1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
____________________
Lưu Trung Thủy
KỊCH BẢN VĂN HỌC
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SÂN KHẤU KỊCH
NÓI ĐƯƠNG ĐẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2017
2
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Người hướng dẫn khoa học: Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương.
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp
tại Trường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh) vào hồi.......giờ.......ngày......tháng.......năm
phản ánh và đề xuất hướng giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của thành phố,
đất nước hiện nay; tính chất chuyên nghiệp của công tác tổ chức biểu diễn và đội ngũ
diễn viên; sự thiếu thốn về cơ sở vật chất.... Điều này càng đặt ra nhu cầu về việc
nghiên cứu, tổng kết, đánh giá kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua.
Đối với nghiên cứu, phê bình văn học Thành phố Hồ Chí Minh, suốt thời gian
qua, trước những thăng trầm của văn học kịch, sân khấu kịch, những công trình nghiên
cứu, phê bình về văn học kịch và kịch bản văn học còn hết sức khiêm tốn. Chúng tôi
nhận thức rằng, để nghiên cứu kịch bản văn học với tư cách là một đối tượng nghiên
cứu của văn học thì người nghiên cứu sẽ gặp phải những khó khăn nhất định trong
đánh giá, nhìn nhận đối tượng, cũng như công chúng của nó so với các thể loại khác
của văn học. Tuy nhiên đã đến lúc giới nghiên cứu, phê bình văn học Thành phố Hồ
Chí Minh không thể dè dặt trước văn học kịch thành phố. Nhất là khi sân khấu kịch nói
ở Thành phố Hồ Chí Minh đang có chiều hướng rơi vào tình trạng khó khăn về khán
giả và nguyên nhân đầu tiên được nhiều người nêu lên là chất lượng của kịch bản văn
học.
Từ nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài “Kịch bản văn học trong sự phát triển
của sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh” cho luận án tiến sĩ của
mình, với mong muốn khảo sát, đánh giá về kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí
4
Minh trong hơn 20 năm qua trên phương diện nội dung lẫn nghệ thuật, từ đó chỉ ra
những đóng góp, hạn chế của kịch bản văn học, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất
một số giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kịch bản văn học ở thành phố.
2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn vấn đề
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là: kịch bản văn học của tác giả sinh sống
Thứ hai là những lý thuyết mang tính chất nền tảng về bản chất thẩm mỹ của
kịch nói mà Aristotle là người mở đầu vĩ đại, được bồi đắp bởi những nhà văn,
nhà lý luận hậu bối như Lessing, Hegel, Fretag…
Thứ ba là những lý thuyết kịch nói Phương Tây và kịch Nga hiện đại như: Kịch
hiện thực, Kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa, Kịch hiện thực tâm lý, Kịch tượng
trưng, Kịch biểu tượng, Kịch tự sự hay Kịch sử thi, Kịch phi lý...
Thứ tư là lý thuyết về thi pháp văn học và thi pháp kịch nói.
-
-
5
-
3.2.
Cuối cùng là lý thuyết về văn hóa, trong đó chúng tôi vận dụng lý thuyết về mối
quan hệ giữa văn hóa và văn học, lý thuyết về văn hóa vùng, lý thuyết về văn
hóa đại chúng.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng ba phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử, xã hội: tìm hiểu kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí
Minh trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của vùng Nam bộ thời hiện đại.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong
luận án của mình nhằm chỉ ra những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của kịch bản văn
học ở Thành phố Hồ Chí Minh.
6
tích và chỉ ra đặc điểm nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học ở ba thành phần:
xây dựng cốt truyện và kết cấu, xây dựng nhân vật, xây dựng ngôn từ.
- Thứ ba, trong quá trình phân tích nội dung và nghệ thuật xây dựng kịch bản văn
học, chúng tôi cố gắng chỉ ra xu hướng sáng tác của các tác giả và cả xu hướng
sử dụng kịch bản của sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh; sự tác động
của sân khấu và khán giả kịch nói đối với xu hướng sáng tác của kịch bản văn
học đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thứ tư, trên cơ sở chỉ ra những đặc điểm của kịch bản văn học ở Thành phố Hồ
Chí Minh, đặt trong sự tác động, ảnh hưởng của nhiều nhân tố, chúng tôi đề
xuất một số giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kịch bản văn học, góp phần
cho sự phát triển của văn học kịch và sân khấu kịch nói ở Thành phố Hồ Chí
Minh thời gian tới.
