LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý dạy học NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ở học VIỆN KHOA học QUÂN sự - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những biến đổi, xu thế phát triển hiện nay, không chỉ có Việt
Nam mà rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao dạy học nguồn nhân lực,
nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong chiến lược
phát triển nguồn nhân lực thì đào tạo ngoại ngữ được coi là vấn đề quan
trọng nhằm tạo ra lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, có kỹ năng
lao động, kiến thức ngoại ngữ và thái độ nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát
triển kinh tế, xã hội, đáp ứng sự biến đổi cơ cấu lao động, nhu cầu chuyển
dịch cơ cấu lao động, hội nhập quốc tế. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của
Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp
dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học… Mở rộng và nâng cao chất lượng
đào tạo ngoại ngữ” [12, tr.131-132].
Với chức năng đào tạo cán bộ ngoại ngữ cho quân đội và nguồn nhân
lực ngoại ngữ chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Trong những năm qua, Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện Khoa
học Quân sự rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nói
chung, đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên hệ dân sự nói riêng, nhằm mục tiêu
nâng cao tri thức toàn diện cho sinh viên để khi tốt nghiệp ra trường, sinh viên
đảm nhận được công việc biên dịch, phiên dịch hay giáo viên giảng dạy ngoại
ngữ có chất lượng cao.
Tuy nhiên, trong quản lý và thực hiện nhiệm vụ dạy học ngoại ngữ cho
thấy: một số giảng viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của
môn ngoại ngữ đối với hoạt động nghề nghiệp sau này của sinh viên, dẫn đến
trong dạy học ngoại ngữ, chưa tích cực bổ sung, cập nhật kiến thức để nâng
cao chất lượng dạy học, làm cho sản phẩm đào tạo có mặt còn yếu, chưa được

3



lựa chọn vấn đề: “Quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa
học Quân sự”, để nghiên cứu, làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, đào tạo
và quản lý dạy học nói chung
Bàn về vấn đề giáo dục, đào tạo và quản lý giáo dục đào tạo ở các cơ sở
giáo dục nói chung, ở các trường đại học, cao đẳng nói riêng đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, với những cách tiếp cận vấn đề khác
nhau. Các nghiên cứu về quản lý không chỉ đề cập đến quản lý nội dung
chương trình, quản lý phương pháp giảng dạy, mà còn phải chú trọng đến
nhiều yếu tố khác, vì chúng có mối liên hệ tương hỗ với nhau.
Tác giả Ngô Quý Ty và Lê Văn Chung, nghiên cứu đề tài: “Một số vấn
đề chung về quản lý giáo dục, đào tạo trong quân đội”. Nội dung của đề tài
nghiên cứu đã tập trung khái quát, làm rõ vị trí, vai trò, bản chất, chức năng,
nguyên tắc, phương pháp và công cụ quản lý giáo dục, đào tạo và quản lý
trường học. Đồng thời tập trung luận giải những vấn đề về quản lý sinh viên
và hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên ở một số
học viện, nhà trường trong quân đội và đề ra các giải pháp trong đánh giá hoạt
động học tập của sinh viên. Đây là những nội dung có giá trị giúp tác giả tiếp
cận cách thức quản lý giáo dục, đào tạo, quản lý hoạt động học tập của sinh
viên hệ dân sự đang được đào tạo ở nhà trường quân đội.
Bên cạnh đó, vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các học viện, trường
đại học, cao đẳng, đã có nhiều đề tài, luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý
giáo dục nghiên cứu, như: Nguyễn Văn Tấn (2008), nghiên cứu đề tài “Các
biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ngành cơ khí chế tạo ở
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng, Thành phố Hồ Chí Minh”; Đặng
Thị Phương Lan (2007), với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy

5




hóa dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường
quân sự”; tác giả Trần Đình Tuấn (2003), với bài báo “Bồi dưỡng năng lực
thực hành cho sinh viên trong dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở
nhà trường quân sự; tác giả Phạm Minh Thụ (2013), với bài viết “Tăng cường
đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các
trường đại học quân sự”. Qua nghiên cứu, luận giải những luận cứ khoa học
của vấn đề nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất nhiều biện pháp, đưa ra những
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của giảng viên và học tập của
sinh viên, cũng như quản lý dạy học, phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng
trong việc quản lý chất lượng học tập của sinh viên ở nhà trường quân đội.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu tuy khác nhau về đối tượng, nhiệm
vụ, phạm vi nghiên cứu, song các tác giả đã tập trung phân tích, làm rõ vị trí,
vai trò tầm quan trọng của hoạt động dạy và hoạt động học tập, nâng cao hiệu
quả hoạt động dạy học, đánh giá thực trạng dạy học, quản lý dạy học; đề xuất
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của giảng viên và sinh viên
trong quá trình đào tạo ở nhà trường; trong đó quản lý dạy học được đề cập
đến như là một giải pháp, một khâu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng nói chung, các nhà trường
trong quân đội nói riêng. Kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình trên là
cơ sở trực tiếp để tác giả kế thừa và phát triển vấn đề nghiên cứu quản lý dạy
học ngoại ngữ cho sinh viên dưới góc độ của khoa học quản lý giáo dục.
* Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học ngoại ngữ
Tác giả Trần Hữu Luyến (2008), với đề tài nghiên cứu: “Cơ sở tâm lý
học dạy học ngoại ngữ”, thông qua nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng,
tác giả đã làm rõ bản chất, đặc trưng, cấu trúc tâm lý của hoạt động dạy học
ngoại ngữ, cũng như các điều kiện tâm lý sư phạm nâng cao chất lượng dạy
và học ngoại ngữ.



8


trung học phổ thông, cao đẳng nói riêng. Những kết quả nghiên cứu của các
đề tài luận văn có nhiều nội dung gợi mở về lý luận cũng như chỉ ra phương
pháp khảo sát thực trạng và đưa ra cách tiếp cận trong xây dựng biện pháp
quản lý dạy học ngoại ngữ cho sát với đối tượng là sinh viên ở Học viện Khoa
học Quân sự hiện nay.
Cùng với đề tài luận văn, còn có các bài báo khoa học viết về dạy học
ngoại ngữ, quản lý dạy học ngoại ngữ như: tác giả Catherine Cheehy
Skeffington, trong bài viết “Làm thế nào để giúp sinh viên sử dụng tiếng Anh
trong lớp học” đã nêu ra tầm quan trọng của việc giúp sinh viên nói tiếng
Anh. Theo tác giả, những khó khăn về khả năng đọc ngôn ngữ, là vấn đề khó
khăn về đọc chứ không phải khó khăn về ngôn ngữ, từ đó các ông đưa ra
muốn khắc phục khó khăn đó cần phải có giải đồ thích hợp. Từ đó, tác giả đã
chỉ ra nguyên nhân tại sao sinh viên không sử dụng tiếng Anh trong lớp và
nêu ra những biện pháp cụ thể để giúp sinh viên phát huy khả năng nói tiếng
Anh trong lớp học.
Tác giả Trịnh Văn Minh, với bài báo: “Dạy - học ngoại ngữ trong cơ
chế thị trường”, tác giả đã khẳng định ngoại ngữ không chỉ là phương tiện
giao tiếp, mà còn là phương tiện nâng cao dân trí, mở rộng vốn văn hóa
chung, điều kiện cần cho giao lưu và hội nhập quốc tế.
Tác giả Ngô Văn Quyết, với bài báo “Ngoại ngữ - một thành tố của
chiến lược phát triển nền giáo dục quốc gia”, tác giả đã tập trung làm rõ vai
trò của ngoại ngữ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Theo tác giả,
ngoại ngữ phải được xem là một thành tố trong chiến lược phát triển giáo dục
quốc gia, cho nên cần phải hoàn thiện chương trình ngoại ngữ trong các
trường đại học.
Tác giả Nguyễn Quốc Hùng, với bài báo “Phương pháp học tiếng

học ở Học viện Khoa học Quân sự.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình
khoa học, các đề tài luận văn, tác giả đi sâu nghiên cứu: “Quản lý dạy học
10


ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa học quân sự”, nhằm nâng cao chất
lượng dạy học ngoại ngữ, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời, việc
lựa chọn đề tài nghiên cứu của tác giả không trùng lặp với các luận văn, đề tài
nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất biện pháp
quản lý dạy học ngoại ngữ ở Học viện Khoa học Quân sự, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về ngoại ngữ phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về dạy học ngoại ngữ, quản lý dạy học
ngoại ngữ cho sinh viên ở các trường đại học.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân quản lý
dạy học ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa học Quân sự
Đề xuất biện pháp quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện
Khoa học Quân sự hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình giáo dục, đào tạo ở Học viện Khoa học Quân sự.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa học Quân sự

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên nền tảng các quan điểm, tư tưởng
về giáo dục và quản lý giáo dục của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
12


Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và
quản lý giáo dục.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả quán triệt, vận dụng sâu sắc quan
điểm hệ thống, cấu trúc, logic, lịch sử và quan điểm thực tiễn trong nghiên
cứu khoa học giáo dục, để định hướng cho việc nghiên cứu và luận giải các
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phương pháp phân tích, tổng
hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu có liên quan để xây
dựng căn cứ lý thuyết cho đề tài.
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động dạy học và quản lý dạy học
ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa học Quân sự ở một số lớp.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: điều tra 25 cán bộ quản lý giáo
dục và 85 giảng viên ngoại ngữ, 150 sinh viên đang học năm thứ 2, 3, 4,
nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý dạy học ngoại ngữ và các yếu tố ảnh hưởng
đến quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên ở Học viện Khoa học Quân sự.
Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn một số cán bộ, giảng
viên, sinh viên để bổ sung và làm phong phú thêm kết quả điều tra về thực
trạng dạy học ngoại ngữ và quản lý dạy học ngoại ngữ ở Học viện Khoa học
Quân sự hiện nay.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu các báo cáo tổng kết
năm học, tổng kết mười năm đào tạo ngoại ngữ hệ dân sự để làm rõ những

1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm dạy học và dạy học ngoại ngữ
* Dạy học
Dạy, là hoạt động của giáo viên nhằm định hướng, tổ chức điều khiển
giúp cho người học tự mình tìm kiếm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng và hình
thành hoặc biến đổi tình cảm thái độ. Dạy không chỉ truyền thụ, cung cấp kiến
thức, thông tin đơn thuần mà chủ yếu giúp người học tự tìm kiếm, chiếm lĩnh
kiến thức kỹ năng thay đổi tình cảm và hình thành thái độ.
Học, là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách
chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh. Học được hiểu
theo nghĩa rộng, nó bao gồm các yếu tố thông tin môi trường xung quanh, biết
thu thập, xử lý, tự biến đổi bản thân.
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dạy học: là dạy học trò theo chương
trình và theo cấp học” [41, tr.231].
Từ điển Giáo dục quân sự, giải thích: Dạy học, bộ phận của quá trình
tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn; một quá trình có mục đích, có tổ chức,
phối hợp thống nhất giữa hoạt động của người dạy và người học nhằm trang bị
các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển khả năng tư duy sáng
tạo, giáo dục những phẩm chất nhân cách cần thiết cho người học [8].
Giáo trình Giáo dục học quân sự: “Dạy học là một bộ phận của quá
trình sư phạm quân sự tổng thể, là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động
người dạy và hoạt động của người học nhằm trang bị kiến thức, kỹ xảo, kỹ
năng, phát triển khả năng sáng tạo, phát triển các phẩm chất nhân cách cần
thiết cho quân nhân” [33, tr.9].

