1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ
bản, quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay trên thế giới, vấn đề này
luôn luôn được sự quan tâm của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển như nước ta: tăng trưởng kinh tế trong quá trình phát triển là
một đòi hỏi bức xúc trên mọi phương diện kinh tế cũng như xã hội.
Qua kinh nghiệm các nước cho thấy, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đòi
hỏi cần sử dụng đồng bộ hệ thống các công cụ kinh tế - tài chính. Một trong
những công cụ quan trọng mà các nước thường sử dụng có hiệu quả là NSNN.
Ở nước ta trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước hết sức coi
trọng sử dụng có hiệu quả NSNN để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Song trong quá trình thực thi chính sách NSNN, đặc biệt là việc vận dụng các
khoản chi NSNN cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế còn thiếu những giải pháp
đồng bộ, mang tính hệ thống cho nên hiệu quả đạt được chưa cao.
Xuất phát từ yêu cầu của phát triển và hội nhập kinh tế thế giới của
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế đất nước và nhằm khắc phục những
hạn chế của thực tiễn sử dụng công cụ chi NSNN phục vụ cho mục tiêu thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, tác giả
chọn đề tài "Đổi mới chi NSNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam" làm mục tiêu nghiên cứu, nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực
tiễn; đồng thời mang ý nghĩa lâu dài.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế trong quá
trình ổn định và phát triển kinh tế, về công cụ chi NSNN cũng như thông qua
2
Chương 1: Chi ngân sách nhà nước với quá trình tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng sử dụng công cụ chi ngân sách nhà nước thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Định hướng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện chi ngân
sách nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam.
4
Chương 1
1 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VỚI QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm và một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm
Theo tác giả David Begg StanLey Fischer Rudiger Dornbusch, tăng
trưởng kinh tế là: "Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một biến số là mức tăng
phần trăm hàng năm của nó. Để định nghĩa ta phải làm rõ cả biến số mà
chúng ta muốn đo lường lẫn giai đoạn trong đó chúng ta đo lường tốc độ
biến thiên của biến số đó" [19, tr. 277].
Trong cuốn sách "Kinh tế học của các nước đang phát triển" viết:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng sản lượng theo đầu người của một
nước. Sự phát triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế có đưa tới sự tăng
cường về phúc lợi kinh tế của bộ phận dân cư nghèo nhất, giảm tỷ
phần sản lượng nông nghiệp, tăng trình độ giáo dục của lực lượng
lao động, và thay đổi công nghệ nội sinh [30, tr. 68].
Tác giả Michael P.Todaro viết:
Trải qua quá trình phát triển của nhân loại, qua các phương thức sản
xuất khác nhau, đến nay nền kinh tế thị trường đã phát triển ở mức cao, với
thực tiễn từ sự tăng trưởng nền kinh tế của các nước phát triển đến các nước
chậm phát triển, luận án rút ra tăng trưởng kinh tế theo các xu hướng sau:
Thứ nhất, dân số tăng nhưng với tốc độ nhỏ hơn nhiều so với mức
tăng khối lượng vốn, dẫn tới "tăng vốn theo chiều sâu".
Thứ hai, mức tiền công thực tế có chiều hướng tăng mạnh.
6
Thứ ba, về lâu dài, phần tiền công so với toàn bộ thu nhập của doanh
nghiệp tăng lên rất ít.
Thứ tư, mức thu nhập của vốn hay lãi suất thực tế sụt xuống mà trên
thực tế, nó dao động trong chu kỳ kinh doanh nhưng không có chiều hướng
tăng hoặc giảm mạnh trong thế kỷ XX.
Thứ năm, tỷ lệ vốn - sản lượng tăng một cách vững chắc, như việc
tăng vốn theo chiều sâu thu nhập giảm dần mà trên thực tế tỉ lệ vốn - sản
lượng đã giảm đi từ những năm 1900, tuy từ năm 1950 đến nay không có thay
đổi mấy.
Thứ sáu, tỉ lệ tiết kiệm quốc gia so với tổng sản lượng quốc dân hoàn
toàn ổn định trong những thời gian dài; bởi vì đầu tư ròng của nước ngoài rất
nhỏ, điều đó có nghĩa là một khi loại bỏ ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh thì
tỷ lệ của đầu tư so với GNP cũng ổn định.