5. Cấu trúc của luận án
Bên cạnh phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm
4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh
đương đại.
Chương 2: Thể loại kịch nói và tiến trình hình thành, phát triển của kịch nói ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Xung đột trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 4: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trong kịch
bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
KỊCH NÓI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Các công trình, chuyên luận, bài viết về kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh
đương đại
Một số công trình, bài viết đề cập đến kịch bản văn học và sân khấu kịch nói
Thành phố Hồ Chí Minh đáng lưu ý như sau:
Nghiên cứu một cách hệ thống về nghệ thuật biên kịch Việt Nam hiện đại và
đương đại đáng lưu ý là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Sự phát triển nghệ
thuật biên kịch kịch nói Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, nghiệm thu năm 2004 tại Viện
Sân khấu-Điện ảnh (thuộc Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội) do Nguyễn
Chiến Thạc làm chủ nhiệm đề tài.
1.2. Những vấn đề đã nghiên cứu, bàn luận về kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh
đương đại
Tóm lại, kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh đương đại đã được nghiên cứu ở các
nội dung sau:
- Thứ nhất, mô tả và lý giải về sự chuyển mình và phát triển mạnh mẽ của kịch nói
ở thành phố, trong đó tập trung vào phương thức xã hội hóa sân khấu và mô
hình sân khấu nhỏ.
- Thứ hai, đánh giá hoạt động tổ chức biểu diễn kịch nói ở thành phố. Bên cạnh
việc nêu lên những thành tựu, các nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế, bất
cập của hoạt động tổ chức biểu diễn như: cơ sở vật chất, tính chất chuyên
nghiệp trong việc dàn dựng tác phẩm, đội ngũ diễn viên, áp lực về kinh doanh
của các sân khấu… đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt
động và sản phẩm nghệ thuật của các sân khấu kịch nói xã hội hóa ở thành phố.
- Thứ ba, phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật một số tác phẩm sân khấu
tiêu biểu, thu hút sự quan tâm của công chúng.
8
- Thứ tư, phân tích, đánh giá một số kịch bản văn học, trong đó tập trung chủ yếu
vào nội dung phản ánh; đồng thời bước đầu chỉ ra xu hướng sáng tác của các tác
giả kịch bản thành phố và nêu lên một số hạn chế trong nghệ thuật xây dựng
kịch bản.
CHƯƠNG 2:
THỂ LOẠI KỊCH NÓI VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA
KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chính vì vậy, tuy là một trong ba loại hình văn học (tự sự, trữ tình, kịch) nhưng
so với tự sự và trữ tình, kịch còn chịu sự chi phối của tính chất sân khấu. Và do đó, văn
học kịch mang ba đặc điểm cơ bản sau:
Lấy xung đột làm nội dung phản ánh
Phản ánh xung đột giúp kịch vượt qua những giới hạn về thời gian và không
gian của nghệ thuật trình diễn để chiếm lĩnh hiện thực đồng thời đáp ứng được tính chất
động của sân khấu.
Lấy hành động để triển khai xung đột
Hành động kịch được thể hiện và thúc đẩy thông qua hệ thống hành động của
nhân vật. Hệ thống hành động của nhân vật trong kịch bao gồm hành vi, suy nghĩ, động
tác, ngôn từ của nhân vật. Kịch tính được tạo nên do hành động của nhân vật. Hành
động của nhân vật trong kịch không phải là những hành động đơn lẻ mà là một chuỗi
những hành động nối tiếp nhau. Trong quá trình hành động, các nhân vật va chạm với
nhau, có khi phủ định lẫn nhau, từ đó làm thay đổi tư thế của mình so với khi mở đầu.