15


Với những khái niệm dạy học ở trên cho thấy: Dạy học là một quá trình
toàn vẹn với đầy đủ các thành tố như mục tiêu dạy học, nội dung dạy học,

Dạy học ngoại ngữ không chỉ nhằm tạo ra công cụ trong giao tiếp mà
đó là sản phẩm cuối cùng phải có ở mỗi cấp học, bậc học, hình thức học,
nhằm đạt được mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài và phát triển nhân cách con người hiện đại.
Từ những cách tiếp cận về dạy học, ngoại ngữ, tác giả cho rằng: Dạy
học ngoại ngữ là quá trình tác động qua lại giữa giảng viên
và sinh viên nhằm truyền thụ và lĩnh hội kiến thức ngoại
ngữ, hình thành kỹ xảo, kỹ năng về ngoại ngữ chuyên môn,
để thực hiện nhiệm vụ sau khi tốt nghiệp ra trường.
Qua khái niệm cho thấy, mục đích của dạy học ngoại ngữ, không chỉ
đảm bảo cho sinh viên có một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần
hình thành, phát triển nhân cách cho sinh viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
Dạy học ngoại ngữ là quá trình truyền thụ, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo, phát triển năng lực ngoại ngữ. Dạy học ngoại ngữ thể hiện tính chất
hai mặt của một quá trình do hai chủ thể thực hiện là hoạt động dạy (do giảng
viên tiến hành) và hoạt động học (do sinh viên tiến hành) nhằm thực hiện các
mục đích, nhiệm vụ dạy học ngoại ngữ đề ra.
Với tư cách là một chuyên ngành đào tạo, mục tiêu dạy học ngoại ngữ là
nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của con người hiện đại, biết tiếp thu
những tinh hoa văn hoá của nhân loại làm giàu kiến thức cho bản thân, có kỹ
năng, kỹ xảo, năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ. Giao tiếp được hiểu như một
hoạt động đặc biệt bao gồm các kỹ năng thu, phát và xử lý thông tin (nghe, nói,
đọc, viết). Ngoại ngữ thực sự được sử dụng như công cụ trong giao tiếp, người
học dựa trên cơ sở đó có thể tự học suốt đời, nâng cao trình độ tư duy.
Nội dung dạy học ngoại ngữ nhằm giáo dục tư tưởng, đạo đức, bồi
dưỡng tri thức văn hoá, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Các yếu
tố này liên quan chặt chẽ với nhau hợp thành thể thống nhất và lấy khả năng
17




và hình thành thế giới quan khoa học, những phẩm chất tốt đẹp của con người
mới, đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
1.1.2. Khái niệm quản lý dạy học ngoại ngữ
* Quản lý
Quản lý là một thuộc tính của sự phát triển xã hội, là một yếu tố quan
trọng gắn chặt vào sự vận động và phát triển của xã hội loài người trong 3
yếu tố cơ bản: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý.
F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác
làm, sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Henrry Fayol (1886-1925), quan niệm: quản lý là một tiến trình bao
gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát
các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật
chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói
chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Mỹ Lộc, cho rằng “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.
Kế thừa cách tiếp cận của các nhà khoa học, chúng tôi cho rằng “Quản
lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng
dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới
mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.
* Quản lý dạy học
Quản lý dạy học là công việc rất phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề và
yếu tố như: mục tiêu, nội dung dạy học, giảng viên, sinh viên, phương pháp,
phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kết quả dạy học. Chính vì