Thứ bảy, sau khi tác động của chu kỳ kinh doanh bị loại bỏ, sản phẩm
quốc dân đã tăng với mức độ ít nhiều ổn định. Tốc độ tăng trưởng này cao
hơn nhiều so với chi phí bình quân về vốn, lao động và tài nguyên ở đầu vào,
do đó việc cải tiến kỹ thuật đã đóng một vai trò then chốt trong tăng trưởng
kinh tế.
1.1.1.2. Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế qua các thời kỳ [16];
tế. Đất đai và vốn sẽ vẫn được sử dụng ngay cả khi tô tức và lãi không được
trả, như trong trường hợp sở hữu nhà nước về các phương tiện sản xuất này.
* Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế tuần tự:
Đại diện cho trường phái này là mô hình 5 giai đoạn về tăng trưởng
kinh tế của Rostow.
Xã hội truyền thống, sau Newton, người ta tin tưởng rộng rãi rằng thế
giới bên ngoài tuân theo một số định luật có thể biết được, và có khả năng vận
dụng có kết quả một cách hệ thống [22].
8
Giai đoạn tiền đề, sự công nghiệp hóa bền vững bao gồm những thay
đổi căn bản trong ba khu vực phi công nghiệp: đầu tư tăng thêm vào giao
thông vận tải để mở rộng thị trường và sự chuyên môn hóa sản xuất; cuộc
cách mạng trong nông nghiệp, làm cho sự tăng trưởng dân số đô thị có thể
được nuôi dưỡng; và sự mở rộng nhập khẩu, bao gồm vốn, có thể được trang
trải bằng việc xuất khẩu một số tài nguyên thiên nhiên. Những thay đổi này,
bao gồm sự hình thành vốn tăng cường, đòi hỏi phải có một lực lượng lãnh
đạo chính trị giàu có quan tâm tới sự phát triển kinh tế.
Sự cất cánh, giai đoạn lịch sử trung tâm của Rostow là giai đoạn cất
cánh, một sự mở rộng quyết định diễn ra từ 20 tới 30 năm, làm thay đổi căn
bản nền kinh tế và xã hội của một đất nước. Trong giai đoạn này, những cản
trở đối với sự tăng trưởng bền vững cuối cùng đã được khắc phục, trong khi
các lực lượng tạo ra sự tiến bộ kinh tế rộng lớn thống trị xã hội, làm cho sự
tăng trưởng trở thành một điều kiện bình thường.
Chuyển tới sự trưởng thành. Sau sự cất cánh là sự chuyển tới giai
đoạn trưởng thành, một thời kỳ tăng trưởng đều đặn, có hy vọng, và tự đứng
vững. Giai đoạn này được đặc trưng bởi một lực lượng lao động thiên về đô
thị, tăng về kỹ thuật, ít cá nhân, quan liêu hơn và ngày càng hướng về Nhà
duy vật về lịch sử. Sự tương tác giữa các lực lượng và các quan hệ sản xuất sẽ
hình thành nên các chính kiến, luật lệ, đạo đức, tôn giáo, văn hóa, và hệ tư
tưởng.
Nhược điểm của thuyết này:
Sự phân tích chủ yếu của C. Mác là về chủ nghĩa tư bản, nhưng những
thảo luận của ông về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã không đủ
điều kiện phát triển đầy đủ.
* Lý thuyết tăng trưởng kinh tế theo vòng tròn luẩn quẩn:
Lý thuyết về vòng tròn luẩn quẩn chỉ ra rằng sự nghèo đói tự nó kéo
dài mãi trong các vòng tròn luẩn quẩn tăng cường lẫn nhau trên cả hai phía
cung và cầu.
10
Phía cung, do thu nhập thấp, tiêu dùng không thể chuyển sang tiết
kiệm để hình thành vốn được. Việc thiếu vốn sẽ dẫn tới năng suất thấp tính
trên đầu người, và duy trì mãi những mức thu nhập thấp. Như vậy vòng tròn
đó chấm dứt. Một nước là nghèo bởi vì vốn dĩ nó đã quá nghèo không thể tiết
kiệm và đầu tư được.
Phía cầu, hơn nữa do thu nhập thấp, quy mô thị trường là quá nhỏ
không thể kích thích những người đầu tư có tiềm năng. Việc thiếu nguồn đầu
tư có nghĩa là năng suất thấp và thu nhập thấp. Một đất nước là nghèo bởi vì vốn
dĩ nó đã quá nghèo không thể tạo ra thị trường để thúc đẩy đầu tư.
Nhược điểm của thuyết này:
Lý thuyết về vòng luẩn quẩn dường như ủng hộ cho những người giàu
phương Tây, những người tin rằng toàn bộ dân cư của thế giới thứ ba là nghèo
và đói. Họ ngạc nhiên rằng, có một nước kém phát triển nào đó lại tiết kiệm
được. Nhưng sẽ thấy được một số sai lầm trong các quan điểm này. Những
người ở phương Tây có thể đã phán xét về tiềm năng tiết kiệm ở các nước
nhận rằng sự phát triển đã không được tự định hướng. Nền sản xuất đã hướng
theo các nhu cầu bên ngoài chứ không phải cho nhu cầu trong nước.
Có nhiều mức độ phụ thuộc hay không? Lý thuyết về sự phụ thuộc
không phân biệt được giữa các năng lực theo khu vực trong thế giới thứ ba,
như giữa Brazil và các nước OPEC, Venezuela, Libya, Arap Saudi, và Nigeria
với các nước phụ thuộc nhiều hơn như Senegal, Niger, Uganda, Nepal and
Lesotho.
Cuối cùng, hầu hết các nước phát triển cũng phụ thuộc vào các ràng
buộc kinh tế nước ngoài. Trên thực tế, Canada và Bỉ có thể phụ thuộc nhiều
hơn vào sự đầu tư nước ngoài so với Ấn Độ hoặc Pakistan, nhưng Frank đã
không coi các nước này là các nước phụ thuộc. Thay vì chia thế giới thành
các nước phụ thuộc và không phụ thuộc, có lẽ có ý nghĩa hơn là nên nghĩ về
các quan hệ về thứ bậc của sự phụ thuộc tính từ nước kém phát triển yếu nhất
cho tới nước tư bản hùng mạnh nhất.
12
* Nhận xét rút ra:
Qua một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội nêu trên, luận án rút ra:
Mỗi lý thuyết đều có những nội dung tích cực, đồng thời có những
mặt hạn chế. Do đó khi nghiên cứu các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế cần
gắn nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xem xét trong từng hoàn
cảnh kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia, theo từng giai đoạn lịch sử để xác định
mục tiêu tăng trưởng kinh tế như thế nào cho phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở thời kỳ đó. Chẳng hạn:
- Lựa chọn tập trung tăng trưởng kinh tế trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội. Tức là tăng thu nhập quốc dân là quan trọng hàng đầu để giải
quyết vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Theo quan điểm này
là hướng về động cơ lợi ích cục bộ trước mắt, không chú trọng nhiều đến hậu
nghệ không đi liền với đổi mới xã hội thì như bóng đèn điện mà không có
điện: có tiềm năng nhưng không có đầu vào bổ sung thì sẽ không có điều gì xảy
ra [17]. Ba thành phần được biểu hiện:
Một là, tốc độ tăng trưởng nhanh về sản lượng theo đầu người và về
dân số
Trong trường hợp cả tăng trưởng về sản lượng theo đầu người và cả
tăng dân số, trong kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế hiện đại khoảng từ năm
1770 đến nay tất cả các nước phát triển hiện nay đã trải qua những tốc độ tăng
trưởng lớn gấp nhiều lần tốc độ tăng trưởng trước đây. Đối với những nền
kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, tốc độ tăng trưởng hàng năm trong suốt 200 năm
vừa qua đạt mức trung bình khoảng 2% đối với sản lượng theo đầu người và
1% đối với dân số, tổng số là 3% đối với tổng sản phẩm (GNP thực tế).