Lấy ngôn từ đối thoại làm chất liệu thể hiện
Chất liệu thể hiện của kịch chủ yếu là ngôn từ đối thoại của nhân vật. Ngôn từ
đối thoại trong kịch thực hiện nhiều chức năng như: miêu tả, tường thuật, trần thuật,
bộc lộ tính cách nhân vật và thể hiện hành động nhân vật cũng như hành động kịch. Vì
vậy ngôn từ đối thoại trong kịch bên cạnh những đặc điểm của ngôn ngữ văn học thì
nổi bật lên ba đặc điểm phổ biến là: khẩu ngữ, tính cách hóa, hành động.
Từ những đặc trưng trên, ở góc độ văn học, chúng tôi đi đến quan niệm về kịch
và kịch bản văn học như sau:
Kịch là một loại hình sáng tác của văn học, phản ánh những xung đột của cuộc
sống hoặc cá nhân thông qua hành động của nhân vật và ngôn từ đối thoại.
Kịch bản văn học là văn bản thuộc thể loại kịch, thể hiện quan niệm của tác giả
về cuộc sống và con người thông qua phản ánh xung đột, tổ chức hành động nhân vật
và bằng ngôn từ đối thoại.
2.2. Những đổi mới trong nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học hiện đại ở
Phương Tây
2.2.1. Hai giai đoạn đổi mới
được đẩy từ thấp đến cao trào, rồi hạ dần và kết thúc, theo quy luật nhân quả. Sự đổi
mới được thể hiện tập trung ở việc mở rộng giới hạn không gian, thời gian, quy mô tác
phẩm, thay đổi trật tự cấu trúc và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật.
Xu hướng thay đổi hoàn toàn nghệ thuật xây dựng tác phẩm so với kịch truyền
thống phải kể đến Kịch sử thi (Epic drama) của Bertolt Brecht, Kịch hiện thực tâm lý
của Chekhov và Kịch phi lý gắn liền với tên tuổi của Ionesco, Samuel Beckett và
Adamov. Các trường phái kịch này thay đổi hoàn toàn quan niệm về tác phẩm kịch và
kỹ thuật xây dựng tác phẩm truyền thống. Trong số các trường phái kịch này, ngoại trừ
Kịch sử thi của Bertolt Brecht còn giữ truyền thống xây dựng tác phẩm trên cơ sở lấy
cốt truyện làm thành phần quan trọng thì hai trường phái kịch còn lại không chú trọng
vào cốt truyện mà chú trọng vào xây dựng tình huống kịch. Hai trường phái kịch này
không theo hướng thúc đẩy hành động kịch qua quá trình hành động của nhân vật hay
sự va chạm về tính cách như kịch truyền thống mà chủ yếu là làm bật lên tính chất bất
động của nhân vật hoặc hành động của nhân vật không phải xuất phát từ bên trong
nhân vật quyết định mà bị chi phối bởi những điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài.
11
Tiếp nhận sau, kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh đương đại cũng có những tiếp
thu và vận dụng sáng tạo kỹ thuật xây dựng kịch bản của kịch nói hiện đại ở Phương
Tây, đóng góp cho văn học kịch thành phố nói riêng và văn học kịch Việt Nam nói
chung những tác phẩm mang xu hướng hiện đại của kịch nói thế giới.
2.3. Tổng quan về tiến trình hình thành và phát triển của kịch nói ở Thành phố
Hồ Chí Minh
2.3.1. Kịch nói ở Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh từ khi hình thành đến năm
1975
Thể loại kịch nói theo bước chân xâm lược của người Pháp xuất hiện tại Sài
Gòn (năm 1976 đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh) vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX. Lực lượng tiếp nhận kịch nói tại Sài Gòn chủ yếu là trí thức, công chức, học
sinh, sinh viên Tây học. Kịch nói được tiếp nhận từ nguyên bản kịch Pháp, Việt hóa,
năm có hơn 20 tác phẩm mới được ra đời và nhiều tác phẩm trong số đó đã đến với
công chúng thông qua sân khấu kịch nói. Điều đáng tiếc trong sự phát triển của văn học
kịch thành phố là hiện nay công chúng chưa được thưởng thức nhiều các tác phẩm văn
học kịch qua văn bản.
CHƯƠNG 3:
XUNG ĐỘT TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Xung đột kịch
3.1.1. Xung đột là đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của kịch
Xung đột không phải là đối tượng phản ánh của riêng thể loại kịch. Nhưng ở thể
loại kịch phản ánh xung đột là đặc tính của thể loại này vì mục tiêu cuối cùng của kịch
bản văn học là được dựng trên sân khấu. Nội dung của kịch bản chịu sự chi phối của
không gian-thời gian thực tế của một đêm diễn và tính chất động của hoạt động trình
diễn. Do vậy, tác giả khó chiếm lĩnh và thể hiện hiện thực như thể loại văn xuôi mà
phải thể hiện tập trung và dồn nén. Cho nên việc chọn trạng thái mà hai mặt đối lập của
mâu thuẫn đã phát triển đến mức độ đấu tranh, va chạm với nhau, đòi hỏi phải giải
quyết là cách vừa có thể chiếm lĩnh hiện thực, thể hiện bản chất của cuộc sống vừa
khắc phục được sự hạn chế về không gian-thời gian và đáp ứng được tính chất động
của một thể loại mang tính chất trình diễn.
Xung đột kịch mang hai đặc điểm cơ bản: một là tập trung thể hiện mâu thuẫn
của cuộc sống và cá nhân ở đỉnh điểm, cao trào; hai là có quá trình phát triển và kết
thúc.
3.1.2. Mối quan hệ giữa xung đột và các thành phần của kịch
Đối với hành động nhân vật, mối quan hệ giữa xung đột và hành động nhân vật
trong kịch là mối tương tác hai chiều. Xung đột là động lực thúc đẩy nhân vật hành
động. Còn hành động của nhân vật làm cho xung đột bộc lộ, vận động và được giải
quyết.
Mặt khác, xung đột là động lực chính để hành động nhân vật phát triển. Mức độ
tăng hay giảm của xung đột cũng làm cho nhịp độ và cường độ hành động của nhân vật
tăng giảm theo.
3. Tình yêu-hôn nhân-gia đình.
4. Đạo đức cá nhân.
Số lượng tác phẩm ở các mảng đề tài có khác nhau nhưng nhìn chung phạm vi
hiện thực mà kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm khá rộng chứ không chỉ tập
trung ở những đề tài về tình yêu đôi lứa như một số nhận định của dư luận gần đây. Đi
vào nội dung cụ thể thì phạm vi hiện thực phản ánh của kịch bản văn học ở Thành phố
Hồ Chí Minh khá rộng.
Đề tài liên quan đến phạm vi hiện thực cá nhân được kịch nói Thành phố Hồ
Chí Minh thể hiện nhiều nhất. Riêng trong tổng số 78 tác phẩm mà luận án khảo sát thì
số lượng tác phẩm liên quan đến phạm vi hiện thực cá nhân chiếm 73%. Xu hướng
phản ánh hiện thực cá nhân của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm trong xu
hướng chung của kịch nói Việt Nam.
14
3.2.2. Nội dung xung đột theo đề tài
3.2.2.1. Xung đột trong mảng đề tài về thời sự, chính luận và lịch sử
Nhìn chung, kịch bản văn học Thành phố Hồ Chí Minh ở mảng đề tài thời sự,
chính luận đã phản ánh được phần nào những vấn đề mà công chúng quan tâm hiện
nay. Tuy nhiên, nhiều kịch bản chỉ mới dừng lại ở đặt vấn đề hoặc nêu lên xung đột
chứ tác giả chưa đi đến bản chất, chưa thực sự đặt ra rốt ráo và gợi mở hướng giải
quyết thuyết phục để công chúng nghiền ngẫm. Các nhân vật trong phạm vi xung đột
này cũng hành động một cách chừng mực và tiết chế, chưa quyết liệt. Đây có thể xem
là điều đáng tiếc trong nội dung của kịch bản văn học ở thành phố. Kịch bản văn học
thành phố thiếu những tác phẩm chính luận tiêu biểu, sắc sảo nhất là khi đề cập đến
những bất cập trong quản lý xã hội, sự thoái hóa, biến chất, suy thoái đạo đức của một
bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay, tệ nạn tham ô, tham nhũng ngày càng tinh vi,
chiều hướng xuống cấp của đạo đức xã hội... mà công chúng quan tâm.
Như một sự bổ sung cho những thiếu hụt ở mảng đề tài thời sự, chính luận, các
tác phẩm ở mảng đề tài lịch sử lại nêu lên được những xung đột mang tính chất thời sự,
thuộc mảng đề tài tình yêu-hôn nhân-gia đình. Cách tạo lập và lý giải xung đột của các
tác giả chủ yếu dựa trên nhận thức và hành động mang tính chất cá nhân chứ chưa đi
sâu vào yếu tố tác động của bối cảnh, môi trường xã hội khiến cho nội dung xung đột
của phần lớn các kịch bản văn học khá mờ nhạt, hành động nhân vật yếu và vì vậy
thông điệp đến từ các tác phẩm này cũng không sâu mà chỉ mới dừng lại ở sự cảnh
tỉnh.
3.2.2.3. Xung đột trong mảng đề tài về đạo đức cá nhân
Xung đột trong các tác phẩm thuộc mảng đề tài này thường là xung đột giữa cái
thiện và cái ác, giữa tích cực và tiêu cực, cho nên thường diễn ra gay gắt, kịch tính.
Xung đột trong đề tài này ít nhiều được các tác giả đặt ra và lý giải từ góc độ tác
động tiêu cực của xã hội lên đạo đức, nhân phẩm con người. Các tác phẩm như một sự
cảnh báo và truyền đến công chúng thông điệp về giữ gìn nhân phẩm, đạo đức trước
những cám dỗ của vật chất, danh vọng.
Nhìn chung, phần lớn các kịch bản văn học thuộc mảng đề tài này đều chỉ ra tác
hại và ảnh hưởng của sự suy thoái nhân cách, đạo đức cá nhân hiện nay đối với tính
chất nền tảng, tính ổn định, bền vững của gia đình và xã hội. Do đó, thông điệp truyền
đến khán giả là giữ gìn nhân phẩm, đạo đức trước những cám dỗ của vật chất, danh
vọng. Điều hạn chế là tuy nhìn thấy thực trạng và ảnh hưởng, tác hại của suy thoái đạo
đức cá nhân đối với gia đình, xã hội, quốc gia nhưng nhiều kịch bản chưa lý giải thấu
đáo căn nguyên của sự suy thoái đó, chưa nhận thấy những nguyên nhân tạo nên suy
thoái như từ tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, từ việc chưa gắn chặt giữa
phát triển kinh tế với xây dựng văn hóa, đạo đức hay từ việc buông lỏng quản lý và
giáo dục văn hóa, đạo đức. Việc lý giải chỉ mới dừng lại ở góc độ nhận thức và hành
động mang tính chất cá nhân nên còn thiếu sức thuyết phục. Ngoài ra, ở một số kịch
bản, nhất là kịch bản được gọi là kịch kinh dị, kịch tính được tạo nên không phải là từ
sự va chạm, đấu tranh của các nhân vật mà từ những thủ pháp tạo nên không khí hồi
hộp mang tính chất hoang đường như hồn ma, những sự kiện ngẫu nhiên kỳ bí… trong
khi đó ý nghĩa xã hội của hành động kịch lại không được tác giả lý giải thấu đáo hoặc
nêu lên một cách mờ nhạt, khiến cho tác phẩm nặng tính chất giải trí và hiệu quả giáo
dục, hướng thiện không cao.
giúp công chúng trải nghiệm, khám phá những giằng xé, day dứt trong nội tâm, nội
cảm của con người trước những thay đổi, biến chuyển của cuộc sống hôm nay.
CHƯƠNG 4:
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ NGÔN NGỮ
TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1. Xu hướng nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh
Nằm trong tiến trình chung của kịch nói Việt Nam từ khoảng thập niên cuối của
thế kỷ XX đến nay, nghệ thuật xây dựng kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh
phát triển theo hai xu hướng:
17
-
Thứ nhất, theo những nguyên tắc nghệ thuật của kịch nói cổ điển, trên nền tảng
quan niệm và tư duy nghệ thuật của Chủ nghĩa hiện thực và Chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa.
-
Thứ hai, tiếp thu một số kỹ thuật xây dựng kịch bản mới của kịch nói hiện đại ở
Phương Tây.
4.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu
Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đa phần thuộc dòng kịch kịch tính hay hòa
cảm. Nhìn chung, cốt truyện đều theo mô hình kết cấu kịch 5 hồi. Với mô hình tổ chức
sự kiện theo 5 hồi, hành động nhân vật vận động theo quy luật nhân quả và thời gian
tuyến tính. Sự khác biệt chỉ nằm ở phần cao trào và phần mở nút thành một, đồng thời
không gò bó về thời gian và không gian hành động. Trong xây dựng cốt truyện, tác giả
kịch bản ở Thành phố Hồ Chí Minh thường sử dụng sự kiện bất ngờ ở phần cao trào và
đại nhưng có lẽ trong tình hình dàn dựng tác phẩm sân khấu hướng đến nhu cầu giải trí
của công chúng đại chúng hiện nay thì việc các kịch bản văn học giải quyết xung đột
theo cách này thường khó được lựa chọn để dàn dựng trên sân khấu. Cho nên xây dựng
và chuyển tải nội dung xung đột theo hướng cách tân, hiện đại của kịch bản văn học ở
Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ mới dừng lại ở một vài tác phẩm mà chưa trở thành
xu hướng chung.
Bên cạnh đa số tác phẩm xây dựng cốt truyện theo nguyên tắc truyền thống và
khép kín thì kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng có những kịch bản văn học linh
hoạt, sáng tạo trong xây dựng cốt truyện và cấu trúc kịch bản hoặc theo xu hướng xây
dựng tình huống, với kết cấu mở. Nhìn chung trong nỗ lực đổi mới nghệ thuật xây
dựng kịch bản, các tác giả đã tiếp thu lối cấu trúc tác phẩm mở của kịch nói hiện đại
Phương Tây phù hợp với thói quen tiếp nhận kịch của khán giả thành phố. Việc tiếp thu
dạng cấu trúc này theo hai hướng, thứ nhất đặt những nhân vật của mình vào sự kiện
giả định để nhân vật hành động và thứ hai là tạo tình huống để nhân vật bộc lộ thế giới
nội tâm và nội cảm của mình. Sự phù hợp thể hiện ở chỗ vẫn có yếu tố “truyện” để
người xem dõi theo chứ không hoàn toàn phi cốt truyện như dòng Kịch hiện thực tâm
lý hay Kịch phi lý.
4.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Ở góc độ nội dung, hình tượng nhân vật trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ
Chí Minh khá phong phú Nhưng nếu khái quát lên thì kịch bản văn học thành phố phổ
biến với hai loại nhân vật là: nhân vật đời thường và nhân vật lịch sử.
Ở góc độ kiểu nhân vật, kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí Minh phổ biến
với kiểu nhân vật tính cách, được xây dựng theo nguyên tắc của Chủ nghĩa hiện thực.
Ngoài ra, kịch bản văn học thành phố bước đầu có những tác phẩm xây dựng nhân vật
biểu trưng, biểu tượng.
Mặc dù số lượng kịch bản thời gian qua khá lớn, kiểu, loại nhân vật được thể
hiện trong kịch bản phong phú nhưng kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa có
nhiều hình tượng nhân vật lưu dấu sâu đậm trong tâm trí của độc giả cũng như khán
giả.
Một vấn đề nữa trong xây dựng nhân vật của kịch bản văn học ở Thành phố Hồ
kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bên cạnh những
kịch bản đạt chuẩn mực về xây dựng ngôn ngữ nghệ thuật thì cũng còn không ít những
kịch bản xây dựng ngôn ngữ chỉ mới ở dạng thô, không chau chuốt, mang tính chất tự
nhiên khiến cho sức hấp dẫn của tác phẩm giảm sút. Ngôn ngữ đối thoại thiếu đi tính
chất chọn lọc về mặt ngôn từ nên kịch bản văn học thiếu chiều sâu.
4.4.2. Ngôn ngữ độc thoại và bàng thoại
Ngôn ngữ độc thoại và bàng thoại trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí
Minh thể hiện chức năng chung của dạng ngôn ngữ này trong kịch nói.
Khi chuyển từ ngôn ngữ đối thoại sang ngôn ngữ độc thoại, tác giả kịch bản
thường chỉ dẫn độc giả như: độc thoại, thầm thì, nói một mình, nói bằng ý nghĩ, lầm
bầm... cũng có khi nhân vật nói một mình với một bức tranh, bức ảnh hoặc kỷ vật. Sự
khác biệt giữa ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại là ở chỗ lời nói của nhân vật
hướng đến bản thân mình chứ không hướng đến đối tượng bên ngoài.
Ngôn ngữ độc thoại thường giúp bộc lộ điều mà nhân vật cảm nhận, suy nghĩ
thật sự, khác với nội dung mà nhân vật đối thoại; thể hiện đấu tranh tư tưởng hay sự tự
thú của nhân vật với bản thân mình; góp phần bộc lộ và làm rõ động cơ của hành động,
những toan tính của nhân vật.
20
Ngôn ngữ bàng thoại của nhân vật trong kịch bản văn học ở Thành phố Hồ Chí
Minh cũng là một thủ pháp nghệ thuật tạo nên không khí sinh động của kịch bản đồng
thời góp phần khắc họa tính cách nhân vật. Ngôn ngữ bàng thoại thể hiện vai trò bổ
sung thêm thông tin cho đoạn đối thoại, suy nghĩ của nhân vật hoặc giúp nhân vật giải
thích, phân trần thêm.
Ngôn ngữ độc thoại và bàng thoại trong kịch bản văn học thành phố mang chức
năng và đặc điểm phổ biến của hai loại ngôn ngữ này trong kịch bản văn học Việt Nam
hiện đại. Với những chức năng như vậy, có thể thấy rằng, bên cạnh là một thủ pháp
nghệ thuật, ngôn ngữ đối thoại góp phần khắc họa chân thật tính cách của nhân vật. Hai
loại ngôn ngữ này cùng ngôn ngữ đối thoại giúp công chúng hình dung thêm tính cách
Chính quyền thành phố và cơ quan quản lý trong lĩnh vực sân khấu, Hội sân
khấu, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh cần tổng kết, đánh giá một cách hệ thống
về kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 năm qua, ở tất cả các cấp độ từ cơ chế,
quản lý, tổ chức hoạt động cho đến kịch bản văn học, tác phẩm sân khấu, đội ngũ tác
giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, công tác đào tạo, lý luận-phê bình…
Chính quyền và cơ quan quản lý trong lĩnh vực sân khấu của thành phố cần xác
định vị trí của kịch nói trong đời sống văn hóa-nghệ thuật của thành phố, từ đó thay đổi
cách ứng xử và xác định hướng phát triển của thể loại văn học, nghệ thuật này ở thành
phố thời gian tới.
Chính quyền và cơ quan quản lý trong lĩnh vực sân khấu của thành phố chọn lọc
đầu tư cho kịch bản văn học và dàn dựng. Điều này sẽ kích thích tác giả kịch bản sáng
tạo, đồng thời góp phần giúp các sân khấu xã hội hóa và đội ngũ nghệ sĩ tập trung dàn
dựng những tác phẩm chất lượng về mặt nội dung, nghệ thuật, góp phần nâng cao thẩm
mỹ cho khán giả. Cách làm này giúp các sân khấu không bị chi phối bởi vấn đề tài
chính, áp lực kinh doanh cũng như tránh được tình trạng bao cấp từ đầu vào cho đến
đầu ra của tác phẩm như đã và đang thực hiện ở các nhà hát kịch nhà nước.
Thành phố đầu tư xây dựng nhà hát, sân khấu kịch đạt tiêu chuẩn, cho các sân
khấu xã hội hóa thuê để tổ chức biểu diễn vừa nhằm hỗ trợ các sân khấu xã hội hóa về
địa điểm hoạt động vừa đảm bảo cơ sở vật chất cho việc sáng tạo các tác phẩm kịch nói
chuyên nghiệp, nghiêm túc.
