LUẬN án TIẾN sĩ QUÁ TRÌNH đổi mới CÔNG tác GIÁO dục CHÍNH TRỊ tư TƯỞNG CHO cán bộ ĐẢNG VIÊN ở cơ sở TRONG CUỘC đấu TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN hòa BÌNH - Pdf 39

5

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 85 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân
tộc ta đã vượt qua một chặng đường đấu tranh cực kỳ khó khăn và gian khổ
nhưng đã giành được thắng lợi rất vẻ vang.
Với những thắng lợi vĩ đại đã giành được trong thế kỷ XX,
nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một
quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
có quan hệ quốc tế rộng rãi, có tiếng nói và vị trí ngày càng quan
trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ
đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ
một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đang bước vào thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [36, tr. 12].
Thực tiễn đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng
là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là
thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin (CN M-LN) và tư tưởng Hồ Chí Minh
(TT HCM), cơ sở lý luận khoa học và cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng
và của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là kết quả và thắng lợi của quá trình tổ
chức giáo dục, truyền bá hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của
Đảng, trong đó công tác giáo dục chính trị tư tưởng (GDCTTT) giữ vai trò
quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức chính trị, ý thức tự giác của cán bộ,
đảng viên và nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh
đạo.
Hiện nay, nhân dân ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện vì
chủ nghĩa xã hội (CNXH) dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là sự nghiệp cách
mạng vĩ đại nhưng đầy khó khăn, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Chúng ta vừa
làm, vừa tìm tòi khảo nghiệm, thể nghiệm và rút kinh nghiệm. Vì vậy, đòi hỏi




7

Một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ, chưa chịu khó
học tập nghiên cứu để nâng cao trình độ chính trị. Vì vậy, nhận thức thời cuộc
một cách chung chung, mơ hồ. Một bộ phận chạy theo lợi ích kinh tế, ít quan
tâm đến chính trị. Một số sa ngã, phai nhạt lý tưởng, thậm chí có người phản
bội sự nghiệp cách mạng. Nhưng nguy hại nhất hiện nay là tính tiền phong
gương mẫu, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của một bộ phận đảng viên bị
giảm sút nghiêm trọng, ảnh hưởng tới việc thực hiện đường lối chủ trương,
quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho lòng tin của quần
chúng vào Đảng bị ảnh hưởng.
Cách mạng Việt Nam đang ở trong bước ngoặt với những điều kiện và
yêu cầu mới. Kinh nghiệm đã chỉ cho chúng ta thấy rằng: trong những bước
ngoặt quyết định của cách mạng. "Cần có sự thống nhất ý chí và hành động,
nếu nhận thức đúng và giải quyết tốt sẽ thúc đẩy đất nước vượt qua khó khăn,
phát triển mạnh mẽ và bền vững; nhưng nếu nhận thức không đúng, giải quyết
không tốt thì tình hình sẽ phức tạp hơn nhiều" [39, tr. 17].
Để nhận thức đúng và giải quyết tốt đòi hỏi nhiều lĩnh vực công tác
tham gia, trong đó có sự đóng góp lớn của công tác GDCTTT.
Như vậy, yêu cầu khách quan vừa cơ bản, vừa cấp bách hiện nay của
cách mạng Việt Nam đòi hỏi cần phải tăng cường mạnh mẽ, đổi mới sâu sắc
và toàn diện công tác GDCTTT. Đây không chỉ là yêu cầu của cách mạng
Việt Nam mà còn là yêu cầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
bởi lẽ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa (XHCN), sẽ góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, ĐLDT dân chủ và tiến bộ xã hội; vì Đảng Cộng sản Việt
Nam là một bộ phận của phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải
phóng dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

số cán bộ nghiên cứu đã hoàn thành về cơ bản tài liệu: chống "DBHB" trên
mặt trận tư tưởng - văn hóa của các thế lực thù địch trong tình hình mới và tài


9

liệu "Phân tích âm mưu thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" chống phá về tư
tưởng - văn hóa". Những tài liệu trên đã tổng hợp phân tích các số liệu tập
hợp cả trong nước và ngoài nước sẽ giúp cho tác giả luận án rõ hơn nhiều vấn
đề về mức độ, thủ đoạn và tính chất quyết liệt trong cuộc đấu tranh chống
"DBHB" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa.
- Một số luận án tiến sĩ với các đề tài như:
+ Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội
trước yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta hiện nay, Tác giả
Nguyễn Văn Cần, Học viện Chính trị Quân sự, 2001.
+ Luận án PTS của Nguyễn Đình Đức với đề tài: Những yếu tố khách
quan và chủ quan tác động tư tưởng chính trị của sinh viên. Thực trạng và
giải pháp, Hà Nội năm 1996....
- Một số tài liệu, sách báo nước ngoài cũng đã đề cập một số vấn đề có
liên quan đến đề tài:
+ "Những nguyên lý tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản" (2 tập), của tập
thể tác giả Liên Xô trình bày, được Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin Việt
Nam dịch và xuất bản vào năm 1983.
+ Gần đây, các học giả Trung Quốc cũng có một số bài nghiên cứu,
đáng lưu ý có bài của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch
Dân phát biểu tại Hội nghị công tác chính trị tư tưởng, ngày 28/6/2000 đã
được giới thiệu trên Tạp chí "Thông tin công tác tư tưởng" số 10 - năm 1999.
Những công trình, những bài viết đã tiếp cận với công tác GDCTTT ở
nhiều khía cạnh, góc độ và mức độ khác nhau. Nhưng chưa có công trình nào
tổng kết một cách toàn diện, chuyên sâu công tác GDCTTT nhất là trong

Việt Nam. Phân tích thực trạng của công tác GDCTTT hiện nay ở cơ sở,
thành tựu và hạn chế, nguyên nhân.


11

+ Trình bày yêu cầu khách quan đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, tăng
cường công tác GDCTTT ở cơ sở.
+ Đề xuất những giải pháp chủ yếu để đổi mới và nâng cao chất
lượng, hiệu quả của công tác GDCTTT ở cơ sở.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu quá trình thực hiện công tác GDCTTT cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân nhằm nâng cao tính tự giác cách mạng trong việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị, đấu tranh chống "DBHB".
Thời gian nghiên cứu quá trình đổi mới công tác GDCTTT chủ yếu
thực hiện từ năm 1986 đến nay, có phần liên hệ với thời gian trước đó để so
sánh. Nghiên cứu trên phạm vi cả nước nhưng chọn một số địa phương tiêu
biểu đại diện cho các khu vực, các vùng, miền để khái quát.
Nội dung của công tác GDCTTT tiến hành rất rộng và toàn diện, luận
án tập trung nghiên cứu vấn đề cơ bản, cốt lõi là giáo dục lý luận Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
Công tác GDCTTT có nhiều hình thức phương pháp, luận án đi sâu
nghiên cứu hình thức và phương pháp tổ chức giáo dục, bồi dưỡng, mà hiện
nay Đảng ta đang tiến hành để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên. Đó
là công tác giáo dục lý luận chính trị.
Tình hình đội ngũ cán bộ thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị
ở cơ sở (Ban Tuyên giáo, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện).
- Về chiến lược "DBHB", luận án đi sâu nghiên cứu một số nội dung,
thủ đoạn và phương thức hoạt động của CNĐQ và các thế lực thù địch sử
dụng chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa nhất là

nghiên cứu, giảng dạy triết học, chính trị học, xây dựng Đảng, công tác tư
tưởng trong hệ thống các trường Đảng và trường Nhà nước.
8. Kết cấu của luận án


13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án có 3 chương, 9 tiết.


14

Chương 1
CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG VỚI VIỆC
NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ,
ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ ĐẤU TRANH CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH"

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TƯ TƯỞNG

Thuật ngữ "công tác giáo dục chính trị tư tưởng" đã được sử dụng rất
phổ biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều tài liệu, sách
báo trong nước và nước ngoài cũng đề cập. Đó là một thuật ngữ được nhiều
môn khoa học sử dụng như: Xây dựng Đảng, Công tác vận động quần chúng,
Chính trị học,... Tùy theo tính chất, đặc điểm, mục đích, yêu cầu nghiên cứu
mà có cách khai thác và tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm
về công tác GDCTTT chưa được xác định rõ, kể cả tài liệu của Liên Xô trước
đây, cũng như ở nước ta hiện nay. Trong đề tài cấp Nhà nước: "Đổi mới và
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng", mã số KHXH 05-02, bước

quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là
giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước.
- Trong Từ điển triết học giản yếu của Việt Nam, Nhà xuất bản Đại
học và Trung học chuyên nghiệp xuất bản năm 1987, cho rằng: Chính trị là
lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và
các tập đoàn xã hội khác nhau mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng
chính quyền nhà nước.
- Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển Việt Nam, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: Chính trị là những vấn đề
thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan
hệ quốc tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau...
Những quan niệm trên đã nêu lên bản chất chính trị là tính giai cấp,
mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc


16

giành quyền điều khiển nhà nước. Mặt khác, để đánh giá sự tiến bộ của xã hội
thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để
nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước. Vì vậy, Lênin cho
rằng: Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước;
"chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản" [63, tr. 482].
Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, Lênin lại cho rằng:
chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.
Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì
quyền lực chính trị có thể thấy: chính trị là những hoạt động tổ chức, điều
hành, quan hệ của bộ máy của Đảng, của Nhà nước. Vì vậy chính trị có thể
hiểu là:
Những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng,
một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà

riêng của từng môn khoa học. Song, điều quan trọng của tất cả những vấn đề
liên quan đến chính trị, thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành được
quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn xã hội.
Vậy, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng
đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân
vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương
pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ
và điều khiển hoạt động của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
Để đạt được mục đích đó đòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác
giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, làm cho quần
chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng.
Từ đó, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định
theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Điều đó có nghĩa là
làm cho hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị giữ vai trò chủ đạo trong
đời sống tinh thần của xã hội để duy trì và bảo vệ chế độ kinh tế hiện đang
tồn tại hoặc ngược lại, nó hướng dẫn cuộc đấu tranh để xóa bỏ cái trật tự
thống trị xã hội đang có nhưng đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lịch sử,


18

cùng với nó là xóa bỏ tình trạng kinh tế tương ứng để giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp.
Với góc độ của môn Phong trào cộng sản, công nhân và phong trào
giải phóng dân tộc, qua thực tiễn của Việt Nam luận án tiếp cận đến chính trị
với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - nhằm giác ngộ, nâng cao nhận
thức cho quần chúng nhân dân trong đó cán bộ, đảng viên cơ sở, lực lượng
nòng cốt của cách mạng Việt Nam để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân
thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt

Tư tưởng theo nghĩa hẹp là một hình thái cụ thể của ý thức xã hội, ý
thức cá nhân con người, phản ánh tính chất phong phú, đa dạng trong ý thức
và hướng hành động của con người. Nói đến tư tưởng có thể là tư tưởng
chung của cộng đồng, của một giai cấp hay của một bộ phận nhỏ của giai cấp.
Nhưng tư tưởng cũng có thể là tư tưởng của cá nhân con người (xem một số
khái niệm thuộc lĩnh vực tư tưởng văn hóa, Đề tài KX 05-02).
Như vậy, những luận điểm trên cho thấy sự đa dạng, đa diện của tư
tưởng, nhưng cái chung nhất của tư tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực
khách quan trong ý thức, biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp
và của xã hội. Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản
ánh lợi ích của một con người, một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc, một
thời đại nhất định. Sự phản ánh đó có thể đúng và chưa đúng, thậm chí có thể
sai. Vì vậy, có tư tưởng tiến bộ thúc đẩy sự phát triển xã hội; có tư tưởng lạc
hậu và cả tư tưởng phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Do đó, trong
xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng để
truyền bá tư tưởng của giai cấp mình nhằm mục đích tập hợp quần chúng,
giác ngộ họ theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, tạo nên sức mạnh
hành động, giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp.
Ph. Ăngghen đã nhận xét: "Tất cả các cuộc đấu tranh trong lịch sử không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay trên bất cứ


20

một địa hạt chính trị tư tưởng nào khác - thực ra chỉ biểu hiện ít nhiều rõ rệt
của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội" [73, tr. 373]. Nội dung của
cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị tư tưởng chủ yếu là cuộc đấu
tranh giữa hai ý thức hệ tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp thống trị và hệ tư
tưởng của giai cấp bị thống trị.
Vậy, hệ tư tưởng là quá trình phát triển của tư tưởng xã hội được các
nhà tư tưởng của giai cấp khái quát hóa, hệ thống hóa tư tưởng của giai cấp

nó chỉ rõ con đường và những biện pháp để xây dựng CNXH, một chế độ xã
hội vì con người và giải phóng con người. CNXH hiện thực đã tỏ rõ tính ưu
việt của nó trong thực tế. Cho đến nay, dẫu rằng chế độ XHCN ở Liên Xô và
Đông Âu đã sụp đổ khiến cho CNXH thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái
trào, song điều đó không có nghĩa đó là sự sụp đổ của chính CNM-LN. Kẻ thù
của CNXH thì hí hửng reo lên: đây là sự sụp đổ "tất yếu", không thể tránh
khỏi của một chế độ "lỗi thời"... và chúng quả quyết rằng đó là sự sụp đổ của
CNM-LN - một học thuyết sai lầm, đầy ảo tưởng; rằng CNXH là một bước đi
lầm lạc của lịch sử tất nhiên phải sụp đổ...
Chúng ta hiểu rằng, sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các
nước Đông Âu vừa qua là một tổn thất lớn chưa từng có đối với sự nghiệp
cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng như các dân tộc
trên thế giới đang đấu tranh cho độc lập tự do. Nhưng đây không phải là lần
đầu tiên phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên
thế giới lâm vào khủng hoảng. Kinh nghiệm thực tế cho ta thấy, sau những
lần gặp khó khăn, thậm chí có bước thụt lùi tạm thời của phong trào cách
mạng, giai cấp công nhân có thêm những bài học kinh nghiệm và lấy lại sức
để có bước phát triển với tầm cao mới mạnh mẽ hơn, rộng lớn hơn; chắc chắn
rằng qua "trận động đất chính trị", "trận cuồng phong chính trị" như một số
học giả phương Tây đã viết, những người cộng sản sẽ rút ra những kinh
nghiệm bổ ích và cần thiết, sẽ khôn ngoan hơn, vững vàng hơn nữa về bản
lĩnh chính trị để đưa phong trào XHCN phục hồi và phát triển vì đó là quy
luật của lịch sử không gì ngăn cản nổi.


22

Chúng ta hãy đánh giá lịch sử cách mạng thế giới cũng như lịch sử
Việt Nam đúng như những gì đã diễn ra gần một thế kỷ qua cho thấy:
- Nếu không có hệ tư tưởng Mác - Lênin, không có Cách mạng tháng

nguyên lý trình bày trong Tuyên ngôn này, vẫn còn hoàn toàn đúng. Ở đôi
chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã
giải thích rõ rằng: Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên
lý đó phải tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá
câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này,
ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt cũng phải viết khác đi vì lịch sử đã thay
đổi. Từ đó, Mác - Ăngghen rút ra kết luận về sự cần thiết phải thay đổi
phương pháp đấu tranh.
Bước sang thế kỷ thứ XX, Lê-nin kế tục sự nghiệp của Mác-Ăngghen,
đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới - khi chủ nghĩa tư bản
(CNTB) đã chuyển sang CNĐQ. Lê-nin kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác
trên những nguyên lý cơ bản, trong bản chất khoa học và cách mạng của nó.
Nhưng, căn cứ vào hoàn cảnh đã thay đổi, Lênin đã đưa ra những nhận định,
những kết luận, những dự đoán mới, trong đó có những dự đoán trái ngược
với dự đoán của Mác- Ăngghen. Lý do đưa Lê-nin đi đến những kết luận
mới, những dự đoán mới, vì hoàn cảnh lịch sử đã có những thay đổi, đã xuất
hiện những khả năng mới do điều kiện mới tạo ra. Trong điều kiện đó mà
vẫn nói như Mác đã nói trước đây thì đấy chính là sự phản mácxít.
Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã
xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội
chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không
muốn trở thành người lạc hậu đối với cuộc sống [51, tr. 232].
Chính vì sự máy móc, rập khuôn, cứng nhắc trong quá trình xây dựng
CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã dẫn đến sai lầm, đó là
một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của chế độ XHCN.


24


tiêu trực tiếp trước mắt là lợi ích chính trị.
Điều đó có nghĩa, trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp giành quyền
lực chính trị tức là quyền lực nhà nước, một công cụ duy trì quyền lực chính
trị của giai cấp này đối với giai cấp khác và đối với toàn xã hội. Vấn đề chính
quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Đó là lợi ích chính trị đầu
tiên của cuộc đấu tranh giai cấp mà các giai cấp lãnh đạo phong trào cách
mạng đều hướng tới, tìm mọi cách để giành lấy. Tuy nhiên, trong xã hội cũng
như ngay trong một giai cấp, nhận thức về nhu cầu, lợi ích đó không hoàn
toàn giống nhau về mức độ. Do đó, các giai cấp đều thông qua các tổ chức
chính trị của mình để xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng (nhà tư tưởng), xây
dựng hệ thống tổ chức cùng các thiết chế tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư
tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong toàn xã hội, thông
qua nhiều con đường, nhiều hình thức và phương pháp khác nhau để đưa hệ
tư tưởng đó tác động vào nhận thức của quần chúng nhân dân, lực lượng cơ
bản và quyết định thắng lợi của cách mạng. Sự tác động của chủ thể tư tưởng
đến các quan hệ tư tưởng và quá trình tư tưởng để đạt được mục tiêu đã đề ra,
đó là hoạt động tư tưởng hay còn được gọi là công tác tư tưởng.
Như vậy, công tác tư tưởng thực chất là hoạt động trên toàn bộ lĩnh
vực đời sống tinh thần xã hội của con người; là hoạt động có mục đích của
một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển và truyền bá hệ tư
tưởng vào quần chúng nhân dân, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích
của chủ thể tư tưởng.
Hiện nay, khái niệm về công tác tư tưởng còn có những ý kiến khác
nhau về cách tiếp cận nhưng đã thống nhất trên những nét cơ bản:
- Đó là quá trình bao gồm từ việc sáng tạo, phát triển hệ tư tưởng.