Những tốc độ này (thường tăng gấp đôi trong 35 năm đối với sản phẩm theo
đầu người, trong 70 năm đối với dân số và trong 24 năm đối với GNP thực tế)
lớn hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng trong toàn bộ kỷ nguyên trước khi
bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII. Chẳng hạn, sản
lượng theo đầu người trong suốt hai thế kỷ qua đã được ước tính ở mức
14
khoảng 10 lần tốc độ của kỷ nguyên trước cận đại; dân số đã tăng 4 tới 5 lần so
với giai đoạn trước. Vì vậy, tốc độ gia tăng sản phẩm hay GNP được ước tính
ở mức 40 hay 50 lần so với tốc độ trước thế kỷ 19 [46, tr. 160].
Hai là, tốc độ tăng nhanh về năng suất
Đặc điểm kinh tế tổng hợp thứ hai của tăng trưởng trong quá trình
phát triển kinh tế là tốc độ gia tăng tương đối cao về tổng năng suất nhân tố
sản xuất (nghĩa là sản lượng trên một đơn vị của tất cả các yếu tố đầu vào).
Trong trường hợp của yếu tố sản xuất chính (lao động), thì tốc độ gia tăng
năng suất cũng lớn hơn nhiều so với thời tiền cận đại. Thí dụ, người ta ước
cần có sự thay đổi đồng thời về thái độ, thể chế và hệ tư tưởng. Bởi vì, nó phù
hợp với quy luật vật chất quyết định ý thức. Điều đó được thể hiện:
Hợp lý hóa, đó là việc áp dụng các phương pháp hiện đại về suy nghĩ,
hành động, sản xuất, phân phối và tiêu thụ, thay thế cho các thông lệ cổ
truyền và lâu đời. Theo Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, ông Jawaharlal Nehru,
điều mà các nước kém phát triển cần là một xã hội công nghệ và khoa học. Sử
dụng những kỹ thuật mới bất kể là trên đồng ruộng, trong nhà máy hay trong
giao thông vận tải... Kỹ thuật hiện đại không phải là vấn đề chỉ kiếm được
công cụ và sử dụng nó. Kỹ thuật hiện đại theo sát tư duy hiện đại. Bạn không
thể nắm chắc được một công cụ hiện đại với một đầu óc cổ lỗ. Điều đó sẽ
không thể thực hiện được. Sự cần thiết phải hợp lý hóa ngụ ý rằng ý kiến về
các chính sách và chiến lược kinh tế phải là những suy luận hợp lý, lôgíc,
càng ăn sâu càng tốt vào kho tàng kiến thức thực tế.
Kế hoạch hóa, đó là việc xây dựng một hệ thống các chính sách được
phối hợp hợp lý mà có thể tạo nên và thúc đẩy sự tăng trưởng trong quá trình
phát triển kinh tế.
Công bằng về kinh tế và xã hội, đó là việc đảm bảo sự công bằng hơn
về địa vị, cơ hội, của cải, thu nhập và mức sống.
Thái độ và thể chế được cải tiến, những thay đổi như vậy được coi là cần
thiết để tăng hiệu quả và sự cần cù trong lao động: thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả,
tính năng động về kinh tế và xã hội và kinh doanh tư nhân; cho phép công bằng
16
hơn về cơ hội; tăng năng suất; tăng mức sống và thúc đẩy phát triển. Trong số
những thể chế xã hội cần thay đổi, có chế độ sở hữu đất đai lỗi thời, các độc quyền
về kinh tế và xã hội, các hệ thống quản lý và kế hoạch hóa đã lỗi thời v.v. Trong
lĩnh vực thái độ xử sự, khái niệm về "con người hiện đại" bao gồm những ý
tưởng như hiệu quả, chăm chỉ, nề nếp đúng giờ giấc, tiết kiệm, thật thà, biết điều,
với tốc độ cao hơn nhiều so với nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp. Công nghệ
tiên tiến cần thiết để đạt được những thay đổi về sản lượng và cơ cấu này đã
làm cho quy mô của các nhà máy sản xuất và đặc điểm của các đơn vị kinh tế
thay đổi cả về tổ chức lẫn địa điểm. Điều này lại gây ra những thay đổi về chỗ
ở và cơ cấu của lực lượng lao động và quan hệ địa vị giữa các nhóm nghề
nghiệp. Điều đó cũng có nghĩa là có những thay đổi về những khía cạnh khác
của xã hội, bao gồm cả quy mô gia đình, đô thị hóa và các yếu tố vật chất chi
phối sự tự trọng và phẩm giá.
1.1.3. Các nhân tố chủ yếu tác động đến tăng trưởng kinh tế
Các nhân tố chủ yếu tác động đến tăng trưởng kinh tế trong bất kỳ
một xã hội nào, bao gồm ba nhóm nhân tố chủ yếu: tích lũy vốn, dân số và
công nghệ.
* Nhóm thứ nhất, tích lũy vốn:
Tích lũy vốn, bao gồm tất cả các loại đầu tư mới vào các nguồn đất
đai và nhân lực. Tích lũy vốn xảy ra khi một phần trong các khoản thu nhập
hiện tại được để dành và đầu tư nhằm tăng sản phẩm và thu nhập trong tương
lai. Các nhà máy, máy móc, thiết bị và vật liệu mới làm tăng giá trị vốn vật
chất của một nước và có thể đạt được các mức sản lượng cao hơn. Những
khoản đầu tư sản xuất trực tiếp này được bổ sung bằng cơ sở hạ tầng kinh tế
và xã hội (như đường sá, điện, nước, vệ sinh, thông tin liên lạc v.v.) nhằm hỗ
trợ và kết hợp các hoạt động kinh tế với nhau [17]. Chẳng hạn, đầu tư của một
người nông dân vào máy móc, thiết bị mới để làm tăng tổng sản phẩm đầu ra
là lương thực, thực phẩm mà anh ta có thể làm ra, nhưng nếu không có các
18
phương tiện giao thông đầy đủ để đưa số sản phẩm tăng thêm đó tới các thị
trường địa phương, thì đầu tư của anh ta có thể không góp thêm được gì cho
sản lượng lương thực quốc gia trên thực tế. Nhưng có những cách khác ít trực
Tất cả các hiện tượng trên là những hình thức đầu tư dẫn đến tích lũy
vốn. Tích lũy vốn có thể tạo thêm được nguồn lực mới (chẳng hạn việc khai
hoang đất đai chưa sử dụng) hoặc nâng cao chất lượng các nguồn lực hiện có
(như bằng thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu v.v.). Nhưng đặc điểm chủ yếu
của tích lũy vốn là bao hàm sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng
trong tương lai.
* Nhóm thứ hai, tăng trưởng về dân số và lực lượng lao động:
Tăng dân số đã từ lâu được coi là nhân tố tích cực trong việc kích
thích tăng trưởng kinh tế. Một lực lượng lao động lớn hơn có nghĩa là có
nhiều nhân lực sản xuất hơn, trong khi tổng dân số lớn hơn làm tăng quy mô
tiềm tàng của thị trường trong nước. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét trong
những trường hợp nguồn nhân lực tăng nhanh ở các nước đang phát triển dẫn
đến thừa lao động có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với tăng trưởng
kinh tế. Rõ ràng, nó sẽ phụ thuộc vào khả năng của hệ thống kinh tế có thu
hút được và sử dụng hiệu quả những nhân lực mới này không? Vì vậy, nó liên
quan nhiều đến mức độ tích lũy vốn, kỹ năng điều hành và quản lý hoặc các
yếu tố khác.
Giả sử cố định yếu tố công nghệ không thay đổi, số lượng nhân lực và
vật lực đó tăng gấp đôi, hoặc là do đầu tư làm tăng chất lượng của các nguồn
lực hiện có, hoặc do đầu tư vào nguồn lực mới như đất đai, vốn và sự tham
gia của các hộ gia đình nhiều hơn về lao động sẽ làm cho khả năng sản xuất
tăng, kinh tế tăng trưởng.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trường hợp tăng trưởng về nguồn lực
mới đều dẫn đến tăng trưởng sản phẩm cao hơn. Và, nó chỉ tăng trưởng trong
20
những điều kiện cần thiết. Tăng trưởng về nguồn lực thậm chí cũng không
phải là một điều kiện cần cho tiến trình phát triển kinh tế ngắn hạn; bởi vì
lớn hơn cho tất cả các cá nhân. Xét về mặt phân tích khả năng sản xuất của
chúng ta, một sự thay đổi về công nghệ trung hòa, ví dụ, làm tăng gấp đôi
tổng sản lượng thì, tương đương với việc tăng gấp đôi các yếu tố sản xuất đầu
vào.
