Tiểu luận mẫu Đề tài: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI TRỢ GIÚP TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
--------------------------

BÀI TẬP
ĐIỀU KIỆN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI TRỢ GIÚP
TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ............

Học viên thực hiện:
Lớp Đại học CTXH ....
Hệ đào tạo: Vừa học vừa làm
Tỉnh

........, ngày tháng năm 201
1

1


BỐ CỤC TRÌNH BÀY
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu đề tài
I. Khái quát chung về phương pháp công tác xã hội cá nhân
1. Khái niệm, đặc trưng của phương pháp công tác xã hội cá nhân.
2. Đối tượng tác nghiệp công tác xã hội cá nhân
3. Các nguyên tắc
3.1. Chấp nhận thân chủ:
3.2. Thái độ không kết án:
3.3. Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ:


3


BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN TỐT NGHIỆP
“Vận dụng phương pháp công tác xã hội trợ giúp trẻ em vi phạm pháp luật”

PHẦN 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1: Lý do chọn đề tài :
Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, các em rất cần được sự quan tâm
chăm sóc đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, không phải trẻ em nào cũng được đảm
bảo đầy đủ như vậy. Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế xã hội cùng với những mặt
tích cực của nó kéo theo là các tệ nạn xã hội nảy sinh làm suy đồi đạo đức của một bộ phận
không nhỏ thanh thiếu niên, trong đó có trẻ em những người dễ bị dụ dỗ vì các em chưa nhận
thức được đầy đủ hậu quả của những hành vi mà mình gây ra. Đặc biệt là trẻ em vi phạm
pháp luật ngày càng gia tăng, mức độ ngày càng nghiêm trọng và tính chất ngày càng phức
tạp. Đây là vấn đề đặt ra cho toàn xã hội nói chung và nhân viên xã hội nói riêng.
Công tác xã hội (CTXH) là một khoa học xã hội ứng dụng, được hình thành và phát
triển từ hơn một thế kỷ nay trên thế giới. Nhưng những tiền đề của nó đã có gốc rễ từ hàng
nghìn năm lịch sử của tất cả các dân tộc, được thể hiện sâu sắc, thấm đượm trong mối quan hệ
tình cảm yêu thương, gắn bó đồng loại, nghĩa cử cao đẹp của sự cảm thông, chia sẻ và những
hành động nhân đạo, từ thiện. Từ những hoạt động có tính xã hội đã giúp biết bao số phận,
nhóm người, cộng đồng, dân tộc vượt lên trên khó khăn, trở ngại, giải quyết vấn đề gặp phải,
hòa nhập, phát triển.
Cùng với sự vận động và phát triển của xã hội loài người, CTXH cũng không ngừng
được bổ sung, hoàn thiện trên cả phương diện lý thuyết và thực hành nhằm đáp ứng những
nhu cầu của cuộc sống. Công tác xã hội có 3 phương pháp tác nghiệp chuyên nghiệp, chủ
yếu, đó là: CTXH cá nhân, CTXH nhóm và phát triển cộng đồng. Với tư cách là một khoa
4