Cơ quan quản lý về sân khấu cần định chuẩn và công bằng trong cấp giấy phép,
phê duyệt tác phẩm sân khấu kịch nói nhằm tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng
cho các tác phẩm chất lượng đến với khán giả, chứ không phải cao thấp lẫn lộn như
hiện nay.
Thành phố cần có kế hoạch hỗ trợ đưa các tác phẩm kịch nói đến với giới trẻ,
mà trước hết là đối tượng sinh viên, học sinh. Ngoài ra, thành phố hỗ trợ đưa tác phẩm
lên truyền hình và in kịch bản văn học để tác phẩm được phổ biến đến đông đảo khán
giả trẻ.
Cần tăng cường phối hợp giữa Hội sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh và Hội
Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phát huy tiềm năng và nâng cao năng lực của
thuật Phương Tây và cả các nước Phương Đông quanh ta, kịch nói luôn là nghệ thuật
tiên phong trong phản ánh hiện thực xã hội và tâm lý cá nhân, nhạy cảm với thời cuộc
và nhận lãnh trách nhiệm khai sáng, khai trí. Hơn 20 năm qua, với tâm huyết và nỗ lực
của các nghệ sĩ, kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có được diện mạo khởi sắc và là
món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân thành phố. Nhưng kịch nói thành phố
duy trì sự tồn tại đến đây thì tiếp tục phát triển theo hướng nào nữa là trăn trở của
chúng tôi trong luận án này. Chúng tôi nhận thức rằng luận án chỉ mới là khởi đầu nhỏ
trong nghiên cứu, tổng kết, đánh giá kịch bản văn học đương đại ở Thành phố Hồ Chí
Minh. Những nhận định của chúng tôi có thể còn nhiều điều phải tiếp tục trao đổi do
những nguyên nhân xuất phát từ tính chất của đối tượng nghiên cứu, tư liệu, tài liệu và
cả năng lực chuyên môn của bản thân người thực hiện. Nhưng chúng tôi thực hiện với
tinh thần khách quan và trân trọng những cống hiến của các nghệ sĩ đối với văn học
kịch và sân khấu kịch thành phố. Chúng tôi hy vọng luận án góp phần vào việc mô tả,
nhìn lại một cách tổng thể những vấn đề cơ bản liên quan đến kịch bản văn học đương
đại ở Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó có thể hướng vào những trọng tâm nghiên cứu sâu
hơn.
Cuối cùng, ở góc độ giải pháp, chúng tôi cho rằng, văn học kịch, tác giả kịch
bản không thể thay đổi toàn bộ cục diện của kịch nói thành phố mà cần sự thay đổi
23
đồng thời của tất cả các thành phần liên quan. Bên cạnh đó, việc đổi mới phải thực hiện
quyết liệt với vai trò hỗ trợ của nhà nước mà cụ thể ở đây là chính quyền, cơ quan quản
lý về sân khấu và Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh. Đổi mới phải trở thành chủ
trương, động lực, giải pháp nâng cao chất lượng kịch nói thành phố chứ không dừng lại
ở một số điểm, mang tính chất phong trào. Đã đến lúc, chính quyền Thành phố Hồ Chí
Minh cần thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển của kịch nói ở thành phố. Bởi
nếu chỉ dựa vào ý thức tự thân của các sân khấu kịch và người nghệ sĩ mà không có sự
hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước thì chắc chắn kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng
lại tiếp tục đi trên con đường như thời gian vừa qua. Điều đó khiến cho kịch nói thành
đồng Lý luận, Phê bình Nghệ thuật và Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Thành
phố Hồ Chí Minh, trang 229-240.
5. Gibert C.F.Fong (1990), Lưu Trung Thủy (dịch), “Ảnh hưởng của Phương
Tây và bình minh của kịch Trung Quốc hiện đại”, Tạp chí Khoa học Văn hóa và Du
lịch, Trường Cao đẳng văn hóa Nghệ thuật & Du lịch Sài
năm 2013, trang 119-137.
n, số 14 (68), tháng 11