19

20


Nội dung quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên thực chất là quản lý
việc thực hiện tốt các thành tố của quá trình dạy học, các nhiệm vụ quyết định
đến chất lượng giảng dạy của giảng viên, đó là việc cụ thể hoá mục tiêu đào
tạo, thông qua: Quản lý thực hiện tốt chương trình, nội dung, kế hoạch giảng
dạy của giảng viên; quản lý việc thực hiện giảng dạy của giảng viên theo
đúng quy chế, các qui định giáo dục, đào tạo của nhà trường; quản lý tốt các
điều kiện bảo đảm cho dạy học ngoại ngữ. Đồng thời quản lý tốt việc kiểm
tra, đánh giá kết quả giảng dạy của giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy, đạt được mục đích quản lý của nhà trường.
Chủ thể quản lý dạy học ngoại ngữ là Đảng uỷ, Ban Giám đốc, cơ quan
chức năng (Phòng Đào tạo, Phòng Chính trị, Ban Khảo thí và Kiểm định chất
lượng đào tạo, Hệ quản lý sinh viên), chủ thể trực tiếp quan trọng nhất là các
khoa giáo viên, đội ngũ giảng viên và chính bản thân mỗi sinh viên.
Đối tượng quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên là nội dung dạy học,
hoạt động học tập của sinh viên, tập thể sinh viên. Sinh viên vừa là khách thể
tiếp nhận các tác động, sự điều khiển, định hướng theo các quyết định của chủ
thể quản lý; vừa là chủ thể tự quản lý chất lượng học tập của bản thân. Tự
điều khiển, tự tổ chức quản lý của sinh viên giữ vai trò quan trọng đến chất
lượng học tập của mỗi sinh viên.
Phương pháp quản lý dạy học ngoại ngữ cho sinh viên là tổng thể
những cách thức, biện pháp tác động của các chủ thể quản lý trong Học viện
đến toàn bộ quá trình dạy học ngoại ngữ cho sinh viên, nhằm thực hiện có
hiệu quả hoạt động học tập theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định. Việc
xác định phương pháp quản lý dạy học ngoại ngữ phải đảm bảo tính khoa
học, thống nhất, khả thi, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của giảng viên,
tăng cường hiệu quả quản lý nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, trong đó
phương pháp quản lý hành chính, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương

tiêu và quy chế giáo dục, đào tạo của nhà trường; phát huy tốt vai trò của hệ

22


thống lãnh đạo, quản lý các cấp trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu; quá
trình dạy học ngoại ngữ, chủ thể quản lý phải tổ chức kiểm tra đánh giá khách
quan, chính xác; thường xuyên đối chiếu kết quả đạt được với mục tiêu đề ra
để có biện pháp điều chỉnh kịp thời. Quản lý mục tiêu dạy học ngoại ngữ phải
được chú trọng đến các yếu tố, các kỹ năng về ngữ pháp, khả năng trong học
nghe, nói, đọc viết và dịch.
Nội dung chương trình giảng dạy là văn bản do cơ quan có thẩm quyền
về giáo dục, đào tạo ban hành, được cụ thể thể hóa trong xây dựng, tổ chức
thực hiện ở nhà trường, là khâu trọng yếu quyết định chất lượng giảng dạy
của giảng viên, chất lượng học tập của sinh viên và là tiêu chí để đánh giá
chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường. Vì vậy, quản lý nội dung chương
trình giảng dạy gồm 2 khâu:
Thứ nhất, quản lý việc xây dựng nội dung chương trình giảng dạy phải
thực hiện tốt phân cấp quản lý, quy trình thực hiện và phê duyệt; việc xây
dựng nội dung chương trình giảng dạy phải bảo đảm cấu trúc nội dung
chương trình theo hướng chuẩn hóa, hệ thống, cơ bản, toàn diện, chuyên sâu,
quy định chuẩn kiến thức các môn học mà giảng viên giảng dạy và sinh viên
lĩnh hội, đáp ứng với mục tiêu đào tạo; nội dung chương trình giảng dạy phải
giải quyết hài hòa về tỷ lệ, cơ cấu giữa các môn học (môn thực hành tiếng,
môn lý thuyết tiếng, môn dịch, môn đất nước học, môn văn học sử), bảo đảm
sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ
năng tay nghề cho sinh viên.
Thứ hai, tập trung quản lý, đánh giá, kiểm tra việc tổ chức triển khai,
thực hiện nội dung chương trình giảng dạy từng môn học so với mục tiêu đào
tạo của nhà trường và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, là nhiệm vụ của tất

pháp giảng bài, điều kiện phương tiện bảo đảm cho quá trình giảng dạy; kế
hoạch thi, kiểm tra hết môn, các hoạt động thanh tra, kiểm tra giảng dạy...
Quá trình này, chủ thể quản lý cần tính đến các nguồn lực, điều kiện hiện có
24


của nhà trường để lựa chọn, xây dựng và ban hành các loại kế hoạch cho phù
hợp; tổ chức bố trí, sử dụng và phát huy vai trò của các lực lượng sư phạm,
các công cụ quản lý, phương pháp, phương tiện quản lý để đạt được hiệu quả
tối ưu trong tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý và dạy học ngoại ngữ của
giảng viên.
Kế hoạch dạy học nói chung, dạy học ngoại ngữ nói riêng là một văn
bản được xây dựng trên cơ sở hoàn cảnh thực tế của nhà trường phù hợp với
mục tiêu chung của ngành giáo dục như chỉ tiêu tuyển sinh, thực trạng đội
ngũ giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất... Từ đó, nhà trường sẽ có kế hoạch,
nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp từng giai đoạn phát triển.
Trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường, mỗi khoa, bộ môn ngoại
ngữ và mỗi giảng viên phải xây dựng kế hoạch giảng dạy của mình trước khi
bước vào năm học, đó là yêu cầu bắt buộc đối với từng giảng viên. Tuy nhiên,
trong quá trình lập kế hoạch, các khoa, bộ môn, giảng viên cũng cần có sự
theo dõi và điều phối chung để tạo khả năng phối hợp có hiệu quả cao giữa
các cơ quan trong nhà trường.
Trên cơ sở kế hoạch giảng dạy ngoại ngữ, nhà trường phân công nhiệm
vụ cho khoa, phòng, ban chức năng. Căn cứ vào nhiệm vụ, khả năng, trình độ
chuyên môn và định mức của từng giảng viên để trưởng khoa, trưởng bộ môn
phân công nhiệm vụ cho từng giảng viên. Kế hoạch cụ thể của từng giảng
viên phải thể hiện rõ nội dung công việc, thời gian thực hiện và kết quả công
việc đạt được. Kế hoạch này cần phải được thông qua bộ môn, lãnh đạo khoa
để mọi người biết và có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau. Căn cứ vào kế hoạch đã
đăng ký của từng giảng viên để đôn đốc, động viên, tạo điều kiện cho giảng

chủ đề “nghe, nói”. Giảng viên chủ động biên soạn tài liệu hướng dẫn sinh
viên học tập theo giáo trình, trong đó quy định cụ thể lịch trình giảng dạy,
mục tiêu của từng bài giảng, hướng dẫn tự học từng nội dung và thời điểm tổ

26


chức thảo luận để sinh viên chủ động tham gia vào quá trình dạy học ngoại
ngữ một cách tích cực và có hiệu quả nhất.
Làm tốt việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một
khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy của giảng
viên. Nhà quản lý cần quản lý nghiêm túc công tác kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập ngoại ngữ của sinh viên để có căn cứ đánh giá hiệu quả giảng dạy của
giảng viên, đồng thời đề ra những biện pháp phù hợp với trình độ, năng lực,
tâm sinh lý sinh viên giúp cho việc học tập ngày càng tiến bộ.
Cán bộ quản lý giáo dục nhà trường chỉ đạo chủ nhiệm khoa phải có kế
hoạch cụ thể chỉ đạo trực tiếp giảng viên thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của sinh viên, nhằm thúc đẩy hoạt động dạy học ngoại ngữ
của nhà trường ngày càng tiến bộ.
* Quản lý học tập của sinh viên
Quản lý việc học tập của sinh viên bao gồm những nội dung như kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng tìm tòi, giải quyết vấn đề mới. Thái độ đánh
giá, thái độ ứng xử, thái độ xúc cảm đối với thế giới khách quan, con người.
Cùng với tri thức, kỹ năng, hệ thống kinh nghiệm, tạo điều kiện để hình thành
niềm tin, lý tưởng phẩm chất đạo đức, cách ứng xử đúng đắn, thích hợp của
sinh viên với thế giới và con người.
Nội dung học ngoại ngữ phải được đổi mới theo hướng hiện đại, gắn
liền với thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xã hội và năng lực, nguyện vọng của
người học và được biểu hiện ở 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể là:
Kỹ năng nghe: nghe hiểu các cuộc hội thoại trực tiếp bằng ngôn ngữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status