5


Phần 2. Nộidung
I. Tổng quan về phương pháp công tác xã hội cá nhân
1. Khái niệm, đặc trưng của phương pháp
1.1. Khái niệm :
CTXH cá nhân là phương pháp can thiệp hỗ trợ đầu tiên của CTXH chuyên nghiệp.
CTXH cá nhân là một phương pháp tác động đến cá nhân có vấn đề xã hội, giúp cá nhân tự
nhận thức về vấn đề, thúc đẩy, phát huy tiềm năng, kết hợp với sự hỗ trợ bên ngoài, tích cực
tham gia vào quá trình tương tác giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên
trong cuộc sống.
CTXH cá nhân không dừng lại là một hoạt động, một tác động nhất thời mà phải là
một quá trình. Quá trình này bắt đầu từ việc tiếp cận đối tượng (thân chủ), nhận diện vấn đề
cho đến việc thu thập thông tin, chẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu, triển khai trị liệu, lượng giá
và cuối cùng kết thúc khi đã đạt được mục đích, những mục tiêu cụ thể đặt ra.
CTXH cá nhân là một phương pháp CTXH bao gồm nhiều hình thức, biện pháp tác
động can thiệp, kỹ năng cụ thể, có sự kết hợp linh hoạt với các lĩnh vực hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội, hội đoàn, thiết chế xã hội, chính sách xã hội, kinh nghiệm của người
làm CTXH và nội lực, tiềm năng của đối tượng.
Khi tiến hành phương pháp, tiến trình can thiệp, trợ giúp, giải quyết vấn đề của nhân,
CTXH cá nhân đặt cá nhân trong mối quan hệ tương tác với các nhân khác, với điều kiện
kinh tế - xã hội, môi trường xã hội mà cá nhân đang sinh sống. Phương pháp tác động tập
trung vào giải quyết các biểu hiện – hiện tượng - vấn đề của thân chủ nảy sinh từ nguồn gốc,
mối quan hệ, diễn biến tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội mà ở đó vấn đề của thân chủ diễn ra và
bị ảnh hưởng, chi phối.
Điều cốt lõi và là mục đích cao nhất của phương pháp CTXH cá nhân là giúp cá nhân
tự nhận ra, mong muốn và tự giải quyết được vấn đề của mình. Quan điểm hành động trong
CTXH cá nhân là "đối tượng là chuyên gia trong việc giải quyết vấn đề của chính mình".
Để làm được điều này - đi đến thành công, phụ thuộc rất lớn vào năng lực, vai trò và kỹ

mạnh và điểm yếu, không xem xét đến hành vi của thân chủ. Chấp nhận đòi hỏi tiếp nhận
một thân chủ theo nghĩa bong lẫn nghĩa đen, không tính toán , không điều kiện hạn chế nào
và đưa ra bất cứ sự tuyên án nào về hành vi của anh ta. Giã định triết học cho rằng mỗi cá
nhân có giá trị bẩm sinh, không kể đến địa vị xã hội hoặc hành vi của họ. Thân chủ được
quyền lưu ý và thừa nhận là một con người cho dù thân chủ có phạm tội đi chăng nữa.
Nhưng chấp nhận không có nghĩa là tha thứ cho hành vi mà xã hội không chấp nhận, điều đó
có nghĩa là sự quan tâm và thiện chí hướng về con người ẩn sau hành vi.
7

7


3.2. Thái độ không kết án:
Có nghĩa là không tỏ vẻ bất bình với thân chủ, không đổ lỗi bằng cách tranh luận về
nguyên nhân và kết quả hoặc đưa ra lời phê phán cho rằng người ấy đáng bị trừng phạt do
hành vi của họ. Khi NVXH nói chuyện và đối xử với họ theo cung cách như thế thì thân chủ
họ cảm nhận được họ được chấp nhận và bộc lộ những cảm xúc và vấn đề của họ. Nhưng nó
không có nghĩa là NVXH biện hộ chạy tội cho thân chủ.
3.3 Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ:
Một nguyên tắc khác trong Công tác xã hội cá nhân. Nguyên tắc này cho rằng cá nhân
có quyền quyết định những vấn đề thuộc về cuộc đời họ và người khác không được quyền áp
đặt quyết định lên họ. Trong công tác xã hội cá nhân, NVXH không nên ra quyết định, lựa
chọn hay vạch kế hoạch dùm cho thân chủ, nhưng thân chủ có thể được hướng dẫn và giúp
đỡ để đưa ra quyết định. Quyết định mà thân chủ đưa ra phải nằm trong phạm vi quy định
của xã hội là hậu quả của quyết định ấy không ảnh hưởng đến những người khác và chính
bản thân của thân chủ. Hơn thế nữa, hành vi tự quyết định phải ở trong những chuẩn mực
hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được, người ra quyết định tức thân chủ, tự lãnh trách
nhiệm thực hiện quyết định và gánh lấy hậu quả.
Thân chủ chứ không phải nhân viên xã hội đưa ra sự lựa chọn trong số các phương án.
Trong tiến trình CTXHCN nhân viên xã hội thảo luận và xem xét các phương án, thảo luận