26

- Việc vận dụng sáng tạo, phát triển hệ tư tưởng để xây dựng cương

chiến lược "DBHB" nhằm bảo vệ và phát triển CNM-LN, TT HCM.
Công tác tuyên truyền và công tác cổ động tương ứng với quá trình
truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước tới quần chúng nhân dân, cổ vũ, động viên, thúc đẩy họ hành
động thực hiện mục tiêu của cách mạng do Đảng đề ra. Nhưng giữa công tác
tuyên truyền và công tác cổ động cũng có sự khác nhau, điều này đã được
Lênin phân biệt:
Người tuyên truyền, nếu bàn về vấn đề thất nghiệp chẳng
hạn thì phải giải thích bản chất tư bản chủ nghĩa của các cuộc
khủng hoảng, vạch rõ cái gì làm cho các cuộc khủng hoảng là
không thể tránh khỏi trong xã hội hiện đại, vạch rõ sự cần thiết phải
cải biến xã hội ấy thành xã hội xã hội chủ nghĩa... Cũng nói vấn đề
ấy (vấn đề thất nghiệp - TG), người cổ động sẽ lấy một thí dụ nào
nổi bật nhất và được thính giả biết rõ nhất - ví dụ như một gia đình
thất nghiệp bị chết đói, nạn ăn mày tăng lên, v.v... rồi dựa vào sự
việc mà tất cả mọi người đều biết ấy, người cổ động sẽ đem hết sức
ra làm cho "quần chúng" có một ý niệm duy nhất: ý niệm về sự mâu
thuẫn phi lý giữa tự tăng thêm của cải và sự tăng thêm nghèo khổ;
người cổ động ra sức khêu gợi sự bất bình, sự phẫn nộ của quần
chúng đối với sự bất công rõ rệt ấy, và để cho người tuyên truyền
giải thích đầy đủ mâu thuẫn ấy [52, tr. 84-85].
Như vậy, công tác lý luận là cơ sở, nền tảng của công tác tư tưởng,
quyết định phương hướng, nội dung của công tác tuyên truyền và cổ động.
Công tác tuyên truyền tiếp nối công tác lý luận làm cho lý luận có sức sống
mạnh mẽ, thể hiện sinh động trong thực tiễn. Công tác cổ động là khâu cuối
cùng quyết định việc chuyển hóa lý luận đã được nhận thức, niềm tin đã được
xây dựng và củng cố thành hành động cách mạng.


28


29

- Như vậy, chủ thể của công tác GDCTTT là Đảng Cộng sản Việt
Nam mà trực tiếp là cấp ủy đảng các cấp và các cơ quan chức năng như Ban
Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Ban Tuyên giáo các ngành, các địa phương,
các cơ quan chính trị trong lực lượng vũ trang. Ở cấp huyện có Ban Tuyên
giáo quận, huyện và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị...
- Đối tượng (khách thể) của công tác GDCTTT là cán bộ, đảng viên
và nhân dân nói chung (đối tượng cụ thể mà luận án đề cập là cán bộ, đảng
viên thuộc sự quản lý của đảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc huyện ủy, quận ủy
và tương đương).
Mục đích cơ bản của công tác GDCTTT mà Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định là truyền bá, giáo dục CNM-LN, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh,
góp phần làm cho nó trở thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đời sống
tinh thần xã hội, giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân xây dựng thế giới
quan và phương pháp luận đúng đắn, nhân sinh quan cộng sản, để từ đó khắc
phục những tư tưởng lạc hậu, nâng cao nhận thức chính trị; giáo dục đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho họ
ngày càng nắm chắc và biết vận dụng vào thực tế cuộc sống, thực hiện thắng
lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị, cổ vũ, động viên, khơi dậy nhiệt tình cách
mạng, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình cách mạng cải tạo, xây
dựng xã hội mới XHCN. Về mục đích của công tác GDCTTT và việc học tập
lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ:
a) Học để mà sửa chữa: Hăng hái theo cách mạng, điều đó
rất hay nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng. Vì
thế, cần phải học tập để sửa chữa cho đúng. Tư tưởng đúng thì hành
động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status