ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
LỚP CHẤT LƯỢNG CAO KCQ
PHẦN 1. ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT CỦA MÔN HỌC
1. Tên môn học: Xây dựng văn bản pháp luật
2. Số đơn vị tín chỉ: 1 tín chỉ (15 giờ tín chỉ)
- Số giờ giảng: 12 giờ tín chỉ
- Số giờ thảo luận – thực hành: 6 giờ
3. Mục tiêu của môn học
Môn học Xây dựng văn bản pháp luật trang bị cho sinh viên kiến thức lý
luận, kiến thức pháp luật thực định và kỹ năng thực hành về soạn thảo và ban
hành văn bản pháp luật, bao gồm: thẩm quyền ban hành văn bản; các hình thức
và nội dung của từng loại văn bản; các yếu tố cấu thành văn bản; hiệu lực và
nguyên tắc áp dụng văn bản; ngôn ngữ trong văn bản; trình tự ban hành văn
bản và những hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình xây dựng văn
bản.
Trên nền tảng kiến thức được trang bị đó sinh viên có thể xử lý các tình
huống, bài tập liên quan như việc ban hành, soạn thảo các văn bản phổ biến.
4. Phương pháp giảng dạy
+ Phương pháp thuyết giảng
+ Phương pháp thảo luận
+ Phương pháp tình huống
5. Phương pháp đánh giá:
+ Chuyên cần (đi học tối thiểu 85% số giờ lên lớp; thảo luận, làm việc
nhóm tích cực): 10%
+ Bài kiểm tra giữa kỳ: 20%
+ Thi hết môn: 70%
Tổng cộng: 100%
6. Nội dung chi tiết môn học
1
2
a. Văn bản áp dụng QPPL
Văn bản áp dụng QPPL là văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành,
theo trình tự, hình thức do pháp luật quy định, nhằm áp dụng quy phạm pháp
luật vào từng trường hợp cụ thể, có hiệu lực áp dụng một lần.
Đặc điểm của văn bản áp dụng QPPL:
Một là, văn bản áp dụng QPPL do chủ thể có thẩm quyền ban hành.
Hai là, văn bản áp dụng QPPL phải được ban hành đúng thủ tục theo quy
định pháp luật.
Ba là, Văn bản áp dụng QPPL phải được ban hành đúng hình thức.
Bốn là, Văn bản áp dụng QPPL được ban hành trên cơ sở các quy định của
văn bản quy phạm pháp luật, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số
đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể.
b. Văn bản hành chính khác
Văn bản hành chính thông thường là các văn bản dùng để truyền đạt thông
tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước như công bố hoặc thông báo về
một chủ trương, quyết định hay nội dung và kết quả hoạt động của một cơ
quan, tổ chức; ghi chép lại các ý kiến và kết luận trong các hội nghị; thông tin
giao dịch chính thức giữa các cơ quan, tổ chức với nhau hoặc giữa Nhà nước
với tổ chức và công dân...
3. Vai trò và chức năng của văn bản pháp luật
a. Vai trò của văn bản pháp luật
Văn bản pháp luật là phương tiện đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý
của các cơ quan nhà nước.
Trong số các nguồn thông tin thì thông tin bằng văn bản có vị trí đặc biệt
quan trọng.
Văn bản pháp luật là phương tiện truyền đạt các nội dung quản lý của các
chủ thể có thẩm quyền đến đối tượng quản lý. Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay, có rất nhiều phương tiện để truyền đạt quyết định quản lý
b. Tính khoa học
Tính khoa học thể hiện ở chỗ hoạt động này được tiến hành trên cơ sở vận
dụng tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau. Sự kết hợp các ngành khoa
học này mới đảm bảo văn bản pháp luật được ban hành đáp ứng các yêu cầu,
mục đích đề ra, phù hợp với thực tiễn, cũng như phát huy được giá trị của
mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội – một chức năng cơ bản của
pháp luật.
4
c. Tính thực tiễn
Tính thực tiễn là một trong những tính chất rất quan trọng của hoạt động
xây dựng văn bản pháp luật. Bởi vì thiếu tính thực tiễn, các văn bản pháp luật
được hình thành từ hoạt động này sẽ khó phát huy được hiệu lực của mình, từ
đó làm cho văn bản được ban hành không đi vào thực tế cuộc sống, không phát
huy được chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội – một trong những chức
năng quan trọng của văn bản pháp luật nói riêng, pháp luật nói chung. Khi đó,
các văn bản được ban hành trở thành không cần thiết, tốn kém về thời gian,
công sức, vật chất, đồng thời làm giảm sút uy tín của nhà nước đối với xã hội,
cũng như không thể hiện và thực hiện được ý chí của nhà nước, nguyện vọng
của nhân dân.
d. Tính dự báo
Trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật, Ban soạn thảo, cán bộ soạn
thảo cần phải nghiên cứu quy luật phát triển, xu thế phát triển của các quan hệ
xã hội trong tương lai mà văn bản dự định ban hành sẽ điều chỉnh để kịp thời
ban hành các quy định để khi quan hệ xã hội này diễn ra, thì pháp luật đã có để
điều chỉnh.
2. Ý nghĩa của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật.
Đảm bảo cho ý chí của nhà nước được biểu hiện đầy đủ, rõ ràng, bởi vì
Thẩm quyền ban hành văn bản hành chính: quyết định (cá biệt), nghị
quyết, chỉ thị
-
Các hình thức văn bản áp dụng QPPL
-
Các hình thức văn bản hành chính khác: công văn, biên bản, báo cáo,
thông báo, tờ trình
6
CHƯƠNG 3:
THỂ THỨC CHUNG VÀ KỸ THUẬT TRÌNH BÀY
VĂN BẢN PHÁP LUẬT (2 tiết)
I. THỂ THỨC CHUNG CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Quốc hiệu
Quốc hiệu và tiêu ngữ là yếu tố bắt buộc trong văn bản pháp luật, là
yếu tố hình thức đầu tiên chứng minh rằng đây là văn bản được ban hành bởi
các chủ thể mang quyền lực nhà nước, cũng là yếu tố đầu tiên thể hiện giá trị
pháp lý của văn bản.
2. Tên cơ quan, tổ chức, chức danh ban hành văn bản
Yếu tố chủ thể ban hành văn bản thể hiện chế độ hoạt động của chủ thể
ban hành văn bản (theo chế độ tập thể lãnh đạo hay theo chế độ thủ trưởng),
thể hiện vị trí pháp lý của cơ quan đó trong bộ máy nhà nước ta, cũng như mối
phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn) nơi cơ quan, tổ chức ban hành văn bản
đóng trụ sở. Việc ghi địa danh phải đảm bảo hai yêu cầu sau đây: (1) thuận tiện
cho việc liên hệ, giao dịch công tác – tức là phải thể hiện được rằng cơ quan, tổ
chức ban hành văn bản đóng trên địa bàn nào.
5. Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản pháp luật
Tên loại của văn bản là tên gọi của văn bản đó, là yếu tố thể hiện thẩm
quyền về hình thức của chủ thể ban hành văn bản.
Trích yếu nội dung văn bản là một cụm từ (không nhất thiết phải là một câu)
thể hiện khái quát nội dung chủ yếu của văn bản. Việc ghi trích yếu phải đảm
bảo tính chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, giúp cho đối tượng tiếp nhận văn bản
hình dung ngay vấn đề mà văn bản giải quyết.
6. Nội dung văn bản pháp luật
Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của văn bản, trong đó đặt ra chuẩn
mực hành vi xử sự, quy định các đối tượng có liên quan được làm gì? Không
được làm gì? Phải làm như thế nào, và giới hạn của hành vi xử sự đó; cũng
như hậu quả pháp lý phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật.
7. Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chứ ký của người có thẩm quyền
Về thể thức, cách ghi thành phần này được xác định căn cứ vào chế độ hoạt
động của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản, cụ thể là:
Thứ nhất, đối với cơ quan nhà nước hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo,
người đứng đầu cơ quan thay mặt tập thể ký văn bản bằng cách: ghi chữ viết
tắt “TM.” (thay mặt) vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức.
Trừ trường hợp đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà
nước thì không ký theo thể thức “thay mặt”, mà trong thành phần này, chỉ cần
ghi chức vụ, họ tên của người đứng đầu cơ quan.
8
Dấu chỉ mức độ khẩn, dấu chỉ mức độ mật, chỉ dẫn địa lý; địa chỉ cơ quan tổ
chức, email, điện thoại, số fax…
9
CHƯƠNG IV:
NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN PHÁP LUẬT. XÂY
DỰNG VÀ TRÌNH BÀY QUY PHẠM PHÁP LUẬT (1 tiết)
I. NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1.
Khái niệm ngôn ngữ trong văn bản pháp luật
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật là phong cách của tiếng Việt hiện đại sử
dụng trong lĩnh vực pháp luật và quản lý nhà nước. Việc sử dụng ngôn ngữ
tiếng Việt trong văn bản pháp luật có những đặc trưng riêng biệt cần được lưu
ý khi soạn thảo như sử dụng từ có nghĩa trung tính, không sử dụng các biện
pháp tu từ…
2.
Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản pháp luật:
a.
Tính chính xác
Tính chính xác yêu cầu ngôn ngữ trong văn bản chỉ có một cách hiểu duy
nhất, không cho phép có những cách hiểu, cách giải thích khác nhau và từ ngữ
dùng trong văn bản phải gợi lên trong đầu mọi người những ý niệm giống
và tự nguyện thực hiện. Văn bản là ý chí của chính quyền hoặc cơ quan này
với cơ quan khác, hoặc cơ quan với cá nhân, là lời nói có hiệu lực thi hành đối
với nơi nhận (đối tượng có liên quan), nên phải thể hiện tính trang trọng, uy
nghiêm
3.
Ngữ pháp trong văn bản pháp luật
Trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật, cần bảo đảm độ chính xác cao
nhất về chính tả và thuật ngữ. Cách diễn đạt một quy phạm pháp luật phải bảo
đảm độ chính xác về chính tả, thuật ngữ và ngữ pháp. Sai sót chính tả có thể xử
lý được dễ dàng bởi đội ngũ biên tập, song sai sót về thuật ngữ thì chỉ có các
nhà soạn thảo mới khắc phục được.
a.
Cách sử dụng từ ngữ
Lựa chọn và sử dụng từ đúng ngữ nghĩa;
Sử dụng từ đúng văn phong pháp lý;
Sử dụng từ đúng chính tả tiếng Việt;
b.
Câu và dấu câu trong văn bản pháp luật
II. XÂY DỰNG VÀ TRÌNH BÀY QUY PHẠM PHÁP LUẬT
-
Khái niệm quy phạm pháp luật, các yếu tố cấu thành
-
II. QUY TRÌNH XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG
-
Các quy định về quy trình ban hành văn bản QPPL từ 1946 đến nay
-
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
-
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của Chủ tịch nước
-
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của Chính phủ; Thủ
tướng Chính phủ; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
-
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của Tổng kiểm toán
nhà nước
-
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các cơ quan tư
pháp
-
Thời điểm phát sinh hiệu lực
-
Thời điểm kết thúc hiệu lực
-
Hiệu lực trở về trước
2. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng
3. Trường hợp ngưng hiệu lực của văn bản
II. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1. Những nguyên tắc chung
-
Những vấn đề liên quan đến nguyên tắc áp dụng chưa được pháp luật
quy định rõ
-
Vấn đề quyền ưu tiên áp dụng luật và mối quan hệ luật chung - luật
chuyên ngành
-
Hiệu lực của nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành khi luật hết hiệu
Về tư cách sử dụng quyết định
-
Thể thức văn bản quyết định
-
Bố cục nội dung quyết định
-
Phương pháp trình bày quyết định và mẫu quyết định
III. SOẠN THẢO CHỈ THỊ
-
Về tư cách sử dụng
-
Thể thức chỉ thị
-
Bố cục nội dung của chỉ thị
-
Phương pháp trình bày chỉ thị và mẫu chỉ thị
-
Về công tác chuẩn bị viết báo cáo
-
Phương pháp trình bày báo cáo và mẫu báo cáo
V. CÁCH VIẾT BIÊN BẢN HỘI NGHỊ
-
Thể thức biên bản
-
Cách ghi nội dung biên bản Hội nghị.
-
Phương pháp trình bày và mẫu biên bản
VI. CÁCH VIẾT TỜ TRÌNH
-
Thể thức của tờ trình
-
Nội dung chính của tờ trình
pháp luật.
Thứ ba, sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về
việc kiểm tra và thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn
bản được kiểm tra theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản chịu trách nhiệm về
kết luận kiểm tra, xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải
khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra.
16
3. Phương thức kiểm tra: kiểm tra văn bản do cơ quan, người có thẩm
quyền ban hành văn bản gửi đến; kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến
nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái
pháp luật; kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn (tại cơ quan ban hành văn
bản) hoặc theo ngành, lĩnh vực.
4. Nội dung kiểm tra:
- Ban hành đúng căn cứ pháp lý: bao gồm (1) có căn cứ pháp lý cho việc
ban hành, và (2) những văn bản làm căn cứ pháp lý đó đã được ký ban hành,
thông qua vào thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra, đó là văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên quy định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành
văn bản, quy định về vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản.
- Ban hành đúng thẩm quyền: Thẩm quyền ban hành văn bản bao gồm:
thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.
- Nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật.
- Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình
bày theo quy định của pháp luật.
5.
Thẩm quyền kiểm tra văn bản
- Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về kết luận và quyết định xử lý của mình; nếu quyết định xử lý
trái pháp luật thì phải khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra.
- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức và cá nhân can thiệp vào quá trình xử lý
văn bản trái pháp luật.
3.
Các hình thức xử lý văn bản
Các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật
- Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản;
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản.
Các hình thức xử lý văn bản không phù hợp với pháp luật hiện hành
Bao gồm các hình thức: đình chỉ, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung.
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường
hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm
tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
dẫn đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc
tình hình kinh tế - xã hội thay đổi.
- Sửa đổi, bổ sung: Sửa đổi, bổ sung là biện pháp xử lý được áp dụng để
khắc phục những nội dung khiếm khuyết và sai trái trong văn bản.
- Thay thế: Thay thế là biện pháp xử lý được áp dụng đối với văn bản
QPPL có nội dung không phù hợp với thực tiễn hoặc với những quy định của
pháp luật hiện hành.
4.
Thẩm quyền xử lý
- Tất cả những chủ thể có quyền ban hành văn bản QPPL như quy định
tại Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL đều có quyền xử lý văn bản QPPL do
II. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND,
2011
2. Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật – TS Lưu Kiếm
Thanh, Nxb Thống kê - 2003
3. Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
4. Các Trang thông tin điện tư:
-www.vietlaw.gov.vn
-www.luatvietnam.com.vn
-www.chinhphu.vn
- www.moj.gov.vn
-www.hochiminhcity.gov.vn
-www.caicachhanhchinh.gov.vn
III. CÁC TÀI LIỆU THỰC TẾ
(Giảng viên sẽ cung cấp cho sinh viên trong quá trình giảng)
6. Văn bản đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý…
7.
Văn bản chưa đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp
8.
Văn bản xử lý văn bản trái pháp luật
20
9.
Các mẫu văn bản cụ thể
các chuyên khoa da liễu, mắt, răng hàm mặt như cách hiểu của BHXH VN.
21
Theo ông Thọ, phòng khám của ông đã bắt đầu khám chữa bệnh BHYT ban
đầu từ tháng 10-2009. Đến nay đã có hơn 7.000 bệnh nhân BHYT đăng ký
khám tại đây. Nếu BHXH Tiền Giang cắt hợp đồng về việc khám chữa bệnh
cho bệnh nhân BHYT đối với phòng khám thì bệnh nhân sẽ chịu thiệt thòi rất
lớn.
Ngày 16-10, ông Lê Văn Khảm (vụ phó Vụ BHYT - Bộ Y tế) làm việc với Sở
Y tế tỉnh Tiền Giang và khẳng định BHXH VN đã hiểu nhầm điều 5 thông tư
số 10 của Bộ Y tế. Theo đó, ông Khảm khẳng định không bắt buộc các cơ sở
khám chữa bệnh ban đầu phải có đầy đủ các chuyên khoa da liễu, mắt, tai mũi
họng vì ngay cả các bệnh viện tỉnh vẫn phải chuyển bệnh nhân BHYT sang các
bệnh viện chuyên khoa để khám.
Ngày 14-11, trả lời phóng viên Báo Tuổi trẻ, đại diện BHXH VN cho rằng cơ
quan này đã làm đúng theo thông tư số 10. Theo BHXH VN, thông tư số 10 đã
quy định rõ các phòng khám đa khoa phải có đầy đủ các chuyên khoa cơ bản
như sản, nhi, da liễu, mắt..., có bác sĩ cơ hữu làm việc tại phòng khám trong
giờ hành chính mới được BHXH VN cấp mã số, được tiếp nhận đăng ký khám
chữa bệnh ban đầu với người bệnh có thẻ BHYT. “Đây đều là các chuyên khoa
rất cơ bản, không thể cho đăng ký khám ban đầu mà phòng khám không đủ
chuyên khoa, phải chuyển tuyến khi người bệnh có nhu cầu khám... Việc có
bác sĩ cơ hữu làm việc trong giờ hành chính cũng rất quan trọng, không thể bắt
người bệnh “bác đợi chúng em hết giờ hành chính mới đến khám” được. Với
các phòng khám chưa đủ chuyên khoa, không phải chúng tôi không cho mã số
đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, mà yêu cầu phải có đủ chuyên khoa mới
cho”.
Ngày 15.11.2013, trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Tuổi trẻ về quy định của
Bộ Y tế nhưng BHXH VN và Bộ Y tế hiểu khác nhau thì giải quyết thế nào,
Hình 1
23
Hình 2
24
25