LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan số liệu trong trong bài viết này là chính xác, trung thực và
đề tài “Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng” được trình bày là nghiên cứu của
tác giả, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nội dung đề tài nghiên cứu có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin
được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu của
luận văn.
Đề tài nghiên cứu này được hoàn thành và có sự giúp đỡ của Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng và Khối Kiểm toán nội bộ của Ngân
hàng. Tác giả chân thành cảm ơn sự tận tình hướng dẫn của PGS.TS. Trần Huy
Hoàng. Tác giả cũng chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu, các nhà quản trị của
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng và các nhà quản trị của
Ngân hàng trong đề tài nghiên cứu này đã giúp đỡ tác giả trong việc tiếp cận các tài
liệu nghiên cứu.
Tác giả luận văn
Võ Đông Phong
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN:
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM:
Ngân hàng thương mại
TMCP:
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Trang
2.1
Sơ đồ tổ chức VPBank ............................................................................. 41
2.2
Sơ đồ tổ chức Khối KTNB VPBank ......................................................... 43
2.3
Dư nợ VPBank từ năm 2008 đến năm 2012 ............................................. 44
2.4
Các tiêu chí rủi ro tín dụng áp dụng lập kế hoạch kiểm toán năm ............ 49
2.5
06 giai đoạn thực hiện kiểm toán trong quy trình KTNB VPBank .......... 50
3.1
Ma trận kiểm toán nội bộ .......................................................................... 80
Thống kê các đơn vị kiểm toán theo kế hoạch và số lần kiểm toán đột xuất,
giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo ........................................................... 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành lập từ tháng 8/1993, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - VPBank,
tiền thân là Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh đã có những bước
phát triển vững chắc trong suốt lịch sử của ngân hàng. Đặc biệt từ năm 2010, VPBank
đã tăng trưởng vượt bậc với việc xây dựng và triển khai chiến lược chuyển đổi toàn
diện. Theo chiến lược này, VPBank đặt mục tiêu trở thành một trong 5 ngân hàng
TMCP hàng đầu Việt Nam và một trong 3 ngân hàng TMCP bán lẻ hàng đầu Việt
Nam vào năm 2017.
Để đạt mục tiêu đề ra, các Chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng TMCP VPBank
đã có những thay đổi và tăng trưởng mạnh mẽ trong các hoạt động của đơn vị, đặc
biệt là hoạt động tín dụng. Song, hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro cao do hệ
thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản lý rủi ro còn nhiều
hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao… Để kiểm soát rủi ro tín
dụng đòi hỏi Khối Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP VPBank cũng phải nâng
cao chất lượng hoạt động kiểm toán tín dụng. Tuy nhiên, việc tổ chức và hoạt động
kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP VPBank
vài năm gần đây còn nhiều lúng túng, bất cập và thiếu kinh nghiệm, chất lượng kiểm
toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP VPBank chưa đáp ứng được kỳ
vọng từ phía Ban lãnh đạo Ngân hàng.
Từ kinh nghiệm thực tiễn làm việc tại Khối Kiểm toán nội bộ VPBank cũng như
các lý luận khoa học từ trường Đại học kinh tế HCM, tác giả đã chọn đề tài “Nâng
cao chất lượng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Việt Nam Thịnh Vượng” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế.
luận văn kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ hoạt
động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NHTM
1.1.
KIỂM TOÁN NỘI BỘ NHTM
1.1.1. Kiểm toán nội bộ
1.1.1.1.
Khái niệm kiểm toán nội bộ
Năm 1978, IIA chính thức đưa ra định nghĩa về KTNB trong các Chuẩn mực thực
hành KTNB chuyên nghiệp (Standards for the Professional Practice of Internal
Auditing). Theo IIA: “KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên
trong một tổ chức để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách
là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó. Đó là một loại hình kiểm soát được thực hiện
bằng cách kiểm tra và đánh giá sự đầy đủ và tính hiệu lực của các loại hình kiểm soát
khác. Mục tiêu của KTNB là giúp đỡ cho các thành viên của tổ chức thực hiện một
cách có hiệu quả nhiệm vụ; Để đạt được mục tiêu này, KTNB cung cấp cho các thành
Nguyên tắc kiểm toán nội bộ
Có 3 nguyên tắc cơ bản mà KTNB phải tuân thủ là nguyên tắc độc lập, khách quan
và chuyên nghiệp.
Yêu cầu về độc lập của KTNB thể hiện ở mặt tổ chức, KTNB phải có đủ thẩm
quyền để thực hiện các mục tiêu kiểm toán của mình. Muốn vậy, bộ máy KTNB phải
chịu trực thuộc một người đủ quyền lực để ủng hộ sự độc lập của KTNB, để đảm bảo
một phạm vi kiểm toán rộng rãi, bảo đảm sự xem xét đầy đủ đối với báo cáo kiểm
toán và có những biện pháp thích đáng trên cơ sở các kiến nghị của KTV.
Yêu cầu khách quan đòi hỏi KTNB cần duy trì một thái độ độc lập trong quá trình
thực hiện công việc kiểm toán. KTV không được tham gia vào việc thiết kế, cài đặt
hay vận hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo tính khách quan.
Yêu cầu về chuyên nghiệp thể hiện kiểm toán viên nội bộ phải là người có kiến
thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương
vị, các công việc chuyên môn khác của đơn vị.
1.1.1.3.
Phạm vi kiểm toán nội bộ
Phạm vi KTNB rất rộng bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
hoạt động.
Kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm tra và xác nhận hoặc đưa ra ı kiến về tính
5
trung thực và hợp lí của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các đơn
vị được kiểm toán.
mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt động của NHTM.
1.2.
KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHTM
1.2.1. Những vấn đề chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân
hàng thương mại.
6
1.2.1.1.
Khái niệm
Tín dụng
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa hai chủ thể là bên
cho vay (ngân hàng hoạc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp hoặc các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi
vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay cam kết hoàn
trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán.
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro gây ra tác động tiêu cực đối với thu nhập, vốn của tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do bên được cấp tín dụng, bên có
nghĩa vụ hoặc đối tác (bao gồm cả các quốc gia) không thực hiện đúng hoặc không
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết với tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
KTNB hoạt động tín dụng là việc kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, thích hợp, hiệu
lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng; đánh giá sự tuân thủ quy định,
- Toàn bộ doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ tính đến thời điểm kiểm toán.
- Toàn bộ hồ sơ tín dụng hiện có tại các Chi nhánh/phòng giao dịch bao gồm các
hồ sơ tín dụng còn dư nợ hoặc đã hết dư nợ, các hồ sơ trong hạn hoặc đã chuyển nợ
quá hạn.
Khi thực hiện KTNB hoạt động tín dụng, KTV có thể áp dụng phương pháp chọn
mẫu để chọn lọc các tiêu chí, nội dung và hồ sơ trong các phạm vi trên.
1.2.1.4.
Đối tượng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
Đối tượng KTNB hoạt động tín dụng tại NHTM bao gồm:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng mà cụ thể là các chính sách, quy định, quy
trình tín dụng, kể cả các thủ tục kiểm soát tín dụng tại NHTM.
- Các hồ sơ tín dụng, các báo cáo tín dụng cũng như các thông tin tín dụng trên
các chương trình công nghệ thông tin của NHTM.
- Các đơn vị, cá nhân làm việc hoặc liên quan đến nghiệp vụ tín dụng trong toàn
hệ thống NHTM.
- Trong một số trường hợp, KTNB cũng có thể kiểm toán thông qua phương
pháp đối chiếu trực tiếp với các KH vay vốn tại NHTM.
8
Nhiệm vụ chính của KTV thực hiện kiểm toán nghiệp vụ tín dụng tại Hội sở
chính là đánh giá được vai trò của các phòng/ban nghiệp vụ tại Hội sở trong việc tham
mưu, tư vấn cho HĐQT và Ban Tổng Giám đốc trong quá trình xét duyệt cho vay,
ban hành văn bản chế độ và quản trị điều hành hoạt động tín dụng; tại các CN,
Chi nhánh/phòng giao dịch trong hệ thống ngân hàng là đánh giá việc chấp hành
chính sách tín dụng, quy chế cho vay, các quy định và hướng dẫn liên quan đến hoạt
động tín dụng.
trung theo các tiêu chí này là quá lớn. Các nội dung kiểm toán cơ cấu tín dụng gồm:
- Kiểm toán việc triển khai thực hiện chính sách tín dụng về cơ cấu tín dụng,
chính sách khách hàng về đối tượng quan hệ khách hàng.
- Kiểm toán về tốc độ tăng trưởng tín dụng so với cùng kı, đầu năm và mức độ
hoàn thành kế hoạch.
- Kiểm toán mức độ tập trung tín dụng theo các tiêu chí: ngành nghề, đối tượng
khách hàng, khu vực địa lí, loại tiền tệ của khoản vay, …
- Kiểm toán chất lượng tín dụng trên cơ sở so sánh tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu, nợ
có khả năng mất vốn thực tế đến thời điểm kiểm toán với tỷ lệ đó do đơn vị cung cấp.
1.2.2.3.
Kiểm toán tổ chức và thực hiện quy trình tín dụng
Kiểm toán về tổ chức, chỉ đạo điều hành nghiệp vụ tín dụng:
Kiểm toán các quy định về cơ cấu tổ chức: các phòng/ban chức năng, nhiệm vụ
của từng bộ phận để đánh giá tính hợp lí, hiệu quả của cơ cấu tổ chức hiện tại.
Kiểm toán việc triển khai chế độ, thể lệ và các văn bản chỉ đạo của ngân hàng.
Kiểm toán việc bố trí cán bộ làm công tác tín dụng như chất lượng, trình độ cán
bộ.
Kiểm toán việc phân tách chức năng giữa tiếp cận khách hàng, nhận đơn xin vay
vốn với xem xét, thẩm định tín dụng, kiểm tra, giám sát với khoản tín dụng đã cấp.
Kiểm toán các hệ thống xếp hạng, phân loại khách hàng có hiệu quả không? Có
giúp đánh giá khả năng tài chính của khách hàng được chính xác, nhanh chóng không.
Kiểm toán việc thực hiện quy trình cấp tín dụng:
Thực chất là xem xét, đánh giá quy trình cấp tín dụng của đơn vị thông qua đánh
giá từng bước của quy trình cấp tín dụng từ bước tiếp xúc khách hàng và nhận hồ sơ
vay; thẩm định tín dụng; quyết định cho vay, cam kết cho vay và giải ngân; giám sát
tín dụng; quản lí hồ sơ, lưu trữ tào sản bảo đảm và xử lí các khoản nợ xấu.
11
tại nhà/địa điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng không.
- Quản lí hồ sơ và lưu trữ tài sản bảo đảm: kiểm tra xem có quy định tách bạch
bộ phận quản lí hồ sơ vay và hồ sơ tài sản bảo đảm không, trật tự hồ sơ bảo quản có
khoa học không, quy trình bảo quản, xuất nhập hồ sơ có đúng trình tự quy định; so
sánh số liệu kế toán và của kho quỹ có khớp đúng không, kiểm toán việc giám sát đối
với việc sử dụng tài sản cầm cố theo định kỳ.
1.2.2.4.
Kiểm toán các hồ sơ cấp tín dụng
Nội dung kiểm toán các hồ sơ cấp tín dụng bao gồm:
Phân loại danh mục tín dụng: sẽ dựa vào các yêu tố: hệ thống kiểm soát nội bộ
của chi nhánh, quy mô danh mục tín dụng, quy mô tổng tài sản, quy mô lợi nhuận.
Việc phân loại danh mục tín dụng sẽ quyết định việc chọn mẫu hồ sơ tín dụng để
kiểm tra dựa vào mức độ trọng yếu của các khoản cấp tín dụng.
Xác nhận nợ vay: căn cứ vào sao kê khế ước, sổ kế toán, các khế ước đang còn
nợ để xác định số tiền khách hàng đang còn nợ ngân hàng. Trên cơ sở đối chiếu với
xác nhận số dư từ khách hàng để so sánh , nếu có chênh lệch cần yêu cầu đơn vị được
kiểm toán giải trình. Việc xác nhận nợ vay chỉ thực hiện đối với các khoản vay có dư
nợ lớn.
