HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
CHU TUN ANH
VậN DụNG MốI QUAN Hệ GIữA KINH Tế Và ĐạO ĐứC
TRONG VIệC NÂNG CAO Y ĐứC CHO CáN Bộ
NGàNH Y Tế ở VIệT NAM HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
H NI - 2017
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
CHU TUN ANH
VậN DụNG MốI QUAN Hệ GIữA KINH Tế Và ĐạO ĐứC
TRONG VIệC NÂNG CAO Y ĐứC CHO CáN Bộ
NGàNH Y Tế ở VIệT NAM HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
Ngi hng dn khoa hc:
1.3. Những công trình liên quan đến phương hướng và một số giải pháp
chủ yếu nhằm vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong
việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế trong điều kiện kinh tế thị
trưởng ở nước ta hiện nay
1.4. Khái quát những nội dung đã được giải quyết trong các công trình liên
quan và những vấn đề luận án cần thực hiện
30
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC CHO CÁN BỘ NGÀNH Y
TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
34
2.1. Mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, xây dựng đạo đức mới trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2.2. Y đức, thực chất và tầm quan trọng phải vận dụng mối quan hệ giữa
kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở
Việt Nam hiện nay
6
19
26
34
48
Chương 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC
116
122
143
145
146
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm toàn bộ những
quan niệm, tri thức và các trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng
người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng,
v.v.. và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với
xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội. Trong mọi thời đại, đạo đức lúc
nào cũng là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội. Một nét đặc trưng cơ bản của
ý thức đạo đức là sự quan tâm một cách tự nguyện, tự giác đến hạnh phúc của
người khác, của xã hội trong đó có hạnh phúc của cả chính mình. Trong các chức
năng của đạo đức thì chức năng giáo dục, tự giáo dục và điều chỉnh hành vi có vị
trí hết sức quan trọng, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với đạo đức của xã hội. Xã hội càng tiến lên, nhân loại càng văn minh
thì con người càng cần đến đạo đức.
Trải qua 30 năm đổi mới đất nước, kể từ khi bước vào thực hiện mô hình
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt
được nhiều kết quả và thành tựu đáng kể, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước.
Việc chuyển từ mô hình kinh tế tập trung bao cấp sang phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực đạo đức. Đó chính là sự biến đổi
những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc đạo đức truyền thống, đồng thời
cũng dẫn đến sự xuất hiện những giá trị đạo đức mới với tính cách là biểu hiện
Do đó, hơn lúc nào hết đội ngũ những người thầy thuốc và mọi cán bộ,
nhân viên trong ngành y tế phải tự tu dưỡng, chủ động rèn luyện, nâng cao y
đức, nâng cao trình độ chuyên môn bảo đảm tốt nhất chất lượng khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xứng đáng với truyền thống y học của dân
tộc, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân thỏa mãn niềm
vui, hạnh phúc cao thượng của một nghề cao quý.
Sự biến đổi đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đang diễn biến phức tạp có cả tích cực và tiêu
cực. Đạo đức của đội ngũ cán bộ ngành y tế cũng nằm trong cái chung đó. Đây
là tình huống có vấn đề mà trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta
3
phải tiếp tục nghiên cứu, lý giải thêm để có cơ sở khoa học đề ra phương hướng
và giải pháp nâng cao y đức cho đội ngũ cán bộ thuộc lĩnh vực này.
Là cán bộ giảng dạy và nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh có nguyện vọng được đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp y
tế của đất nước vì thế tác giả chọn đề tài "Vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế
và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện
nay" làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, tầm quan trọng và
thực trạng vận dụng mối quan hệ này trong việc nâng cao y đức của cán bộ
ngành y tế dưới tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay. Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm vận
dụng có hiệu quả mối quan hệ này trong việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y
tế ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
tiễn, những tư liệu, số liệu điều tra ở một số cơ sở y tế của bản thân tác giả.