Mặt khác, tiến bộ công nghệ có thể có tính tiết kiệm lao động hoặc tiết
kiệm vốn - nghĩa là có thể đạt được mức sản lượng cao hơn với vẫn cùng một
số lượng đầu vào về lao động (vốn). Việc sử dụng máy vi tính, máy dệt tự
động, máy khoan điện tốc độ cao, máy kéo và máy cày cơ khí, những loại
máy móc này và các loại máy móc và thiết bị khác có thể được phân loại là
tiết kiệm lao động. Thế kỷ chúng ta đang sống là thế kỷ có nhiều tiến bộ
nhanh chóng về công nghệ tiết kiệm lao động trong việc sản xuất ra mọi thứ
hàng hóa từ những sản phẩm đơn giản, như rau đậu đến xe đạp và cầu cống.
Tiến bộ công nghệ có tính tiết kiệm vốn là hiện tượng hiếm hơn nhiều,
bởi vì phần lớn các cuộc nghiên cứu công nghệ và khoa học được thực hiện ở
các nước phát triển, thì họ cần "tiết kiệm lao động", chứ không phải là tiết
kiệm vốn. Nhưng ở những nước dư thừa lao động (khan hiếm vốn) thuộc thế
giới thứ ba, tiến bộ công nghệ có tính tiết kiệm vốn là điều cần thiết nhất.
Tiến bộ như vậy đem lại những phương pháp sản xuất cần nhiều lao động và
"hiệu quả hơn" (nghĩa là chi phí thấp hơn) - thí dụ, máy làm cỏ và máy đập
lúa vận hành bằng tay hay máy quay, bơm đạp bằng chân, máy phun thuốc
sâu đeo trên lưng, v.v. đối với nông nghiệp quy mô nhỏ. Việc phát triển ở các
nước chậm phát triển các quy trình sản xuất có chi phí thấp, hiệu quả, và cần
nhiều lao động là một trong những yếu tố cơ bản nhất trong chiến lược phát
triển theo hướng sử dụng hết nguồn lao động về lâu dài.
Tiến bộ công nghệ cũng có thể có tính tăng vốn hoặc lao động. Tiến
bộ công nghệ làm tăng lao động xảy ra khi chất lượng hay kỹ năng của lực
lượng lao động được nâng cao. Thí dụ, bằng việc sử dụng băng ghi hình, máy
22
"GNP là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa
và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ (thường là
một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình" [52, tr. 49].
Như vậy, GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động
kinh tế do công dân của một đất nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định.
Đó chính là con số đạt được khi dùng thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của
các hàng hóa khác nhau mà các hộ gia đình và các doanh nghiệp kinh doanh,
Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong một thời gian đã cho. Những hàng hóa
và dịch vụ đó là các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia
đình; thiết bị nhà xưởng mua sắm và xây dựng lần đầu của các doanh nghiệp
kinh doanh; nhà mới xây dựng, hàng hóa và dịch vụ mà các cơ quan quản lý
nhà nước mua sắm và chênh lệch giữa hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi, vì
thông qua giá cả thị trường chúng ta có thể cộng giá trị của các loại hàng hóa
có hình thức và nội dung vật chất khác nhau, như cam chuối, xe hơi, tầu du
hành vũ trụ, dịch vụ du lịch, y tế,... Nhờ vậy có thể đo lường kết quả sản xuất
của toàn bộ nền kinh tế chỉ bằng một con số, một tổng lượng duy nhất.
Tuy nhiên, thước đo này cũng có nhược điểm là giá cả lại là một
thước đo co giãn; lạm phát thường xuyên đưa mức giá chung lên cao; do vậy
GNP tính bằng tiền có thể tăng nhanh trong khi giá trị thực của tổng sản phẩm
tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng rất ít.
Để khắc phục nhược điểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng cặp
khái niệm:
GNP danh nghĩa (Ký hiệu: GNPn) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản
xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức giá cả của cùng thời kỳ đó.
GNP thực tế (Ký hiệu: GNPr) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản
xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc.