MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍCH LŨY VỐN VỚI ĐẦU TƯ VÀTĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 26

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Đề tài môn học: KINH TẾ VĨ MÔ 2
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍCH LŨY VỐN VỚI
ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD:PGS.TS Nguyễn Văn Luân
Nhóm sinh viên thực hiện:
Phan Hoài Bảo K104010005
Bùi Thu Huyền K104010036
Trần Văn Nhật K104010061
Mai Thiên Trang K104010083
Vannalak Siliphachanh K104011685
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2013
2
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Đối tượng nghiên cứu: tích lũy vốn và đầu tư trong nền kinh tế Việt Nam và các quốc
gia đang phát triển.
5. Danh mục các tài liệu tham khảo.
- Tập bài giảng kinh tế vĩ mô của PGS.TS Nguyễn Văn Luân, Đại học Kinh tế -
Luật, ĐHQG-HCM.
- Giáo trình kinh tế phát triển, chủ biên GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng, Đại học
Kinh tế quốc dân Hà Nội, NXB Lao động - xã hội năm 2005.
- Tổng cục thống kê Việt Nam
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
1. Tích lũy tư bản là gì?
Tư bản chính là yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Tích lũy tư bản, trong
kinh tế chính trị Mác - Lênin là việc biến một bộ phận giá trị thặng dư trở lại thành tư
bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác, nó đơn giản là sự hình thành tư bản (tăng
lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và tư nhân). Bài
này đề cập đến tích lũy tư bản theo lý luận của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Quá trình tích lũy tư bản.
Các nhà kinh tế học thường nói rằng, mọi công cụ lao đông, mọi tư liệu sản xuất đều
là tư bản. Định nghĩa như vậy nhằm mục đích che dấu thực chất việc nhà tư bản bóc
lột công nhân làm thuê, tư bản tồn tại vĩnh viễn, không thay đổi của hết thảy mọi hình
thái xã hội.
Thực ra bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là điều kiện cần thiết
của sản xuất trong bất cứ xã hội nào. Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nã trở
thành tài sản của nhà tư bản, và được dùng để bóc lét lao dộng làm thuê. Khi chế độ tư
bản bị xoá bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa. Như vậy, tư bản không
phải là mét quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa người và người trong quá trình sản
xuất, nó có tính lịch sử.
Qua nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư ta có thể định nghĩa: "Tư bản là giá
trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê". Tư bản thể hiện

tư bản.
Qui mô của tư bản ứng trước.
Với nhà tư bản, khi trình độ bóc lột không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư do khối
lượng tư bản khả biến quyết định. Quy mô của nhà tư bản ứng trước càng lớn thì càng
tăng quy mô của tích lũy tư bản.
7
2. Đầu tư là gì?
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan.
Các hình thức đầu tư.
Có 2 loại hình thức đầu tư chính là: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý
các hoạt động đầu tư.
Theo pháp luật đầu tư hiện hành, các hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam bao gồm:
a) Đầu tư vào tổ chức kinh tế (thành lập hoặc góp vốn)
Đầu tư vào các tổ chức kinh tế là việc nhà đầu tư bỏ vốn thành lập mới các cơ sở kinh
doanh hoặc góp vốn vào vốn điều lệ để nắm quyền quản trị của đơn vị kinh doanh
đang hoạt động. Đầu tư vào tổ chức kinh tế bao gồm các nhóm hình thức đầu tư chủ
yếu sau:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của
nhà đầu tư nước ngoài. Thuộc nhóm hình thức đầu tư này có các hình thức chủ yếu là:
doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên (do một cá nhân hoặc một tổ
chức làm chủ sở hữu), hộ kinh doanh.
- Thành lập, góp vốn vào tổ chức kinh tế có sự hợp tác giữa nhiều nhà đầu tư. Ở nhóm
hình thức đầu tư này, nhà đầu tư có thể thành lập hoặc góp vốn vào công ty hợp danh,
công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, tổ hợp tác, hợp tác xã và liên
hiệp hợp tác xã.
Trong nhóm hình thức đầu tư vào tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh của các nhà
đầu tư được tiến hành thông qua tư cách pháp lí của các tổ chức kinh tế. Ngoài việc

Theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn để xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng
trong thời hạn nhất định và chuyển giao cho nhà nước theo những phương thức thanh
toán, đền bù khác nhau.
Các hình thức BOT, BTO và BT có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư
vào xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước,
9
xử lí chất thải ). Thay vì phải đầu tư vốn xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
quan trọng, Nhà nước áp dụng những chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư để có được hệ
thống cơ sở hạ tầng thông qua việc nhận chuyển giao quyền sở hữu các công trình từ
nhà đầu tư, bằng những phương thức chuyển giao khác nhau.
Về mặt pháp lí, sự khác nhau chủ yếu giữa các hình thức đầu tư BOT, BTO và BT thể
hiện ở thời điểm chuyển giao quyền sở hữu công trình gắn với quyền quản lí, vận
hành, khai thác công trình của nhà đầu tư cho nhà nước và phương thức thanh toán,
đền bù của nhà nước cho nhà đầu tư. Trong hình thức BOT, sau khi xây dựng xong
công trình, nhà đầu tư quản lí và kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định
để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư
chuyển giao không bồi hoàn công trình cho nhà nước. Với hình thức BTO, sau khi xây
dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho nhà nước;
nhà đầu tư được nhà nước dành cho quyền kinh doanh công trình trong thời hạn nhất
định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí. Ở hình thức BT, sau khi xây dựng
xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho Nhà nước; nhà
đầu tư được nhà nước tạo điều kiện thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có
lợi nhuận hợp lí hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.
c) Đầu tư phát triển kinh doanh
Đầu tư phát triển kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó, nhà đầu tư bỏ vốn để mở
rộng quy mô, nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát triển
kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư hiện
có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển
bền vững của cơ sở kinh doanh. Đầu tư phát triển kinh doanh bao gồm các hình thức
cụ thể là: mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh (thành lập chi

khoán; đầu tư thông qua ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm
3. Tăng trưởng kinh tế là gì?
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô
sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhât định. Sự tăng trưởng được so sánh
theo thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng.
11
Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng là cặp đôi trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh
tế.
Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt
trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự phát triền tiếp tục trong tương lai. Đây cũng là
khái niệm mà nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới dựa trên những đặc thù về
kinh tế, tự nhiên, xã hội,… riêng của từng quốc gia để có những chiến lược phát triển
kinh tế cho phù hợp.
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
1. Thực trạng huy động vốn và sử dụng vốn ở các nước đang phát triển.
Hình 2.1. Vòng lẩn quẩn của các nước đang phát triển
Liên quan đến vấn đề thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn ở các nước đang
phát triển, ta có thể thấy rõ 3 vấn đề nổi cộm lên ở đây là: (1) tích lũy và đầu tư thấp,
(2) sử dụng vốn kém hiệu quả và (3) nợ nước ngoài đang trở thành vấn đề nghiêm
trọng.
Tích lũy và đầu tư thấp, với xuất phát điểm là các quốc gia này có nền kinh tế
chưa phát triển, kinh tế còn nghèo nàn và lạc hậu nên thu nhập của người dân còn
thấp. Chính vì thu nhập thấp nên khả năng tiết kiệm tiền của người dân còn thấp dẫn
đến không có vốn để đầu tư. Một khi đầu tư đã thấp thì không mở rộng sản xuất kinh
doanh được nên lợi nhuận từ việc đầu tư cũng thấp nên tích lũy vốn mới lại thấp, kéo

Quốc. Một khi nền kinh tế kém phát triển thì cần phải có nhiều vốn để đầu tư và bù
đắp những khoản thâm hụt về ngân sách, một trong những giải pháp mà được hầu hết
các quốc gia chọn đó là đi vay nước ngoài, nhưng thực chất số tiền vay từ nước ngoài
đem ra đầu tư có thực sự hiệu quả hay không và ai sẽ là người trả những món nợ này.
Số tiền vay từ các nước giàu bởi các nước đang phát triển ngày càng gia tăng và ngày
càng khó trả và làm ảnh hưởng xấu đến tổng thể nền kinh tế cũng như những nhà
chính trị, chính sách. Tiêu biểu gần đây là vào năm 2010 Hy Lạp với những khoản nợ
công khổng lồ và không có khả năng trả nợ, trước tình trạng đó các nước EU đã họp
lại và đưa ra gói cứu trợ cho Hy Lạp và đề nghi Hy Lạp thực hiện nhằm ổn định kinh
tế cho Hy Lạp nói riêng và cả EU nói chung.
2. Thực trạng việc huy động và sử dụng vốn tại Việt Nam hiện nay.
Là một quốc gia đang phát triển nên Việt Nam không thể không tránh khỏi xu
hướng chung của các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, điểm lại trong thời gian qua
việc huy động và sử dụng ở Việt Nam có một số điểm nổi bật như sau:
Việt Nam trong hơn 20 năm từ “đổi mới”, dòng vốn ngoại tệ từ nước ngoài (đặc biệt
là đầu tư trực tiếp FDI và ODA) đổ vào ngày càng nhiều. Phải chăng đây là những dấu
hiệu đầu tiên của Căn bệnh Hà Lan hay chỉ là nguy cơ? Một trong những nguyên nhân
14
gây ra căn bệnh Hà Lan ở một số quốc gia là sự gia tăng ồ oạt của dòng ngoại tệ (vốn)
nước ngoài vào một số khu vực kém bền vững (như khu vực khai thác khoáng sản).
Khi đó, những tác động của sự gia tăng nguồn vốn ngoại tệ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
nền kinh tế quốc dân. Cụ thể, hiệu ứng chuyển nguồn lực sẽ gây nên sự di chuyển
nguồn lao động từ khu vực chế tạo (manufacturing sector) đến khu vực đang “bùng
nổ” và hiệu ứng tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm xuất khẩu, kém cạnh tranh
của khu vực chế tạo và do đó mà nền kinh tế suy thoái dầnThực tế cho thấy, những
năm 1970, khi giá dầu trên thế giới tăng vọt, Indonesia, một nước xuất khẩu dầu lớn
đã không mắc phải căn bệnh này nhờ biết dùng nguồn ngoại tệ thu được vào việc xây
dựng hạ tầng và giáo dục. Như vậy, không phải việc nguồn ngoại tệ vào nhiều hay ít
mà chính việc sử dụng dòng ngoại tệ ấy như thế nào mới quyết định việc một quốc gia
có tránh được căn bệnh Hà Lan hay không.

xuất khác qua. Điều này hiển nhiên sẽ làm thu hẹp sản xuất các ngành sản xuất còn lại
của nền kinh tế. Tỷ trọng ngành công nghiệp nặng ngày càng tăng lên trong khi các
ngành sản xuất khác (tất nhiên bao gồm cả các ngành sản xuất hiện đại) bị thu hẹp,
kém phát triển.
Ngoài ra, công nhân khi tham gia vào các ngành sản xuất này sẽ không bị đòi hỏi tay
nghề cao mà chỉ cần lao động đơn giản cùng với một mức lương hấp dẫn.Vì vậy, họ
không có động lực củng cố tay nghề, học tập khoa học kĩ thuật,…
Đồng thời, thế hệ lao động sau sẽ có xu hướng không đi học mà chỉ đi làm những
nghề đơn giản (như dệt may, thợ mỏ), không đòi hỏi trình độ cao. Như vậy, tỉ lệ người
có trình độ cao trong xã hội sẽ giảm.
Từ những tác động trên, quá trình phi công nghiệp hóa tất yếu sẽ diễn ra. Không
những vậy, một khi tài nguyên cạn kiệt, nhân công rẻ không còn là lợi thế, những nhà
16
đầu tư này sẽ rút vốn về nước để lại phía sau một Việt Nam với nền công nghiệp vẫn
lạc hậu và kém phát triển. Khi ấy, Căn bệnh Hà Lan (phi công nghiệp
hóa_deindustrialize) sẽ “bùng phát”.
Bảng 3.2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2011 theo ngành của
Việt Nam (tính từ 01/01/2011 đến 20/11/2011)
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.1. Nguy cơ từ hiện trạng thu hút và sử dụng nguồn viện trợ ODA tại Việt
Nam.
Việt Nam là một trong những nước được nhận nhiều viện trợ ODA của các quốc gia
phát triển và các tổ chức như World Bank, ADB, IMF…Tính đến năm 2007, cộng
17
đồng quốc tế đã cam kết dành cho Việt Nam nguồn ODA với tổng giá trị gần 36,97
USD, đã ký kết 26,2 tỷ USD và giải ngân 17,9 tỷ USD
2
. Đặc biệt trong những năm
gần đây, vốn ODA cung cấp cũng tăng khá mạnh (riêng năm 2008 sụt giảm nhẹ) (xem
hình 3.3)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status