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp phương pháp lịch sử và
lôgíc, phân tích và tổng hợp.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn về
mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức.
- Phân tích thực trạng vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong
việc nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay và những mâu
thuẫn nảy sinh.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng có
hiệu quả mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc nâng cao y đức cho cán
bộ ngành y tế ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng
dạy đạo đức, y đức của người cán bộ y tế, v.v..
5
- Luận án là tài liệu tham khảo góp phần vào việc đề ra các chính sách về
cán bộ, về xây dựng đạo đức cho cán bộ ngành y tế trong điều kiện kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 4 chương, 10 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- "Những vấn đề lý luận đạo đức" của tác giả A.I.Côchêlốp [1] khẳng định
lại quan điểm của V.I. Lênin "Chúng ta nói rằng: đạo đức - đó là những gì góp
phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang
sáng tạo ra xã hội mới, cộng sản chủ nghĩa" [11, tr.6]. Tác giả phân tích những
khái niệm, phạm trù, nguyên lý, những nội dung cơ bản của đạo đức học mácxít;
các quy luật vận động và phát triển của đạo đức, các kiểu đạo đức trong lịch sử;
những nguyên tắc của đạo đức mới và tính quy luật của sự hình thành đạo đức
mới trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử về sự quyết định của điều kiện kinh tế với ý thức đạo đức và ngược lại.
Thêm vào đó, còn có những công trình tiêu biểu như: "Những bài giảng về
đạo đức học Mác - Lênin" của L. M. Arkhangenski [1]; "Giáo trình đạo đức
học" của E. V. Zolotukhina - Abolina [161]; "Đạo đức học mácxít" của A. M.
Titarenko [150]; "Mác - Ăng ghen - Lênin bàn về đạo đức" của Viện Triết học
[157],v.v.. Các công trình của các nhà khoa học Liên Xô nói trên đều trực tiếp
hoặc gián tiếp đề cập tới mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức thể hiện trong mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại quyết định ý thức xã
hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội (trong đó có ý thức đạo đức).
- "Về kinh tế thị trường và đạo đức" của tác giả Dong Fangshuo [46]. Theo
tác giả, quan hệ giữa kinh tế thị trường và đạo đức không đơn giản là đem hai
khái niệm kinh tế và đạo đức cộng lại với nhau một cách đơn giản, hoặc là đem
các quy phạm phổ biến của luân lý xã hội và giá trị đạo đức ghép vào trước hình
thức vận hành kinh tế thị trường. Về mặt lý luận, ông cho rằng có hai hướng
nghiên cứu là "rót từ bên ngoài" và "rút từ bên trong" để tìm mối liên hệ và sự
điều chỉnh giữa kinh tế thị trường và đạo đức với tính cách là hai khái niệm độc
lập nhau. Các nhà nghiên cứu theo con đường "rót từ bên ngoài" cho rằng nghiên
cứu quan hệ giữa kinh tế và đạo đức là ứng dụng một lý luận luân lý học "có sẵn"
vào lĩnh vực kinh tế thị trường. Con đường "rút từ bên trong" theo tác giả là trực
tiếp rút các giá trị đạo đức từ nội hàm và sự vận hành của kinh tế thị trường tức là từ
quan hệ sản xuất và trao đổi của mình để rút ra các quan niệm đạo đức. Phương
minh, lành mạnh, bình thường của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, việc chuyển từ cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp sang cơ
chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho đời sống tinh thần
10
nói chung, đời sống đạo đức nói riêng, đã và đang có sự chuyển biến nhiều mặt.
