao lưu với các nước trong phe XHCN, chúng ta có cơ hội
tiếp xúc với nguồn tài liệu mới liên quan tới DH văn. Chính vì thế, dần dần,
việc DH văn được đặt trên nền tảng khoa học và sư phạm tương đối vững
chắc, hợp lí. Trong bối cảnh đó, bộ môn “Phương pháp dạy học văn” hình
3
thành, tạo cơ sở cho việc giảng dạy tác phẩm văn chương đi theo theo quỹ đạo
của một môn học vừa là nghệ thuật lại vừa là khoa học. Từ đó, việc DH văn
đã chú trọng nhiều tới các trạng thái cảm xúc, rung động, nhập thân và nắm
kiến thức. Ở giai đoạn này, nhờ kinh nghiệm và sự hướng dẫn của của các nhà
giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu qua các tài liệu đã xuất bản, người GV văn học
có được những hiểu biết cần thiết làm cơ sở cho việc giảng dạy bộ môn. Dẫu
sao, phần lớn nguồn kiến thức khoa học về hoạt động DH văn nói đó vẫn là
tài liệu dịch của nước ngoài, chủ yếu là của Liên Xô. Có thể kể tới: “Cảm thụ
văn học của học sinh” của O.L.Nhikiphôrôva (1959); “Cảm thụ nghệ thuật”
của B.X.Mailax (1971) và một số công trình liên quan đến vấn đề cảm thụ của
những nhà lí luận tên tuổi như Khravchenco, Iakovson, Nhikônxki,
Z.Ia.Rez… Do điều kiện lịch sử, dễ thấy một thời gian dài, người DH văn bị
gò bó trong lối dạy học theo kiểu lệ thuộc vào sách hướng dẫn và các tài liệu
của bạn đọc đối với tác phẩm, tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng tạo
của tiếp nhận và những khái quát về đặc điểm cũng như tiêu chí phát triển văn
học ở bạn đọc… Đó cũng là những tiền đề cho việc đổi mới PP DH văn theo
hướng coi HS là bạn đọc, là chủ thể sáng tạo. Đến khi cuộc đổi mới tiến triển,
nhờ đổi mới tư duy lí luận, nhiều vấn đề học thuật và sư phạm được xới lên
với những quan điểm mới mẻ. Đây cũng là giai đoạn việc đổi mới việc dạy
học văn được tiến hành sâu rộng. Trong bước triển khai thay sách giáo khoa
(SGK) văn học ở bậc trung học cơ sở (THCS) (1986) và THPT (1991), vấn đề
DH văn theo đúng đặc trưng môn học được lí giải sâu sắc qua các tài liệu bồi
dưỡng cũng như sách tham khảo cho GV. Việc trao đổi, thảo luận về hoạt
động DH văn diễn ra sôi nổi. Vấn đề cảm thụ nghệ thuật trong quá trình DH
văn được đặt vào trọng tâm chú ý. Có thể kể tới những đóng góp của Nguyễn
Duy Bình (Dạy văn là dạy cái hay cái đẹp), Nguyễn Đức Nam (Hiểu văn),
Hoàng Ngọc Hiến (Dạy văn, Học văn), Phan Trọng Luận (Cảm thụ văn học
và giảng dạy văn học), Hồ Ngọc Đại (Văn là gì ư?). Các ý kiến trao đổi, thảo
luận tại Diễn đàn cải cách việc DH văn đều thống nhất ở quan niệm về bản
chất môn văn là môn nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy DH văn phải biết cách huy
5
động năng lực cảm thụ của người đọc HS. Cách DH văn do đó có nhiều thay
đổi căn bản. Tuy nhiên, trong khi nhấn mạnh đến đặc trưng của văn chương,
nêu ra yêu cầu của dạy văn là hướng tới sự rung cảm, cảm xúc thì cũng có xu
hướng thoát li khỏi những yêu cầu khác của giờ văn, đặt trọng tâm của dạy
văn vào quỹ đạo khơi gợi cảm xúc rung động. Vì vậy PP đọc sáng tạo được
xem là PP chủ yếu và dạy văn chỉ sử dụng độc một PP. Dần dần, thực tiễn DH
văn đã cho thấy sự ấu trĩ của cách dạy văn nói đó và có sự điều chỉnh cho phù
hợp. Dù sao, cũng cần thấy nhận thức mới đã có một sự chuyển biến mạnh mẽ
trong quan điểm DH văn. Và tới nay, sau chặng đường 20 năm cải cách DH
- Những biện pháp phát huy năng lực cảm nhận cái đẹp trong tác phẩm
“Lão Hạc”.
Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận chủ yếu về vấn đề cảm nhận vẻ
đẹp văn học, đồng thời nhận định và nắm bắt thái độ tâm lý của HS và tìm
hiểu truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao để triển khai những BP phát huy
năng lực cảm nhận cái đẹp trong tác phẩm “Lão Hạc” của các em một cách có
hiệu quả.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
4.1.1. Để góp phần giải quyết khó khăn trong dạy học.
4.1.2. Đề tài nhằm góp phần khẳng định tính thực thi của việc nâng cao
năng lực cảm nhận vẻ đẹp văn học của HS trong giờ dạy học văn.
4.1.3. Tìm ra những BP phát huy năng lực cảm nhận cái đẹp của HS
trong DH truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao ở trường THCS.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Nghiên cứu những tri thức lí luận về cảm nhận văn học và thực
trạng DH văn học ở trường THCS.
4.2.2. Tìm hiểu những vẻ đẹp trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao.
4.2.3. Tìm ra những BP phát triển năng lực cảm nhận cái đẹp của HS
trong DH truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và thực nghiệm trong
chương trình giảng dạy.
7
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn.
5.2. Phương pháp thực nghiệm.
5.3. Phương pháp thống kê.
5.4. Phương pháp đối chứng, so sánh sau thực nghiệm.
6. Giới hạn của đề tài
dạy học “Lão Hạc” của Nam Cao ở lớp 8 THCS.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cảm thụ văn học - vấn đề cơ bản của hoạt động tiếp nhận văn học
1.1.1. Khái niệm cảm thụ thẩm mỹ và ý thức thẩm mỹ
1.1.1.1. Khái niệm cảm thụ thẩm mỹ
Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp
Cảm thụ theo nghĩa từ nguyên là “nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính
tinh vi”. Như vậy, cảm thụ là một hiện tượng gắn với hoạt động tâm lí nhận thức.
Nhờ có các giác quan mà ta có những nhận biết về hiện thực khách quan.
Cảm thụ thẩm mỹ có thể hiểu là hiểu biết thưởng thức cái đẹp bằng
cảm tính tinh vi.
1.1.1.2. Khái niệm ý thức thẩm mĩ
Ý thức thẩm mĩ là một hình thái ý thức xã hội. Ý thức đó phản ánh
quan hệ thẩm mĩ giữa con người và hiện thực.
Con người khác loài vật chính là ở năng lực ý thức. L. Pascal nói: “Con
người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ”. Ý thức con người
là sự tổng hợp hữu cơ giữa nhiều hình thái khác nhau, trong đó có hình thái
đặc thù là ý thức thẩm mỹ. Vậy, ý thức thẩm mỹ là một bộ phận của ý thức xã
hội được biểu hiện dưới hình thức trực tiếp, cảm tính.
Đã tồn tại hai quan niệm đối lập nhau về bản chất của ý thức thẩm mỹ
trong lịch sử mỹ học.
- Quan niệm có tính bản thể luận xem ý thức thẩm mỹ chính là sự phản
ánh bản thân thể hiện bằng những nguyên tắc đặc thù.
- Quan niệm có tính nhận thức luận xem ý thức thẩm mỹ như là một
phẩm chất thuần túy thuộc đời sống tinh thần của con người chủ yếu được
sử được vận dụng cho các hình thức ý thức nói chung đều được vận dụng cho
ý thức thẩm mĩ. Như mọi hiện tượng ý thức khác, ý thức thẩm mĩ nảy sinh,
hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn đời sống xã hội.
11
- Ý thức thẩm mĩ của con người nảy sinh trong lao động và phát triển
trong sự gắn bó với lao động.
- Ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, ý thức thẩm mĩ cũng nằm
trong quy luật chung đó.
- Ý thức xã hội không chỉ phản ánh thế giới mà còn cải tạo thế giới, ý
thức thẩm mĩ cũng nằm trong quy luật đó.
- Ý thức thẩm mĩ có hình thức tư duy đặc thù, đó là tư duy hình tượng.
Ý thức thẩm mĩ nảy sinh, hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn đời sống
xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cảm thụ nghệ thuật nói chung và cảm thụ
văn học nói riêng
Mỗi tác phẩm hay mỗi hình tượng nghệ thuật đều là kết quả của một
quá trình chiêm nghiệm và khái quát thực tiễn của người nghệ sỹ. Quá trình
đó phải được đúc kết từ kinh nghiệm, vốn sống, lí tưởng thẩm mỹ, năng lực
khái quát, tưởng tượng… để tiếp nhận một đối tượng thẩm mỹ, biến nó
thành sản phẩm tinh thần của mình. Nói một cách khái quát, tác phẩm văn
học chứa đựng cái khách quan phản ánh và cái chủ quan biểu hiện của nhà
văn. Vì vậy mà nó được xem là một đối tượng nhận thức đặc biệt, chi phối
đặc điểm của hoạt động cảm thụ nghệ thuật. Trước tiên, có thể nói hoạt
động cảm thụ nghệ thuật mang tính chủ quan, cảm tính đậm nét. Thế giới
trong tác phẩm bao giờ cũng vô cùng rộng lớn cho những suy tư và tưởng
tượng của mọi người. Trong cảm thụ nghệ thuật, yếu tố chủ quan cảm tính
đó càng biểu lộ qua nhiều khía cạnh khác nhau. Khía cạnh được biểu lộ rõ
nhà văn phải hòa cái chủ quan của mình vào cái chung rộng lớn của mọi
người thì mới có sức thuyết phục, lôi cuốn người đọc. Và đến lượt người đọc
cũng phải vượt qua cái chủ quan của mình thì mới cảm thụ hết cái hay, cái
đẹp của tác phẩm.
1.1.3. Những thành tựu nghiên cứu lí luận cảm thụ văn học và cảm thụ
13
văn chương
Tác phẩm văn học được sáng tác ra là nhằm để thưởng thức và tiếp
nhận. Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn: hoạt động
sáng tác và hoạt động cảm thụ, thì bản thân sự cảm thụ đã hàm chứa một nửa
lí luận văn học. Chính vì thế, việc nghiên cứu lí luận cảm thụ văn học cần
phải được tiến hành song song với việc nghiên cứu quá trình sáng tác văn học.
Từ thế kỉ I trước CN, lí luận tiếp nhận văn học đã hình thành hai quan niệm:
Tri âm và kí thác. Quan niệm tri âm cho rằng nhiệm vụ tiếp nhận là cảm và
hiểu cuộc sống được gợi lên trong tác phẩm như chính tác giả, chẳng hạn như
câu chuyện của Bá Nha - Tử Kỳ. Còn quan niệm kí thác thì xem tác phẩm
như là nơi gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình. Như vậy, trên thực tế, cùng
với sự xuất hiện của ý thức văn học, cũng xuất hiện ý thức về tiếp nhận, về
cảm thụ văn học. Tuy nhiên, lí luận này chủ yếu chỉ quan tâm tới sự gặp gỡ
của chủ thể cá nhân tác giả và người đọc, mà chưa quan tâm tới tính qui định
văn hóa lịch sử đối với sự gặp gỡ đó. Trong thế kỉ XX, khoa xã hội học về
văn học và lí luận tiếp nhận văn học đã hình thành và phát triển một cách có
hệ thống để trở thành hướng nghiên cứu có triển vọng. Nhiều tên tuổi trong
nghiên cứu văn học đã đi theo hướng này là: Q.D.Leavis, Doulas Waples,
Robert Estarpit, Hans Rober Jauss… Năm 1967, H.R.Jauss, một trong những
đại biểu xuất sắc của trường phái Constance, đã mở rộng, bổ sung cho lí luận
trên thêm bình diện xã hội học và văn hóa lịch sử. Ông nêu ra vấn đề lịch sử
Cái đẹp gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật. Nhưng đây là hai phạm trù
hoàn toàn khác nhau.
Cái đẹp là phạm trù chỉ những giá trị thẩm mĩ khắp mọi nơi: trong thiên
nhiên, xã hội và trong nghệ thuật. Cái đẹp tổng thể bao gồm: cái đẹp bên
trong và bên ngoài. Là phạm trù trung tâm và cơ bản của mĩ học. Nguồn gốc
cơ sở đánh giá, có liên quan mật thiết với khái niệm hài hòa. Sự thống nhất
biện chứng giữa các yếu tố tạo nên sự vật, mang lại cảm giác thăng bằng,
hoàn thiện.
15
Nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù của con người. Nghệ thuật
không chỉ gắn liền với cái đẹp mà còn là nơi gửi gắm tâm sự, suy tưởng về
cuộc đời. Chính vì vậy, nghệ thuật có nhiều chức năng khác nhau: giáo dục,
nhận thức, thông báo, giao tiếp, giải trí, thẩm mỹ...Cái đẹp là một phương
diện không thể thiếu của nghệ thuật.
Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của mọi cái đẹp (của cả tự nhiên và xã
hội) mà chủ thể nghệ sĩ đã kết tinh lại bằng sáng tạo độc đáo của mình, đồng thời
đem cống hiến trong xã hội cho sự toàn vẹn, hoàn mỹ. Chính bởi thế cái đẹp
nghệ thuật bao gồm cả cái đẹp trong đời sống xã hội và trong tự nhiên.
Vẻ đẹp đời sống muôn hình vạn trạng. Đó là cái đẹp trong thiên nhiên,
trong xã hội và bản thân chủ nhân của thiên nhiên, xã hội – con người. Tất cả
vẻ đẹp của thiên nhiên, xã hội và con người được tập trung trong nghệ thuật –
nơi hội tụ của cái đẹp. Đã đành ở đâu và trong bất cứ lĩnh vực nào, con người
cũng mong muốn “sáng tạo theo quy luật của cái đẹp”. Song chỉ trong nghệ
thuật, con người mới có dịp tiếp xúc với cái đẹp rõ rệt và thường xuyên hơn
cả. Vì đây là một lĩnh vực sản sinh ra cái đẹp một cách có ý thức nhất, chuyên
biệt nhất. Cái đẹp trong tác phẩm nghệ thuật mang vẻ hoàn thiện, đẹp cả về
nội dung lẫn hình thức. Trong nội dung tác phẩm, dễ thấy hơn là đối tượng
toàn tách biệt chúng, không thấy mối liên hệ giữa chúng.
1.1.4.2. Cảm nhận cái đẹp trong dạy học tác phẩm văn chương
Cảm nhận cái đẹp trong văn chương cũng là một hoạt động cảm nhận
cái đẹp trong trong nghệ thuật.
Văn chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật - nghệ
thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình
tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Khái niệm văn chương và văn
học thường bị dùng lẫn lộn. Văn học là khoa học nghiên cứu về văn chương.
Nó lấy các hiện tượng văn chương nghệ thuật làm đối tượng cho mình. Quan
hệ giữa văn chương và văn học là quan hệ giữa đối tượng và chủ thể, giữa
17