Kiểm toán việc sử dụng tiền vay: nhằm xác định khách hàng sử dụng vốn vay có
đúng mục đích không bằng cách kiểm tra chứng từ chứng minh mục đích sử dụng
vốn kết hợp với kiểm tra thực tế tài sản được hình thành từ tiền vay.
Kiểm toán khả năng trả nợ của khách hàng: trên cơ sở phân tích thông tin tài
chính (nhóm chỉ tiêu cân nợ, nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu sinh lời, nhóm
chỉ tiêu hoạt động) và thông tin phi tài chính (tình hình thị trường, tình hình đối tác,
môi trường kinh doanh, trình độ quản lí của ban điều hành, tư cách lãnh đạo, tình hình
tiêu đã đề ra. HĐQT và Ban Tổng Giám đốc NHTM có trách nhiệm thiết lập và duy
trì hệ thống kiểm soát nội bộ. KTNB đưa ra đảm bảo cho HĐQT, Ủy Ban kiểm toán
và Ban Tổng Giám đốc về hệ thống kiểm soát nội bộ được vận hành một cách hiệu
quả như được kỳ vọng. Với vai trò đảm bảo sự tuân thủ, KTNB hoạt động tín dụng
NHTM chỉ ra những mặt được và những mặt còn tồn tại trong hoạt động cấp tín dụng
của NHTM, đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ trong
quy trình cấp tín dụng, đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và
13
giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Thông qua báo cáo KTNB, HĐQT và Ban
Tổng Giám đốc NHTM có thể quản lí và kiểm soát rủi ro tín dụng tốt hơn, tăng khả
năng đạt được mục tiêu kinh doanh là giảm thiểu nợ xấu phát sinh. Bên cạnh đó, hoạt
động KTNB trong hoạt đông tín dụng còn chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quy
trình, quy định trong việc cung cấp sản phẩm tín dụng cho KH; tư vấn cho Ban Tổng
Giám đốc để các quy trình, quy định nội bộ ngày càng hoàn chỉnh hơn.
1.2.3.2.
Kiểm toán nội bộ góp phần hạn chế rủi ro, phòng chống gian lận
trong hoạt động tín dụng
Trong hoạt động tín dụng của NHTM, gian lận rất dễ xảy ra trong quá trình thẩm
định khách hang vay, thẩm định TSBĐ, làm đáo hạn các khoản vay cũ để cho KH
vay lại…Việc cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM như hiện nay làm cho tình trạng
gian lận trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng. Nếu NHTM có hệ thống kiểm
soát nội bộ vững mạnh thì rủi ro gian lận càng thấp và ngược lại khi hệ thống kiểm
soát nội bộ yếu kém rủi ro gian lận càng cao. Do vậy, KTNB được xem là tấm lá chắn
quan trọng và tuyến phòng thủ cuối cùng bảo vệ NHTM trước rủi ro gian lận. HĐQT
và Ban Tổng Giám đốc dựa vào hiệu quả của chức năng này của KTNB trong việc
vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế. Theo điều 3.1.1 của
tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu
của một tập hợp có đặc tính vốn có”.
Chất lượng hoạt động KTNB trong NHTM là một khái niệm tương đối vì nó được
đánh giá bằng cách so sánh mục tiêu NHTM (ở đây là Ban lãnh đạo NHTM) đặt ra
khi thiết lập và duy trì KTNB (yếu tố đầu ra) đạt được và nguồn lực sử dụng cho
KTNB (yếu tố đầu vào). Yếu tố đầu vào của hoạt động KTNB là số lượng, chất lượng
(trình độ) nhân sự làm công tác KTNB; chi phí dành cho bộ phận KTNB,... Đầu ra
của hoạt động KTNB trong NHTM mang tính chất vô hình như tính trung thực của
thông tin tài chính; khả năng dự đoán để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng ; khả năng phát hiện kịp thời các vi phạm và kiến nghị
xử lý phù hợp; hoạt động giám sát sau kiểm toán chặt chẽ, các vi phạm được chỉ ra
đều được sửa chữa thích hợp;...
Chất lượng của KTNB hoạt động tín dụng tại NHTM là dựa trên nguồn lực KTNB
trong NHTM khi thực hiện công tác kiểm toán hoạt động tín dụng phải đáp ứng được
các yêu cầu của Ban kiểm soát, HĐQT và Ban Tổng Giám đốc.
15
1.2.5. Các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại
ngân hàng thương mại
1.2.5.1.
Các tiêu chí đánh giá chủ quan từ ngân hàng thương mại
1.2.5.1.1 Quan điểm của Ban lãnh đạo ngân hàng về kiểm toán nội bộ
Quan điểm của Ban lãnh đạo ngân hàng về kiểm toán nội bộ là một tiêu chí quan
trọng nhất đến chất lượng kiểm toán hoạt động tín dụng. Quan điểm của Ban lãnh đạo
ngân hàng đối với hoạt động KTNB được đo lường qua một số nội dung như sau:
tác động đến. Từ đó KTNB sẽ cung cấp kết quả kiểm toán trung thực và khách
quan về hoạt động tín dụng cho HĐQT và Ban Tổng Giám đốc. Hoạt động KTNB
hiệu quả sẽ hỗ trợ tốt cho công tác quản trị rủi ro tín dụng đạt được mục tiêu mà
NHTM đã đề ra.
1.2.5.1.3 Số lượng và chất lượng cán bộ KTNB
Xây dựng và phát triển đội ngũ KTNB chất lượng cao có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả KTNB hoạt động tín dụng nói riêng cũng như toàn bộ hoạt động KTNB nói
chung. Thể hiện qua các nội dung sau:
Số lượng cán bộ KTNB có đáp ứng được công tác kiểm toán tại Ngân hàng hay
không? Nếu quá ít không đảm bảo kiểm tra được toàn bộ các đơn vị trong NHTM,
hoặc nếu có kiểm tra thì chất lượng không được đảm bảo. Ngược lại, nếu số lượng
cán bộ KTNB quá nhiều thì chi phí lớn, công tác kiểm toán thậm chí bị chồng
chéo, không hiệu quả.
Ngân hàng có chiến lược tuyển dụng cán bộ KTNB đáp ứng được các yêu cầu về
kỹ năng, tri thức, bằng cấp hay không? Hoạt động KTNB đòi hỏi cán bộ thực hiện
phải có trình độ tương xứng, phải am hiểu về các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và các sản phẩm dịch vụ mới, cũng như sử dụng thành thạo chương trình
công nghệ thông tin hiện đại để phục vụ yêu cầu công việc.
Nhân sự KTNB có được đào tạo thường xuyên hay không? Việc đào tạo thường
xuyên sẽ đảm bảo nhân viên kiểm toán cập nhật các kiến thức về kiểm toán, các
17
quy định mới được ban hành, các thay đổi liên quan đến nội bộ ngân hàng. Từ đó,
nhân viên KTNB sẽ có được kiến thức tổng quan khi thực hiện kiểm toán tại đơn
vị.
Nhân sự KTNB có đảm bảo tính độc lập hay không? Tính độc lập của cán bộ
KTNB cũng rất quan trọng, nếu vi phạm sẽ ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán. Do
đó cần thiết phải xây dựng một mô hình tổ chức KTNB và các chế độ ưu đãi đối
nghiệp vụ. Việc áp dụng kết hợp cả hai phương pháp kiểm toán cơ bản và kiểm
toán tuân thủ đảm bảo sẽ giảm thiểu được thời gian thực hiện kiểm toán và kết
quả thu được, mức độ phát hiện sai phạm cao hơn.
KTNB có xây dựng các biểu mẫu làm việc để chuẩn hóa quy trình kiểm toán và
đảm bảo các vấn đề phát hiện được ghi nhận và trình bày đầy đủ hay không?
Các bằng chứng kiểm toán có được thu thập, phân tích, đánh giá và ghi nhận đầy
đủ để hỗ trợ việc ra kết luận kiểm toán hay không?
Báo cáo kiểm toán có được báo cáo trực tiếp lên Ban kiểm soát độc lập với Ban
Tổng Giám đốc hay không? Việc báo cáo có chính xác, rõ ràng, mang tính xây
dựng và đúng thời điểm hay không?
Các phát hiện và kiến nghị có được phân loại theo từng cấp độ rủi ro trong báo
cáo kiểm toán hay không? Việc theo dõi khắc phục của đơn vị trong quá trình sau
kiểm toán có được thực hiện hay không?
1.2.5.1.5 Công nghệ thông tin
Ngân hàng có xây dựng phần mềm KTNB hay không? Để tiết kiệm thời gian, chi
phí, số lượng nhân viên KTNB, đòi hỏi có phần mềm kiểm toán riêng. Hệ thống
này nếu có sẽ hỗ trợ và nâng cao chất lượng KTNB, giúp tổng hợp số liệu kiểm
toán toàn hệ thống, kết xuất dữ liệu, xử lí và phân tích dữ liệu trên máy tính.
1.2.5.2.
Các tiêu chí khách quan
1.2.5.2.1 Hội nhập quốc tế
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức được kết nạp vào Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), với mục tiêu thực hiện công khai minh bách hoá các thiết chế quản
lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện; các cơ
19
tầm quan trọng của KSNB và KTNB, cũng như trách nhiệm của họ trong việc thực
20
hiện tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng NHTM có thể tin cậy vào hoạt
động KTNB, và đã thực hiện một loạt các biện pháp về cơ cấu để đảm bảo hiệu quả
cho các hoạt động này.
Bộ phận KTNB phải có quyền chủ động trong việc thực hiện công việc của mình
tại bất cứ bộ phận, phòng ban chức năng nào của tổ chức. KTNB có thể yêu cầu được
tiếp cận với bất cứ sổ sách hoặc số liệu nào cần thiết, và yêu cầu thực hiện c ác cuộc
điều tra.
Về tổ chức hoạt động kiểm toán
Đối tượng và phạm vi kiểm toán
Mọi hoạt động, mọi đơn vị trong tổ chức đều là đối tượng của KTNB, nhưng
trước hết các nguồn lực của KTNB được định hướng vào những đơn vị, những hoạt
động có rủi ro.
Phạm vi của KTNB bao gồm việc kiểm tra, đánh giá về tính phù hợp; tính hiệu
quả của HTKSNB và về cách thức thực hiện các trách nhiệm được phân công. Nói
cách khác, nó chính là việc phân tích rủi ro của HTKSNB của tổ chức.
Về tổ chức thực hiện kiểm toán
Hoạt động kiểm toán dù là do chủ thể nào thực hiện thì đều phải dựa vào phương
pháp kiểm toán chung và tuân theo một quy trình kiểm toán chuẩn hóa. Cụ thể, một
cuộc KTNB bao gồm các bước: (1) Lập kế hoạch kiểm toán; (2) Điều tra và đánh giá
những thông tin sẵn có; (3) Thông báo về kết quả kiểm toán; và (4) Theo dõi việc
thực hiện các kiến nghị, chỉnh sửa các vấn đề được nêu ra.
Tất cả các NHTM được điều tra đều có chuẩn bị chương trình kiểm toán, ghi chép
các thủ tục kiểm toán trong hồ sơ kiểm toán, và phát hành các báo cáo kiểm toán bằng
văn bản kịp thời sau mỗi cuộc kiểm toán. Các báo cáo sau đó được gửi tới đơn vị
Về nhân sự KTNB
Năng lực chuyên môn là một điều kiện thiết yếu để KTNB có thể hoạt động tốt.
Cuộc điều tra cho thấy các KTVNB là những người được đào tạo ở trình độ cao, đặc
biệt là tại cac NHTM lớn và trong những lĩnh vực chuyên môn hóa như kiểm toán
hoạt động kinh doanh hoặc kiểm toán công nghệ thông tin. Khi tuyển dụng KTVNB,
các NHTM nhỏ thường có xu hướng chủ yếu nhiều tới kiến thức chuyên môn và kinh