Những vấn đề phức tạp về mặt đạo đức nảy sinh đã trở thành nỗi trăn trở của các
nhà nghiên cứu. Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức đã có một số
vấn đề nổi bật được các nhà nghiên cứu quan tâm. Đó là:
- "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi các giá trị khi nước ta chuyển
sang nền kinh tế thị trường" của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn [23] đã đề cập tới
sự thay đổi thang bậc các giá trị trong xã hội khi đất nước chuyển từ nền kinh tế
mệnh lệnh, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi này diễn ra khá nhanh,
khá sâu rộng và sự thừa nhận các giá trị mới cũng khá nhanh ở một bộ phận đáng
kể dân cư trong khi gây ra không ít sự lo chính đáng.
- "Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo
đức hiện nay" của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [77] đã đánh giá sự cần thiết phải
chú ý đến nhân tố đạo đức trong nền kinh tế thị trường và chỉ ra những mâu
thuẫn đặt ra trong đạo đức xã hội hiện nay. Đồng thời, tác giả chỉ ra những nội
dung mới của một số phẩm chất đạo đức cơ bản như tư tưởng yêu nước, lòng
nhân ái, tính tập thể, niềm tin và lý tưởng, tính trung thực, v.v.. trong nền kinh tế
thị trường hiện nay.
- "Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ
chế thị trường" của tác giả Nguyễn Văn Phúc [118]. Dựa trên quan niệm duy vật
lịch sử, tác giả cho rằng khi phân tích vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự
phát triển nhân cách trong tình hình hiện nay, không thể không tính đến mối liên
hệ giữa nhân cách và cơ chế thị trường, cơ chế đang chi phối mọi lĩnh vực hoạt
động của xã hội và con người. Trong điều kiện như vậy, giáo dục đạo đức phải
trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đạo đức trở nên gay gắt và đáng lo
ngại. Thứ hai, nhìn từ góc độ khác, những tệ nạn xã hội và tình trạng suy thoái
về đạo đức phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trường còn do sự thiếu vắng hoặc
sự không đồng bộ của các loại hay các yếu tố thị trường. Thứ ba, cùng với các
nguyên nhân trên, tác giả cho rằng quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc giáo dục
đạo đức đã có phần bị coi nhẹ, thậm chí lúng túng, thiếu định hướng rõ rệt.
12
Chính vì vậy, phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trong mối quan hệ hữu cơ với
nhau để vừa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa gìn
giữ được các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, vừa xây dựng được các
quan hệ và phẩm chất đạo đức mới phù hợp với thời đại mới của sự phát triển
kinh tế - xã hội.
- "Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phạm Văn Đức [45] đã cho rằng nền
kinh tế thị trường để những hành vi và những hoạt động của từng người cụ thể
đang theo đuổi các lợi ích khác nhau không triệt tiêu nhau và làm rối loạn xã
hội, xã hội cần đến những phương thức điều tiết hành vi của con người mang
ý nghĩa phổ biến là đạo đức. Qua đó chúng ta thấy rằng những lợi ích cá nhân
của từng người cụ thể với tính cách là thành viên của xã hội, nếu không đối
lập với lợi ích xã hội thì luôn là động cơ của những hành vi đạo đức chân
chính. Có thể nói, lợi ích cá nhân trong nền kinh tế thị trường đã tác động đến
đạo đức theo hai hướng trái ngược nhau. Theo hướng tích cực, lợi ích cá nhân
góp phần tạo nên các giá trị và các chuẩn mực đạo đức mới. Theo hướng tiêu
cực, vì lợi ích cá nhân mà con người có thể làm băng hoại các giá trị đạo đức
truyền thống của mình. Cả hai xu hướng đó đều song song tồn tại trong nền
kinh tế thị trường. Để đánh giá tính tích cực hay tiêu cực của lợi ích cá nhân
đối với đạo đức, cần xem xét hiệu quả mà lợi ích đó đem lại có phù hợp với
phải làm cho sự phát triển kinh tế đi liền với sự nâng cao trình độ tư tưởng đạo
đức và văn hóa của con người. Cần quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh
tế và đạo đức trong việc đổi mới tư duy và trong hoạt động thực tiễn. Việc định
hướng thang giá trị đạo đức trong điều kiện hiện nay là cần thiết và cấp bách để
chủ thể giá trị phát huy được tính tích cực cao nhất, vừa làm cho sản xuất phát
triển, vừa phải nâng cao tính tự giác, trình độ nhận thức, trình độ tư tưởng đạo
đức cho con người, chống thái độ "bảo thủ" đồng thời chống thái độ "hư vô".
