VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY THẮNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tên tác giả
NGUYỄN DUY THẮNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Bảng 2.1.1.a.
Bảng 2.1.1.b.
Bảng 2.1.1.c.
Bảng 2.1.1.d.
Khối lượng vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt tại Hà Nội (Giai đoạn 2011 - 2015)
Hiện trạng các tuyến xe buýt trên địa bàn Hà Nội
(Giai đoạn 2011 - 2015)
Kinh phí hỗ trợ chi phí hoạt động trên các tuyến xe
buýt tại Hà Nội (Giai đoạn 2011 - 2015)
Hiện trạng phương tiện vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt tại Hà Nội (Giai đoạn 2011 - 2015)
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
.......33
......33
......34
......34
ATGT
BGTVT
GTVT
GTCC
HK
NKT
NQ-CP
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang đô thị hóa nhanh chóng, không gian và dân số tại các đô
thị tăng nhanh. Nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc
hơn. Cảnh quan đô thị ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác. Hai thành phố
này mở rộng thêm rất nhiều nhưng giao thông vẫn còn rất chật chội. Nếu chúng
ta cấm các phương tiện như vậy thì hàng triệu người sẽ không có việc làm, GDP
bị ảnh hưởng và nhiều vấn đề khác. Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC)
bằng xe buýt hiện vẫn là phương thức vận tải công cộng chủ đạo tại Việt Nam
(cùng với các hình thức vận tải hành khách khác như taxi, xe ôm v.v...), ngay cả
đối với các đô thị loại đặc biệt như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh vẫn đang trong
giai đoạn xây dựng hệ thống đường sắt đô thị. Hiện nay, VTHKCC bằng xe buýt
tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã đáp ứng được 6% - 7% nhu cầu đi lại của
người dân, góp phần giảm ùn tắc và nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân.
Thông điệp đưa ra là ưu tiên cơ chế, chính sách phát triển vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt nhưng ngoài trợ giá trực tiếp cho hành khách đi
xe buýt thì việc ưu tiên xây dựng nền tảng cho xe buýt ở Hà Nội hiện nay mới
chỉ dừng ở thông điệp. Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban An toàn giao thông
Quốc gia Khuất Việt Hùng đưa ra số liệu chứng minh, năm 2001, Hà Nội có 197
xe buýt vận chuyển được 15 triệu lượt hành khách, đến nay, số lượng xe buýt đã
phát triển lên 1500 phương tiện, vận chuyển được 496 triệu lượt hành khách.
Như vậy trong vòng 15 năm số lượng xe buýt của thành phố đã tăng gấp 7,5 lần
còn số lượng hành khách vận chuyển được cao gấp hơn 30 lần. Đây là bước
nhảy ngoạn mục của xe buýt Thủ đô không chỉ về số lượng mà chất lượng dịch
vụ cũng không thua xe buýt của nhiều đô thị khác.
Thành phố Hà Nội là nơi tập trung dân số đông, nơi diễn ra các hoạt động
nói chung cũng như hoạt động giao thông vận tải nói riêng. Phương tiện giao
thông thuận tiện là cơ sở cho các hoạt động khác được thực hiện tốt và là điều
kiện quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hà Nội là thủ đô của Việt
- Đường dành riêng cho xe buýt hiện nay ở Thủ đô Hà Nội gần như bằng
con số không.
- Về điều kiện vận hành của xe buýt cũng không có tổ chức giao thông ưu
tiên và phân làn cho xe buýt, làm giảm vận tốc lữ hành của phương tiện, kéo dài
thời gian đi lại của hành khách, hạn chế sức hấp dẫn.
2
- Xe buýt còn gặp khó khăn khác về hạ tầng như hạ tầng điểm đầu cuối
chưa đảm bảo an toàn giao thông và điều kiện dịch vụ tối thiểu cho hành khách
và nhân viên phục vụ.
- Thiếu các điểm dừng đón trả khách trên tuyến. Đây chính là những
nguyên nhân quan trọng làm giảm khả năng thu hút người dân đi xe buýt.
- Giao thông trên hầu hết các tuyến phố theo hình thức hỗn hợp, xe máy đi
chung làn với ô tô, xe buýt. Trong điều kiện giao thông như vậy, người lái xe
buýt luôn trong trạng thái hết sức căng thẳng khi phải liên tục điều khiển xe buýt
chuyển làn. Có thể thấy rõ một vấn đề cơ bản là xe cộ không tuân thủ đèn giao
thông. Xe nào cũng muốn lao lên giành quyền đi, làm đông cứng toàn bộ các
dòng xe.
- Một số thói quen của cả xã hội gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc ùn
tắc giao thông cần phải thay đổi: Thói quen đầu tiên là văn hóa tiểu thương.
Thói quen này là rào cản lớn nhất của các phương tiện công cộng. Một thói quen
khác cần phải thay đổi là chuyện đưa đón học sinh đi học. Khu vực cổng các
trường cấp 1, 2 là những nơi "bát nháo" nhất vào giờ cao điểm.
Trước tình hình đó, một số cơ chế chính sách được ban hành nhằm đưa ra
các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt. Tuy nhiên,
hầu hết các giải pháp mới chỉ giới hạn trong phạm vi một tuyến buýt hoặc một
đô thị chứ chưa có nghiên cứu tổng thể cho toàn bộ hệ thống VTHKCC bằng xe
buýt trên phạm vi toàn quốc. Cùng với đó là điều kiện hoạt động của VTHKCC
- TS. Nguyễn Đức Lợi, Giáo trình Khoa học quản lý, ĐH Công nghệ và
quản lý Hữu Nghị;
- Nguyễn Thị Hồng Mai (2014), Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống VTHKCC trong đô thị, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học GTVT;
- Đề tài khoa học cấp Thành Phố, MS: TC - ĐT/07.02-2. Các công trình
trên nghiên cứu ở các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Song ở đây
tác giả nghiên cứu chủ đề ở góc độ kinh tế chính trị đi sâu làm rõ vị trí, vai trò
của nó trong đời sống của dân cư đô thị và đưa ra một số giải pháp chủ yếu phát
triển nó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Vũ Thế Phú (1999), Quản Trị Học, ĐH Mở bán công - Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Nguyễn Hồng Thái (1999), Những biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ
vận tải hành khách bằng ô tô, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội;
4
- Vũ Qúy Trị, “Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà
Nội”, Luận văn Thạc Sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2006, tại Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh;
- Hội thảo “Nâng cao chất lượng và phát triển vận tải hành khách công
cộng bằng xe buýt ở Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm
2025 do Sở Giao thông Vận tải phối hợp với Tổng Công ty Vận tải Hà Nội tổ
chức ngày 16/9. Thông điệp đưa ra là ưu tiên cơ chế, chính sách phát triển vận
tải hành khách công cộng bằng xe buýt nhưng ngoài trợ giá trực tiếp cho hành
khách đi xe buýt thì việc ưu tiên xây dựng nền tảng cho xe buýt hiện nay mới
chỉ dừng ở thông điệp;
- Doddy Hendra Wijaya (2009), Study of service quality in public bus
transport: customer complaint danling and service standards design: Case study
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển dịch vụ
VTHKCC bằng xe buýt từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Thủ Đô Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Năm 2011 đến 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu và vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa
học xã hội, quản lý học và đô thị học, vận dụng phương pháp nghiên chính sách
công, đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ
hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh gia chính sách công có sự tham gia
của chủ thể chính sách. Kết hợp với các phương pháp chuyên ngành như phương
pháp so sánh, phân tích, chỉ số, toán học để nghiên cứu, thực hiện. Lý thuyết
chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hình thành lý luận về chính
sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp thu thập
thống kê và so sánh được sử dụng và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn
liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, phương pháp
so sánh, phân tích, sử lý số liệu, toán học, các văn kiện, Nghị quyết, Quyết định
của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công
trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ
chức cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển
dịch vụ VTHKCC ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Hà Nội nói riêng.
Đồng thời thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến
đề tài trong thời gian qua.
6
- Phát triển hoạt động VTHKCC bằng xe buýt nhằm nâng cao thị phần đảm
nhận của loại hình vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt theo hướng tiện
7
nghi, an toàn, nhanh chóng với chi phí hợp lý, xây dựng hình ảnh xe buýt văn
minh, thân thiện, góp phần kiềm chế tiến tới giảm thiểu ùn tắc giao thông, tai
nạn giao thông và ô nhiễm môi trường;
- Đề ra một số chính sách nhằm phát triển mạng lưới tuyến vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt đảm bảo kết nối đến tất cả các khu vực có nhu
cầu đi lại và tăng độ bao phủ đến các khu vực có nhu cầu đi lại lớn. Đồng thời
kết nối thuận tiện với các công trình đầu mối (Nhà ga, sân bay, bến xe,…) và
các loại hình vận tải công cộng, cá nhân khác (Đường sắt đô thị, taxi, xe khách
tuyến cố định,…);
- Đề ra cơ cấu mức giá vé hợp lý, phù hợp với thu nhập của người dân.
- Từng bước nâng cao chất lượng và giảm tuổi đời đoàn phương tiện xe
buýt; chú trọng đổi mới đoạn phương tiện theo hướng hiện đại, tiện nghi, an
toàn; ưu tiên đầu tư phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch, thân thiện với môi
trường và phương tiện hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận đến dịch vụ VTHKCC
bằng xe buýt;
- Có chính sách chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng (điểm đầu cuối, điểm
trung chuyển, điểm dừng, nhà chờ) phục vụ hoạt động VTHKCC bằng xe buýt
đảm bảo cự ly tiếp cận thuận tiện của hành khách và cung cấp đầy đủ thông tin
về hoạt động VTHKCC bằng xe buýt.
- Tiếp tục đề ra các chính sách nhằm đẩy mạnh ứng dụng khoa học công
nghệ trong quản lý, điều hành và cung cấp thông tin dịch vụ. Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực quản lý điều hành; tăng cường đào tạo đội ngũ lái, phụ xe
theo hướng chuyên nghiệp hóa.
7. Cơ cấu của luận văn
triển và quản lý sự phát triển của xã hội. Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ phận:
Quan điểm và định hướng chính sách; biện pháp thực hiện chính sách, các công
cụ của chính sách; mục tiêu mà chính sách hướng tới.
Vận tải là sản xuất vật chất thực hiện vận chuyển hàng hóa và người. Vận
tải được chia làm vận tải đường bộ (thường gọi tắt là vận tải bộ), vận tải đường
thủy (vận tải thủy), vận tải đường không và vận tải đường sông. Vận tải đường
bộ bao gồm tàu hỏa, ô tô và hệ thống đường sá. Do có một số đặc thù riêng nên
đôi khi được xem là một phương thức riêng biệt với vận tải đường bộ. Vận tải
thủy gồm vận tải đường biển và vận tải đường sông. Vận tải đường không sử
dụng máy bay. Các lĩnh vực có thể được chia thành cơ sở hạ tầng, phương tiện
và hoạt động. Giao thông vận tải là rất quan trọng vì nó cho phép thương mại
giữa người và người, điều này là điều cần thiết cho sự phát triển của nền văn
9
minh.Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước có thể đưa ra khái niệm về
VTHKCC như sau:
Vận tải hành khách công cộng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống
vận tải đô thị, nó là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng
lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo
thời gian xác định, theo hướng và theo tuyến cố định trong từng thời kỳ nhất
định. Hành khách chấp nhận chi trả mức giá theo quy định.
Giao thông công cộng là hệ thống giao thông trong đó người tham gia giao
thông không sử dụng các phương tiện giao thông thuộc sở hữu cá nhân. Các
dạng giao thông công cộng trong thành phố thường gặp bao gồm: Xe buýt, Taxi,
Tàu Hỏa.
Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là tổng hợp các
yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu di chuyển của hành khách từ nơi này đến nơi
khác và các nhu cầu khác (trước, trong và sau quá trình di chuyển) nhằm phục
VTHKCC bằng xe buýt của Nhà nước vào cuộc sống.Tuy nhiên, VTHKCC bằng
xe buýt có nhược điểm:
- VTHKCC bằng xe buýt có năng lực vận chuyển không cao, năng suất
vận chuyển thấp, tốc độ khai thác thấp;
- Khả năng vượt tải thấp trong giờ cao điểm;
- Thường không đáp ứng được nhu cầu của hành khách về tính tiện nghi,
độ tin cậy. Do tính cơ động, linh hoạt cao nên cũng thường dẫn đến tùy tiện,
khó quản lý;
- An toàn không cao, phụ thuộc nhiều vào chất lượng xe.
1.2. Nội dung chính sách phát triển dịch vụ vận tải hành khách công
cộng bằng xe buýt hiện nay
1.2.1. Vấn đề chính sách
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây dựng
chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu thuẫn
nảy sinh trong đời sống xã hội, đến mức cần phải có giải pháp giải quyết bằng
chính sách cho đến khi hoàn thành những mục tiêu của chính sách công. Những
vấn đề đó thường là những mâu thuẫn trong xã hội, những khó khăn, vướng mắc
trong quá trình phát triển hoặc là nhu cầu phát triển ở mức độ cao hơn.Vì vậy,
vấn đề của chính sách luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội.“Việc xác
định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn
đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được
giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng,
mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu
trong tương lai cần đạt được bằng chính sách. Theo quy luật vận động, vấn đề
chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại
thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai”[19, tr.39]. (Đỗ Phú Hải
(2014) “Quá trình xây dựng chính sách công tại các nước đang phát triển”, Tạp
chí Tổ chức nhà nước, số 4). Việc xác định rõ quy mô và mức độ nghiêm trọng
của vấn đề của xã hội để định rõ phạm vi và mức độ can thiệp của chính sách là
lại của người dân; từ đó có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng dịch vụ
VTHKCC bằng xe buýt.
- Trình độ lái xe và nhân viên phục vụ xe
Nhân viên lái phụ xe là người trực tiếp tham gia vào việc điều khiển các
hoạt động và điều khiển phương tiện lưu thông trên đường, là lực lượng sản xuất
13
chính của doanh nghiệp vận tải. Là người ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng
dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt. Do vậy đòi hỏi lái xe và nhân viên phục vụ xe
phải có trình độ tay nghề, văn hóa, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp, tính điềm
tĩnh, cẩn thận, không nóng nảy…
- Công tác tổ chức quản lý và điều hành
Công tác này ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản phẩm vận tải. Chất lượng
của công tác này là giảm thiểu các chuyến đi không thực hiện được hoặc không
thực hiện đúng thời gian quy định, đảm bảo được biểu đồ chạy xe…
Làm tốt công tác tổ chức, điều hành vận tải sẽ tạo ra sự nhịp nhàng, thông
thoáng, liên thông giữa các phương thức đón trả khách tạo cho hành khách sự
thuận tiện trong đi lại của mình, đặc biệt là trong việc hành khách phải thay đổi
phương tiện trong hành trình đi lại của mình.
c) Nhóm các yếu tố về kỹ thuật
Yếu tố kỹ thuật ở đây chính là về phương tiện vận tải, tức là nói về chất
lượng phương tiện, chủng loại phương tiện như thế nào, điểm dừng đỗ, bến
bãi… Để đảm bảo nhóm yếu tố này tốt là phụ thuộc vào chủ quan của doanh
nghiệp kinh doanh vận tải.
Trong quá trình vận tải, chất lượng phương tiện (kỹ thuật, tuổi thọ, mức độ
tiện nghi) có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng vận tải, là yếu tố
tạo nên sự an toàn, tiện nghi, thoải mái… cho hành khách trong quá trình vận
tải. Về chủng loại phương tiện thì có phù hợp với điều kiện đường xá và nhu cầu
dựng trong hệ thống kết cấu hạ tầng của từng tuyến và tiến độ thực hiện để tập
trung thực hiện.
- Thực hiện đổi mới phương tiện không đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn theo
quy định; kiên quyết đình chỉ và chấm dứt hoạt động các phương tiện không
đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn quy định. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xe
buýt sàn thấp, xe buýt có thiết bị hỗ trợ người tàn tật, xe buýt sử dụng nhiên liệu
giảm ô nhiễm môi trường.
- Xây dựng các tiêu chí xe buýt theo đúng quy định; thống nhất màu sơn xe
buýt hoạt động; các đơn vị kinh doanh xe buýt phải bảo đảm các yêu cầu văn
minh, lịch sự nhằm nâng cao chất lượng phục vụ hành khách.
- Mở thêm một số tuyến buýt nội đô, tuyến đường Quận, huyện để tăng tính
kết nối, hỗ trợ hiệu quả cho các tuyến buýt đang hoạt động, phục vụ tốt nhu cầu
đi lại của người dân, góp phần giảm ùn tắc và tai nạn giao thông trên địa bàn.
- Tiến hành rà soát công tác lập, điều chỉnh và thực hiện quy hoạch
VTHKCC bằng xe buýt tại các tỉnh, thành phố và triển khai xây dựng kế
hoạch cụ thể phát triển mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
giai đoạn 2016-2020 cho từng địa phương.
15
- Nghiên cứu mở mới, điều chỉnh mạng lưới VTHKCC bằng xe buýt tại
các tỉnh, thành phố theo hướng giảm thiểu thời gian đi lại, giảm thiểu chuyển
tuyến, giảm trùng lặp tuyến.
- Tổ chức giao thông theo hướng ưu tiên VTHKCC bằng xe buýt, từng
bước nâng cao vận tốc khai thác bình quân của xe buýt đặc biệt trong khu vực
đô thị trung tâm.
b. Giải pháp chính sách về hoàn thiện, nâng cao năng lực quản lý nhà
nước đối với vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
- Thành lập Trung tâm điều hành, kiểm tra giám sát hoạt động VTHKCC
d. Giải pháp phát triển đoàn phương tiện vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt
- Ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật cho phương tiện
VTHKCC bằng xe buýt, có tính đến các quy định đặc thù cho các đô thị loại đặc
biệt, đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nâng cao chất lượng đoàn phương tiện VTHKCC bằng xe buýt thông qua
công tác đầu tư mới, thay thế các phương tiện đã cũ, xuống cấp, đảm bảo trẻ
hóa tuổi đời bình quân đoàn phương tiện.
- Ưu tiên đầu tư các loại phương tiện đáp ứng tiêu chuẩn khí thải tiên tiến,
phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch và phương tiện hỗ trợ người khuyết tật. Lựa
chọn đoàn phương tiện phù hợp với hạ tầng giao thông, đảm bảo yêu cầu về mỹ
quan cũng như đáp ứng nhu cầu hành khách.
- Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách để hỗ trợ đổi mới
đoàn phương tiện VTHKCC bằng xe buýt nhằm nâng cao chất lượng đoàn phương
tiện nói riêng và chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt nói chung.
Công cụ chính sách cho giải pháp là:
Các tỉnh thành phố dựa trên nguồn kinh phí hàng năm, nghiên cứu trợ
giá cho doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt. Trên cơ sở nguồn vốn đó bố trí
trợ giá hoàn toàn hay hỗ trợ 1 phần.
e. Giải pháp về cơ sở hạ tầng phục vụ vận tải hành khách công cộng bằng
xe buýt
Nâng cao khả năng tiếp cận của mọi đối tượng hành khách (bao gồm cả
người khuyết tật) tại khu vực các điểm dừng đỗ, nhà chờ, điểm trung chuyển,
điểm đầu cuối xe buýt thông qua hệ thống giao thông ưu tiên như đèn tín hiệu
ưu tiên, biển báo, cầu bộ hành, bến, bãi trông giữ phương tiện cá nhân...
Công cụ chính sách cho giải pháp là:
17
chỉ nghiệp vụ cho đội ngũ lái phụ xe trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ VTHKCC
bằng xe buýt.
18
h. Các giải pháp, cơ chế chính sách về khoa học công nghệ
- Áp dụng công nghệ tiên tiến để quản lý điều hành và giám sát hoạt
động phương tiện trên tuyến trên cơ sở xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, số
liệu cần thiết kết hợp với hệ thống giao thông thông minh ITS. Đưa ra quy
trình kiểm tra giám sát chuẩn, áp dụng một cách đồng bộ đối với tất cả các
đơn vị tham gia VTHKCC bằng xe buýt.
- Triển khai hệ thống vé thông minh (Smartcard), vé liên phương thức để
đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân bằng các phương thức VTHKCC khác
nhau. Đa dạng hóa hình thức bán vé (trực tiếp, online, qua điện thoại...) và
loại vé (vé lượt, vé tuyến, vé liên tuyến v.v…) phù hợp với nhu cầu của các
nhóm đối tượng khác nhau.
- Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lý điều hành và kiểm soát các tiêu chí
chất lượng phục vụ xe buýt.
Công cụ chính sách cho giải pháp là:
- Nâng cao năng lực của nhân viên điều hành, nhân viên trực tiếp làm việc
trên xe để khai thác sử dụng hiệu quả, kịp thời phát hiện thông tin và nhanh
chóng khắc phục các sự cố trên tuyến như tắc đường, hư hỏng phương tiện, vi
phạm lộ trình.
i. Các giải pháp, cơ chế chính sách khác
- Xây dựng ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng VTHKCC bằng
xe buýt tại Việt Nam.
- Hình thành, hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý và điều hành hoạt
động VTHKCC nói chung và VTHKCC bằng xe buýt nói riêng tại các tỉnh,
thành phố.
thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện
chính sách. Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây dựng kế hoạch thực
hiện chính sách phát triển nó. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát
triển dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt cần được xây dựng trước khi đưa chính
sách vào đời sống kinh tế xã hội.
1.3.1. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách phát triển
dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách trong đó phương
pháp tiếp cận “từ trên xuống” được xem là phương pháp truyền thống nhất khi
thực hiện một chính sách. Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi
ban hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh
được sự chồng chéo, mất tập trung khi thực thi chính sách. Tuy nhiên, nó không
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thật sự phù hợp với
hoàn cảnh, tình hình kinh tế xã hội của từng cơ quan thực hiện. Ngược lại,
20