khác…
3.7. Sự can dự có kiểm soát
Nhân viên xã hội khởi đầu mối quan hệ với thân chủ, biểu thị bằng sự chấp nhận và
sự khẳng định, vô tư với những lời bóng gió kết án hoặc sửa chữa lỗi lầm. Mối quan hệ như
thế có vẻ quá máy móc, nó phải được cần đến mức mà nhân viên xã hội có thể cảm nhận
mức độ xúc cảmcủa thân chủ và nhìn tình thế như người ấy nhìn nó. Tuy nhiên, nhân viên xã
hội có thể giúp thân chủ nhìn vấn đề của người ấy một cách khách quan và vạch kế hoạch
một cách thực tế. Từ đấy, ý tưởng về một sự can dự có kiểm soát bởi nhân viên xă hội trở
thành một nguyên tắc.
4 .Tiến trình
*Tiến trình CTXH cá nhân
CTXHCN là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội. Nó
đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 7 bước. Đó là xác định vấn đề, thu thập dữ kiện,
9

9


thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, thực hiện kế hoạch , lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt.
Đây là những bước chuyển tiếptheo thứ tự logich, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những
bước kéo dài suốt quá trình như thâu thập dữ kiện, thẩm định và lượng giá.
Các bước này được kết hợp nhau thành 3 giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu gồm xác
định vấn đề và thu thập dữ kiện; giai đoạn 2 gồm: thẩm định chẩn đoán và kế hoạch trị liệu;
cuối cùng giai đoạn 3 gồm: thực thi kế hoạch, lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt.
4.1. Tiếp cận thân chủ
Khi tiếp cận trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật, nhân viên công tác xã hội có thể
tiếp cận theo cách trực tiếp như tìm thân chủ trong các trường giáo dưỡng, trại cải tạo…Chú
ý đến tâm lí trẻ em, cần tạo ấn tượng tốt ngay từ đầu để có thể can thiệp hiệu quả nhất.
4.2..Xác định vấn đề:
CTXHCN bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây

4.5. Kế hoạch trị liệu:
Ơ đây NVXH xác định loại hỗ trợ sẽ cung ứng cho TC, cách can thiệp mà anh, chị ta
cho rằng tốt nhất cho TC. Giai đoạn này gồm việc xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu
cụ thể để đạt được mục đích. Càng nhiều càng tốt đây là một sự chung sức của NVXH và
thân chủ vì chính anh ta là người phải tạo ra những thay đổi cần thiết với sự hỗ trợ của
NVXH. sự chọn lựa mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:
– Điều thân chủ mong muốn.
– Điều mà NVXH cho là cần thiết khả thi.
–Và các yếu tố liên hệ như có hay không có các dịch vụ, tài nguyên cần thiết.
Từ gốc độ của NVXH có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trị liệu: tính chất
của vấn đề, các tài nguyên cần thiết và có được và động và năng lực của thân chỉ. Các nhân
tố khác có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa mục đích và mục tiêu là các giá trị của thân chủ,
11

11


cách anh ta đánh giá vấn đề và hệ lụy của nó. Các mục tiêu cụ thể là những đáp ứng cho các
nguyên nhân và nhân tốc đã liên kết đã tạo ra tình huống có vấn đề.
4.6. Trị liệu:
Đó là tổng hợp các hoạt động và dịch vụ nhằm vào việc giúp đỡ cá nhân có vấn đề.
Đó là giải tỏa hay giải quyết một số vấn đề trước mặt và điều chỉnh những khó khăn với sự
công nhận và tham gia của thân chủ. Có khi mục tiêu chỉ là giữ không cho tình huống trở nên
xấu hơn, giữ vững hiện trạng, giữ mức độ hoạt động tâm lý xã hội của TC thông qua các hỗ
trợ vật chất và tâm lý. Một cách đặc thù mục tiêu của trị liệu gồm:
a/ Thay đổi hay cải thiện hoàn cảnh của TC bằng cách đưa vào các tài nguyên như
giúp đỡ tài chính;hoặc thay đổi môi trường như gởi đứa trẻ nơi khác hoặc cải thiện các mối
quan hệ gia đình.
b/ Giúp cá nhân thay đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mặt.
c/ Thực hiện cả 2 cùng lúc.

giúp TC tự mình xem cuộc trị liệu có giúp gì cho anh ta không. Kết quả lượng giá sẽ nêu lên
nhu cầu sửa đổi hay thích nghi. Lượng giá cũng giúp NVXH xác định xem mục đích mục
tiêu đề ra đạt được đến mức nào để điều chỉnh trị liệu.
Chỉ có thể lượng giá tốt khi các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạt trên
cơ sở thông tin đầy đuœ. Ngoài ra, NVXH, TC và những người cùng giúp đỡ khác (ví dụ
như bác sĩ, nhà tâm lý) phải cùng tham gia việc lượng giá khi cần thiết.
5.Hệ thống kỹ năng cơ bản
Công tác xã hội với trẻ em là sử dụng những kĩ năng chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ
những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn để trẻ lấy lại được niềm tin vào cuộc sống… và
được phát triển cả về thể chất và tinh thần.
Công tác xã hội với trẻ phạm pháp là ngành trợ giúp những đối tượng trẻ đã có hành
vi phạm pháp ở các mức độ khác nhau có thể chấn chỉnh hành vi của mình, hoà nhập với
cộng đồng và phát triển bình thường. Các mục đích chính của CTXH với trẻ có hành vi
13

13


phạm pháp: Tăng cường làm rõ động cơ của các em phạm pháp, Cho phép các em giải toả
tâm trạng, Giúp cung cấp thông tin, Giúp trẻ em tuổi vị thành niên đề ra các quyết định, xác
định tình thế, Giúp các em thay đổi môi trường, Giúp trẻ em tuổi vị thành niên nhận biết các
kiểu hành vi, tận dụng lời khuyên.
5.1. Các kĩ năng khi tiếp xúc với trẻ
a. Cần tôn trọng trẻ:- Con người ai cũng có giá trị riêng của mình và trẻ em cũng vậy,
dù đó là trẻ em phạm pháp. Khi tiếp xúc với trẻ ta không nên có thái độ dọa nạt vì ta là
người lớn nên có thể làm gì cũng được. Không coi thường khinh rẻ trẻ, nhìn trẻ như những
kẻ phạm tội cần được dạy dỗ giáo dục và sẵn sàng trừng trị trẻ. Hay áp đặt những suy nghĩ
của bản thân vào trẻ. Tôn trọng trẻ là để cho trẻ tự bộc lộ bản thân, bộc lộ những suy nghĩ,
cách nhìn của mình, lắng nghe mọi điều chúng kể.
b. Chấp nhận trẻ, đặt mình trong địa vị của chúng để hiểu trẻ: Khi chấp nhận trẻ tức

5.2.2. Công tác xã hội với cá nhân
Ta xác định CTXH với cá nhân nhằm tìm ra những vấn đề của thân chủ, sớm giải
quyết nó, giúp thân chủ hòa nhập vào cộng đồng.
Bước 1: Tiếp cận thân chủ. Khi tiếp cận trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật, nhân
viên công tác xã hội có thể tiếp cận theo cách trực tiếp như tìm thân chủ trong các trường
giáo dưỡng, trại cải tạo…Chú ý đến tâm lí trẻ em, cần tạo ấn tượng tốt ngay từ đầu để có thể
can thiệp hiệu quả nhất.
Bước 2: Xác định vấn đề. Sau khi tiếp cận thân chủ cần xem xét xác định vấn đề trẻ
đang gặp phải, chúng ta còn phải xác định bản chất của những vấn đề được trình bày, ý
nghĩa, nguyên nhân, sự bắt đầu và những nhân tố của vấn đề. Ngoài ra còn có thể hiểu thêm
về mong muốn của trẻ, những việc mà trẻ sẽ làm để cải thiện tình hình của mình.
Bước 3: Thu thập dữ liệu. Có thể sử dụng biện pháp chính là phỏng vấn. Với nguồn
cung cấp thông tin chủ yếu là trẻ. Thông tin phải là gia đình, bạn bè, hàng xóm, nhà trường.
Ngoài ra còn có thể tiến hành tìm hiểu lí lịch của trẻ qua các hồ sơ. Bởi vì nó có ý nghĩa
quan trọng, lí giải được hành vi hiện tại của trẻ trong môi trường sống. Mục đích chủ yếu
của bước này là thu thập thông tin để nhân viên công tác xã hội hiểu rõ về hoàn cảnh của
thân chủ và có những thông tin chính xác phục vụ cho việc chẩn đoán ở mức tiếp theo. Bước
này là quan trọng nhất đối với việc chẩn đoán đúng hay sai về thân chủ.
Bước 4: Chẩn đoán vấn đề. Sau khi thu thập dữ liệu, chúng ta cần đánh giá tình trạng
của thân chủ, nhu cầu của thân chủ hiện tại là gì?, mặt mạnh, yếu, nguồn lực sẵn có trong
thân chủ ( học vấn, tay nghề, nghị lực…) Đồng thời phân biệt các vấn đề tồn tại, những vấn
đề cơ bản, những vấn đề nào cần làm trước và chẩn đoán phát sinh trong quá trình trị liệu
nhằm lập kế hoạch trị liệu cho phù hợp đối với thân chủ.
Bước 5: Kế hoạch trị liệu. Kế hoạch can thiệp là sự giúp đỡ có hệ thống mà nhân viên
công tác xã hội sử dụng để tác động vào thân chủ cũng như hoàn cảnh của họ để tạo ra sự
15

15



16

16


Đây thực sự là một con số đáng báo động cho toàn xã hội. ( Nguồn tin từ báo An
Ninh Nhân Dân số ra ngày 14/9/2009 của tổng cục điều tra tội phạm cấp.).
1. Định nghĩa trẻ em.
Hiện nay vẫn còn nhiều những tranh luận về khái niệm trẻ em là như thế nào?, độ tuổi
bao nhiêu?...có thể đưa ra một số định nghĩa khái niệm sau đây.
- Theo công ước về quyền trẻ em : “ Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có
nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định
tuổi thành niên sớm hơn”
- Pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống nhất về khái niệm trẻ em trong
từng ngành luật cụ thể.
Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005 của Việt Nam có ghi nhận “trẻ
em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
Theo Bộ luật Dân Sự ( 2005 ) thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi….
- Theo pháp luật liên bang của Hoa kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”
Nhìn chung mỗi nước có quy định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em.
Việc quy định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý
của trẻ em ở mỗi quốc gia. Do đó có những quốc gia quy định độ tuổi thŕnh nięn sớm hőn
hoặc trể hőn 18 tuổi nhý đýợc xác định trong công ýớc về quyền trẻ em.
Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở
tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
- Đặc điểm thể chất và trí tuệ chưa hoàn thiện như người trưởng thành.
- Các em rất có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt
pháp lý.
Ngoài ra trong các quy phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm “người
thành niên”, “người chưa thành niên”. Như vậy vấn đề đặt ra là phân biệt giữa các khái niệm

lánh bạn bè và xã hội.Mặt khác khi đã vi phạm pháp luật thì tương lai của trẻ sau này cũng
bị ảnh hưởng do những tiền án hoặc tiền sự mà trẻ đã có.
Còn đối với gia đình của trẻ có hành vi phạm pháp: ảnh hưởng đến đời sống kinh tế,
và chịu nhiều tác động của dư luận xã hội…
Với xã hội: “Trẻ em là tương lai đất nước” nhưng nếu trẻ em vi phạm pháp luật thì
cũng đồng nghĩa với việc đất nước sẽ mất đi một phần nguồn lực. Sẽ ảnh hưởng đến trật tự
xã hội, nếp sống văn minh của xã hội. Chính vì vậy cần thiết đưa ra những biện pháp khắc
phục hiệu quả và nhanh chóng.
2.2. Đặc điểm của trẻ em phạm pháp.
Phần lớn trẻ em phạm tội là những em đã có một số quá trình hư hỏng, từ học yếu,
học kém, đến trốn học, bỏ giờ học và vi phạm kỷ luật của nhà trường rồi bỏ học, chơi bời lêu
lổng, tụ tập thành từng nhóm tiêu cực và phạm tội. Có thể khẳng định rằng, đó là những đối
18

18


tượng có trình độ văn hoá thấp ( 97% đang học dở lớp 6 trở xuống, trong đó có 5.4 % hoàn
toàn không biết đọc, biết viết ).
Những trẻ em phạm tội sớm nhiễm các thói quen xấu, trong đó 85.4% đã nghiện
thuốc lá, thuốc lào, 33% thích uống rượu, bia, 1.55% nghiện ma tuý, 58.6% thích xem các
loại phim trưởng, kiếm hiệp kích động bạo lực, 20% thích xem phim kích động tình dục.
Trong nhà trường trẻ em phạm tội hầu như có những biểu hiện không tham gia vào
sinh hoạt đoàn, hội hoặc nếu có tham gia thh rất miễn cưỡng.
Trong quá trình phạm tội, trẻ có thể chỉ phạm tội với vai trò tham gia, đồng phạm.
Trong khi đó thì các loại tội phạm như xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản riêng của
công dân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người… Trẻ em thường
giữ vai trò chủ động, nhiều trường hợp phạm tội có tổ chức.
Những năm gần đây tình trạng trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực phát triển mạnh.
Như là những hành vi cướp, giết, hiếp dân, đánh người gây thương tích đang ngày càng phổ

2.3.2.1 Cha mẹ không quan tâm đến việc giáo dục con cái
Trong trường hợp này thường xuất phát từ các gia đình neo đơn hoặc cha mẹ thường xuyên
vắng nhà, những gia đình chỉ lo tính toán kinh tế, thiếu trách nhiệm đối với con cái, khoán
trắng việc giáo dục cho nhà trường, những gia đình bố mẹ ly hôn vv…Kết quả là bố mẹ
không theo giỏi từng hoạt động của con cái ở nhà cũng như ở trường và ở ngoài xã hội, từ đó
tạo cho trẻ tâm lý sao nhãng học tập, lưu ban kéo dài tạo ra tâm lý chán nản đua đòi và bị lôi
cuốn vào các tệ nạn xã hội.
2.3.2.2 Cha mẹ, gia đình là những gương xấu cho con cái noi theo
Một số gia đình vì mục đích kiếm tiền đã lao vào các trò mua gian bán lận, làm ăn phi pháp
chứa chấp cờ bạc, mại dâm …Trong trường hợp đó, một mặt vì mất lòng tin một mặt vì
thiếu kính trọng cha mẹ, một mặ nữa là phải thưỡng xuyên tiếp xúc với các công việc của
gia đình tạo cho trẻ thói quen phạm pháp và dần dần vi phạm pháp luật.
2.3.2.3 Không khí đạo đức trong gia đình không thuận lợi
Trong gia đình luôn không có sự hòa thuận cư xử trong gia đình cũng thiếu kính trên
nhường dưới, trong gia đình luôn xảy ra mâu thuẩn không khí gia đình luôn nặng nề là cho
tâm lý trẻ chán nản và tham gia vào các tệ nạn xã hội. Vì chúng không có tấm gương noi
theo, đặc biệt là trong gia đình bố mẹ ly hôn thì số lượng của trẻ phạm pháp lại càng nhiều.
2.3.2.4 Cha mẹ không thống nhất phương pháp giáo dục con cái
Cha mẹ bao giờ cũng thương con, lo lắng cho tương lai của con. Nhưng do trình độ
nhận thức và tính cách mỗi người có cách cư xử khác nhau. Người này tỏ thái độ quở trách,
trừng phạt con thì người kia lại tỏ thái độ bênh vực con cái vv…Trong trường hợp như vậy
cha mẹ sẽ bị mất dần quyền uy, trẻ không nghe lời chống đối. Khi mà trong gia dinhd bố mẹ
mất quyền uy thì trẻ sẽ hành động theo ý thích của mình và sa vào các tệ nạn của xã hội
2.3.2.5 Cha mẹ chưa nắm được phương pháp giáo dục con cái
20

20


Sự quá nghiêm khắc hay quá nuông chiều của cha mẹ đối với con cái cũng làm phát sinh các

21

21


Trên trường học thì trẻ được trang bị các tri thức khoa học, các chuẩn mực hành vi
đạo đức.Nhưng khi về nhà và ra ngoài xã hội thì lại đón nhận những giá trị khác có thể là
ngược lại đối với những gì được dạy vì vậy tạo cho trẻ tâm lý hoang mang và hành động
theo cảm tính và có thể dẫn đến vi phạm pháp luật.
2.3.3.2 Một số giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục học sinh cá biệt.
Trong nhà trường thì thường có các học sinh cá biệt tuy nhiên sự quan tâm của các
giáo viên đối với học sinh cá biệt còn rất ít, mặc cho hành động của trẻ và tạo cơ hội cho trẻ
ngày càng vi phạm pháp luật tham gia vào các tệ nạn xã hội.
2.3.3.3 Một số giáo viên không hiểu rỏ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Trẻ em la giai đoạn mà sự phát triển về thể chất lẩn tinh thần diển ra mạnh mẽ. Sự
phát triển đó đã tạo nên các hiện tượng tâm lý bất thường mà khó có thể kiềm chế
được.Trong cách ứng xử củng như sinh hoạt hằng ngày, vì vậy trong quá trình học tập thì
nếu có sai sót và bọi giáo viên phê phán nặng nề, chê trách chế giễu, trừng phạt … sẽ làm
cho trẻ có cảm giác tội lỗi và ức chế dẫn đến tình trạng sa sút học hành và tham gia vào các
tệ nạn xã hội.
2.3.3.4 Thiếu nghiêm túc trong học hành và thi cử.
Trong quá trình dạy học, sợ điểm học sinh quá thấp và sợ bản thân bị thua kém giáo
viên khác về trình độ dạy học nên nhiều giáo viên đã làm ngơ trong thi cử dẫn đến trẻ học
chăm cũng bằng trẻ lười học tạo ra thói ỷ lại làm cho trẻ không có mục tiêu phấn đấu, thừa
thòi gian rảnh thi đi chơi và bị cuốn hút vào các tệ nạn xã hội.
Ngoài vòng tay gia đình thi nhà trường là nơi dạy dỗ con người thành người nhưng
chính nơi đây cũng là nơi có thể tạo ra cho trẻ hư hỏng,đặc biệt là nếu nhà trường không
quản lý tốt thì sẽ làm cho trẻ sa vào nhiều tệ nạn xã hội.
2.3.4. Yếu tố xã hội tác động làm cho trẻ vi phạm pháp luật
Trẻ sống trong môi trường xã hội có rất nhiều biến đổi như hiện nay thì việc ảnh

Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì nhiều gia đình mãi mê kiếm tiền
không để ý đến con cái. Để bù lại cho sự thiếu vắng tình thương nhiều cha mẹ đã mua sắm
đủ thứ cho con và cho chúng tiền mà không biết vì mục đích gì. Khi có tiền đứa trẻ tiêu xài
phung phí và dẫn đến con đường nghiện ngập và khi không có đủ tiền thì lao vào con đường
tội lỗi.
Mặt khác cũng vì muốn nhanh chóng có tiền nên không ít trẻ em từ các vùng quê bỏ
học ra thành thị tìm việc làm và sa vào các tệ nạn xã hội.
2.4. Hậu quả.
Việc trẻ phạm pháp để lại hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho bản thân các em mà
còn cho cả gia đình nhà trường và xã hội. Trước hết, đối với bản thân trẻ phạm tội, sau khi
có hành vi vi phạm sẽ phải chịu nhiều hình thức xử phạt và ảnh hưởng lớn đến đạo đức,
nhân cách của trẻ, kìm hãm sự phát triển của trẻ, gây cho trẻ bị khủng hoảng tâm lí, tự ti, xa
23

23


lánh bạn bè và xã hội.Mặt khác khi đã vi phạm pháp luật thì tương lai của trẻ sau này cũng
bị ảnh hưởng do những tiền án hoặc tiền sự mà trẻ đã có
Còn đối với gia đình của trẻ có hành vi phạm pháp: ảnh hưởng đến đời sống kinh tế,
và chịu nhiều tác động của dư luận xã hội…
Với xã hội: “Trẻ em là tương lai đất nước” nhưng nếu trẻ em vi phạm pháp luật thì
cũng đồng nghĩa với việc đất nước sẽ mất đi một phần nguồn lực. Sẽ ảnh hưởng đến trật tự
xã hội, nếp sống văn minh của xã hội. Chính vì vậy cần thiết đưa ra những biện pháp khắc
phục hiệu quả và nhanh chóng.
2.5. Thái độ của xã hội với trẻ phạm pháp
Hầu hết những trẻ vi phạm pháp luật được phát hiện khi trẻ đã phạm tội và có sự can
thiệp của pháp luật, khi đó gia đình nhà trường mới biết. Khi đó gia đình đổ lỗi cho nhà
trường, nhà trường buộc tội lại gia đình còn xã hội thì coi đứa trẻ đó không được giáo dục, tỏ
thái độ khinh miệt, coi thường. Họ phán xét mà không nhìn thấy nguyên nhân sâu xa bên

trình độ cho các luật sư và những người hỗ trợ pháp lý về kỹ năng tư vấn và đại diện cho trẻ
em.
Về pháp luật đã hình thành văn bản chính sách pháp luật quan tâm đến quyền trẻ em,
ban hành luật của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 25/2004/QH11
ngày 15 tháng 6 năm 2004 về bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em.
Ngày 01/9/2009, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã ký ban hành Chỉ thị số 1408/CTTTg chỉ đạo tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Tuy nhiên hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ,
đồng bộ; đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn thiếu về số lượng, hạn
chế về năng lực chuyên môn, đặc biệt ở cấp xã; hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em
giúp trẻ hòa nhập vào cộng đồng sau khi có hành vi phạm pháp chưa được hình thành đầy đủ
và chưa đáp ứng được yêu cầu. Ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của
một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, cha mẹ, giáo viên và công dân chưa tốt; kiến
thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhiều gia đình và trẻ em chưa đầy đủ; hệ thống
thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ, thiếu tin cậy.
III.Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật trên địa bàn xã ……………
1 . Khái quát về địa phương xã ………………
2. Thực trạng vấn đề trẻ em vi phạm pháp luật ở xã …..
Xã ………………cũng như bao địa phương khác, trong những năm qua dưới sự lãnh
đạo của Đảng các cấp chính quyền địa phương đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày
một được cải thiện và nâng lên đáng kể. Bên cạnh đó thì tình hình an ninh trật tự cũng có
nhiều diễn biến hết sức phức tạp tội phạm có chiều hướng gia tăng về mọi mặt, nhất là tệ nạn
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status