Các tác giả cũng vận dụng những quan điểm trên để chỉ ra bên cạnh các yêu cầu
về chuyên môn, năng lực quản lý thì người cán bộ quản lý hiện nay cần phải có
một số những phẩm chất đạo đức mới như biết phát huy tính độc lập, chủ động,
sáng tạo, tin tưởng cấp dưới, dân chủ, sâu sát thực tế, chống mệnh lệnh, độc
14
đoán, quan liêu; thận trọng, kiên định, nghiêm túc, chống dao động, thiếu trách
nhiệm,v.v..
- "Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn Thế
Thắng [140] đã tập trung làm rõ một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách
mạng. Đồng thời, tác giả cũng phân tích thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ ở
nước ta hiện nay và đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao đạo
đức cách mạng của cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
- "Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay - Thực trạng và giải
pháp" của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [78] đã phân tích vai trò, nội dung, yêu cầu
về đạo đức của cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay. Nêu lên thực trạng đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính
trị, trên cơ sở đó xác định phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay.
- "Về đạo đức nghề nghiệp" của tác giả Lê Thanh Thập [141] đã phân tích
- "Quan niệm của C.Mác về đạo đức và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp
xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Văn Phúc
[121] đã phân tích quan niệm của C. Mác về bản chất của đạo đức, quan hệ giữa
lợi ích và đạo đức, tiến bộ đạo đức, dự báo về sự hình thành nền đạo đức cộng
sản chủ nghĩa. Đối chiếu với các quan niệm tương ứng trong lịch sử, tác giả
khẳng định tính khoa học, cách mạng, ý nghĩa và giá trị trường tồn trong quan
niệm của C.Mác về đạo đức. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, vấn đề đặt ra là
cần đẩy mạnh hơn nữa việc vận dụng và phát triển một cách sáng tạo quan niệm
đó trong xây dựng đạo đức.
- "Về vai trò của đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay" của tác giả Ngô Thị Thu Ngà [112] đã phân
tích và luận chứng nhằm góp phần khẳng định và làm rõ thêm vai trò đặc biệt
quan trọng của đạo đức mới - đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay trên các bình diện: kinh tế,
16
chính trị, bản sắc văn hóa, chống tham nhũng và chống âm mưu diễn biến hòa
bình. Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng và tạo điều
kiện cho đạo đức mới khẳng định vị thế thống trị trong đời sống xã hội ở nước ta
hiện nay.
- "Mấy vấn đề về đạo đức học mácxít và xây dựng đạo đức trong điều kiện
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [79]. Tác
giả trình bày khái quát về đạo đức, các quy luật vận động và phát triển của đạo
đức; về đạo đức mới, vai trò và các nguyên tắc của đạo đức mới (đạo đức xã hội
chủ nghĩa) trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; về sự biến đổi thang giá trị đạo
đức dưới tác động của kinh tế thị trường; về tầm quan trọng và yêu cầu của đạo
đức mới đối với người cán bộ, đảng viên hiện nay đồng thời đấu tranh khắc phục
sự suy thoái đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
- "Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
sống chạy theo đồng tiền, mưu mô, thủ đoạn, xem nhẹ pháp luật, chà đạp lên
nhân phẩm người khác, coi nhẹ lương tâm trách nhiệm, chủ nghĩa cá nhân… Do
đó, tác giả đưa ra hai quan điểm cơ bản về xây dựng đạo đức, lối sống mới cho
cán bộ, đảng viên đó là: thứ nhất, xây dựng đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa
cho cán bộ, đảng viên phải gắn liền với chủ nghĩa yêu nước chân chính. Thứ hai,
xây dựng đạo đức, lối sống mới hiện nay phải dựa trên cơ sở nền tảng từ tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học khác có liên quan đến đề tài
như: "Sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện
kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường" của tác giả Dương Phú Hiệp [57];
"Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức trong đổi mới tư
duy" của tác giả Nguyễn Ngọc Long [87]; "Cơ chế thị trường và những điều cần
báo động" của tác giả Vũ Hiền [56]; "Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn Văn Phúc
[120]; "Về một số giải pháp xây dựng nhân cách đạo đức hiện nay" của tác giả
Nguyễn Văn Phúc [119] .v.v.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trên đã khái quát một số vấn đề về
đạo đức, kinh tế thị trường mà tác giả có thể nghiên cứu để thực hiện đề tài luận án, đó là:
- Tác động hai mặt của kinh tế thị trường đến đạo đức và ngược lại ở nước
ta hiện nay.
19
- Vị trí, vai trò của đạo đức, giáo dục đạo đức trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Vấn đề lợi nhuận, lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường.
- Nguyên nhân, giải pháp xây dựng nhân cách, đạo đức ở nước ta hiện nay.
- Vấn đề đạo đức nghề nghiệp và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế thị trường.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG VẬN
DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC NÂNG
ở đây bao hàm một nghĩa rất rộng, nó không chỉ là lương tâm, trách nhiệm,
nghĩa vụ mà còn là động cơ không vụ lợi của người thầy thuốc khi tiếp xúc với
bệnh nhân.
Trước đây ở Liên Xô, cuốn sách "Đạo đức y học" của tác giả
M.E.Telesevskaia, N.I.Pogibko [136] có những đóng góp nhất định trong việc
nghiên cứu y đức: đạo đức học của người thày thuốc và đạo lý học. Các tác giả
cho rằng đạo đức học của người thày thuốc và đạo đức nghề nghiệp y học tập
trung vào vai trò của những nguyên tắc phẩm hạnh và tiêu chuẩn luân lý, những
nguyên lý và quy tắc xử sự đặt trên cơ sở đó, đúng hơn là nên coi đạo đức học
của người thầy thuốc và đạo đức nghề nghiệp trong sự thống nhất chung. Đồng
thời, họ cũng nêu lên những đặc điểm của người thầy thuốc đó là những người
yêu nghề của mình, phải phát triển trong bản thân mình và hoàn thiện đầu óc
quan sát, lòng dũng cảm, thái độ lạc quan, tính cương quyết và đồng thời tính
thận trọng khi giải quyết những vấn đề quan trọng cho đời sống đối với bệnh
nhân. Uy tín của người thầy thuốc tùy thuộc không những vào kinh nghiệm nghề
nghiệp và kiến thức, mà còn cả vào sự uyên bác chung, vào quan hệ với bệnh nhân,
cách xử sự lúc làm việc và trong sinh hoạt, biết cách hòa thuận với những người
khác bằng sự tế nhị đồng thời tính nguyên tắc và có thiện chí đối với các bạn đồng
nghiệp. Thêm vào đó, vấn đề đạo đức y học cũng được các tác giả đề cập đến thông
qua mối quan hệ giữa bệnh nhân và bệnh, bệnh nhân và xã hội, thầy thuốc và bệnh
nhân, bệnh nhân và thầy thuốc, những vấn đề phục hồi chức năng xã hội và lao
động của bệnh nhân, một số vi phạm các nguyên lý của đạo lý y học.
Trong xã hội Việt Nam từ xa xưa có nhiều tấm gương đạo đức tiêu biểu và
hết sức mẫu mực như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đình Chiểu, v.v..
đã là cái nền y đức bền vững, bảo đảm cho các thế hệ người Việt có cơ sở phát
triển niềm tự hào và phát triển đúng hướng mọi quá trình hành nghề y dược.
21
Ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch