bộ giáo dục và đào tạo Bộ TàI CHíNH
HọC VIệN TàI CHíNH
PHạM THị HOàNG PHƯƠNG
Đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nớc GóP
PHầN thúc đẩy tăng trởng KINH Tế GIAI ĐOạN
2011 2020 ở việt nam
luận án tiến sĩ kinh tế luận án tiến sĩ kinh tế Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS, TS Đỗ Đức Minh
2. TS Nguyễn Thị Thanh Hoài
hà nội - 2013
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
II. Các đề tài về tác động của chi tiêu Chính phủ tới TTKT 10
III.
Các nghiên cứu nước ngoài
12
1. Các nghiên cứu về TTKT và các yếu tố tác động đến
TTKT
12
2.
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và
TTKT
13
IV. Kết luận 14
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU CHI NSNN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
CƠ CẤU CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
16
1.1. Những vấn đề lý luận chung về cơ cấu chi NSNN
16
1.1.1. Chi NSNN 16
1.1.1.1. Khái niệm chi NSNN 16
1.1.1.2. Đặc điểm chi NSNN 17
1.1.2. Cơ cấu chi NSNN 20
1.1.2.1. Khái niệm cơ cấu chi NSNN 20
1.3.1. Lý thuyết về tác động của cơ cấu chi NSNN đối với
TTKT
45
1.3.2. Tác động của cơ cấu chi NSNN trong các mô hình TTKT 47
1.3.2.1. Tác động của cơ cấu chi NSNN đối với các yếu tố đầu
vào của TTKT
47
1.3.2.2. Tác động của cơ cấu chi NSNN theo ngành kinh tế đến
TTKT
56
1.4. Kinh nghiệm của Trung quốc và Ấn Độ trong thay đổi
cơ cấu chi NSNN để đạt được TTKT cao và bài học
cho Việt Nam
59
1.4.1.
Kinh nghiệm của Trung Quốc
59
1.4.2. Kinh nghiệm của Ấn độ 63
1.4.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 65
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CƠ CẤU CHI NSNN ĐỐI
VỚI THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2001 - 2010
69
2.2.1.2. Cơ cấu chi NSNN cho các ngành kinh tế thay đổi theo
hướng kích thích TTKT của ngành kinh tế
92
2.2.2. Những hạn chế và bất cập về cơ cấu chi NSNN đối với
thúc đẩy TTKT
96
2.2.2.1.
Mức chi NSNN tăng cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp nên
TTKT không bền vững
96
2.2.2.2. Cơ cấu chi NSNN cho các yếu tố tạo nên TTKT bền vững
như KHCN, TFP, chất lượng lao động chưa được chú
trọng nhiều
99
2.2.2.3. Cơ cấu chi NSNN cho các ngành kinh tế đã được điều
chỉnh nhưng tỷ lệ đóng góp của các ngành đến TTKT
chưa tương xứng
106
2.2.2.4. Bội chi NSNN ảnh hưởng đến cơ cấu chi NSNN và
TTKT
113
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CẤU CHI NSNN
NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
118
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến TTKT của
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
118
3.1.1. Bối cảnh quốc tế 118
3.1.2. Bối cảnh trong nước 120
3.3.4.
Giảm tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng đầu tư xã
hội, đầu tư Nhà nước phải là cơ sở để thu hút đầu tư nước
ngoài và đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước cho nền kinh
tế
137
3.3.5. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của NSNN 139
3.3.6. Tăng đầu tư theo chiều sâu cho các yếu tố của TTKT 141
3.3.6.1.
Đổi mới cơ cấu chi NSNN cho hoạt động GDĐT
142
3.3.6.2. Tăng chi và đổi mới quản lý chi NSNN cho KHCN 143
3.3.6.3. Cơ cấu chi NSNN với TFP 148
3.3.7.
Điều chỉnh sắp xếp lại cơ cấu chi NSNN đối với các ngành
kinh tế để hướng đến TTKT
149
3.3.7.1. Điều chỉnh tỷ lệ chi NSNN cho ba nhóm ngành cho phù
hợp, tập trung cho nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng cao
149
3.3.7.2. Điều chỉnh tỷ lệ chi NSNN trong nhóm ngành nông nghiệp 150
3.3.7.3. Điều chỉnh tỷ lệ chi NSNN trong nhóm ngành công nghiệp-
xây dựng
151
3.3.7.4. Cơ cấu lại các nội dung chi NSNN cho các ngành dịch vụ 153
3.3.8. Kiểm soát bội chi NSNN, giới hạn bội chi ở mức an toàn và
đổi mới phương thức xử lý bội chi NSNN
154
3.3.8.1. Các giải pháp trong ngắn hạn 154
3.3.8.2.
Danh mục các phụ lục
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong kinh tế thị trường, chi NSNN được sử dụng như một công cụ
hữu hiệu để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Thông qua
chi NSNN, Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, kích thích các
hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy TTKT và đảm bảo an sinh xã hội.
Ở nước ta, trong những năm qua, cùng với xu hướng tăng lên của qui
mô chi NSNN, thì cơ cấu chi cũng có sự điều chỉnh, đổi mới nhằm mục
tiêu kích thích TTKT. Vì thế nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ TTKT
cao trong thời kỳ dài.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008 đã
đưa nền kinh tế tài chính toàn cầu lâm vào trạng thoái suy thoái trầm trọng,
kéo dài, dẫn đến hệ lụy suy giảm tốc độ TTKT chung của Việt Nam. Mặc
dù, kinh tế Việt Nam đã trải qua giai đoạn phát triển nóng những năm từ
2005 – 2008, nhưng khi gặp phải những trở ngại của khủng hoảng kinh tế
tài chính trong khu vực và trên thế giới thì mô hình TTKT dựa trên cơ sở
gia tăng khối lượng lớn của vốn đầu tư và lực lượng lao động đã trở nên
không còn phù hợp. Việc chuyển đổi sang một mô hình TTKT có tính bền
vững và hiệu quả là xu hướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển
kinh tế của Việt Nam. Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng để
xác lập mô hình tăng trưởng mới, vai trò điều tiết nền kinh tế của Nhà nước
được thực hiện thông qua nhiều công cụ kinh tế khác nhau, trong đó đổi
mới cơ cấu chi NSNN giữ vai trò quan trọng.
TTKT ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi NSNN, cơ cấu chi NSNN,
sự biến động của cơ cấu chi NSNN và những tác động của nó đến TTKT
trong giai đoạn 2001 – 2010;
3
- Các xu hướng vận động thay đổi của cơ cấu chi tác động đến TTKT
giai đoạn 2011 – 2020.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: cơ sở thực tiễn mà luận án nghiên cứu là sự biến động
trong chi NSNN và cơ cấu chi NSNN trong giai đoạn 2001 – 2010; những
thành tựu và hạn chế trong mô hình TTKT của Việt Nam trong giai đoạn
2001 – 2010. Các xu hướng biến động trong cơ cấu chi NSNN cũng như
tác động của đổi mới cơ cấu chi đến TTKT của Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020.
- Về nội dung:
(1) Cơ cấu chi NSNN: có rất nhiều cách tiếp cận để đưa ra các tiêu chí
nhận diện cơ cấu chi NSNN, trong phạm vi luận án tác giả nghiên cứu một
số các cơ cấu chi NSNN mà những biến động của nó phản ánh được kết
quả TTKT hoặc có tác động đến các kết quả TTKT như sau:
+ Cơ cấu chi NSNN với thu nhập quốc nội
+ Cơ cấu giữa các khoản chi trong tổng chi NSNN theo nội dung kinh
tế trong đó tập trung nghiên cứu cơ cấu của chi thường xuyên và chi đầu tư
trong tổng chi.
+ Cơ cấu các khoản chi thường xuyên theo lĩnh vực kinh tế xã hội.
Trong đó tập trung nghiên cứu cơ cấu chi của các khoản chi thường xuyên
đoạn 2011 - 2020.
Luận án đã cung cấp những căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc đổi
mới cơ cấu chi NSNN nhằm thúc đẩy TTKT. Những luận cứ lý luận và
thực tiễn nêu trong luận án là có cơ sở hiện thực và có thể vận dụng được ở
Việt Nam.
5. Kết cấu luận án
Ngoài phần tổng quan của luận án, phụ lục, tài liệu tham khảo Luận án
bao gồm 173 trang, 19 bảng số liệu, 15 đồ thị và hình vẽ, được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cơ cấu chi NSNN và tác động của cơ cấu
chi NSNN đến TTKT.
5
Chương 2: Thực trạng đổi mới cơ cấu chi NSNN thúc đẩy TTKT ở
Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010.
Chương 3: Các giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN nhằm thúc đẩy
TTKT ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI CỦA LUẬN ÁN
Trong thời gian qua, đã có nhiều tiếp cận nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn trong lĩnh vực chi NSNN và những tác động của chi NSNN đến
các lĩnh vực KT - XH được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như
Luận án tiến sỹ, đề tài NCKH cấp bộ, cấp Nhà nước, các bài báo, bài
nghiên cứu trong và ngoài nước. Cụ thể:
I. Các nghiên cứu trong nước
1. Các nghiên cứu trong nước với đề tài liên quan đến đổi mới cơ
cấu chi NSNN bao gồm các công trình
- Đề tài tác giả viết về đổi mới cơ cấu chi NSNN nhưng không gắn với
một mục tiêu cụ thể nào đó trong phát triển KT - XH nên không có tác
động và mối quan hệ của đổi mới cơ cấu chi với sự thay đổi của nền kinh tế
trên các lĩnh vực, khía cạnh phát triển kinh tế cụ thể.
(2) Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giả Bùi Đường Nghiêu năm
2003 đề tài: “Đổi mới cơ cấu chi NSNN góp phần thực hiện CNH –
HĐH ở Việt Nam”
(i) Những kết quả của luận án:
Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về NSNN, vai trò của NSNN
trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề cơ bản về cơ cấu chi NSNN trong
đó tác giả đưa ra cơ sở xác định cơ cấu định tính và cơ cấu định lượng của
chi NSNN và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ cấu đó; Phân tích
vai trò của NSNN nói chung và chi tiêu NSNN nói riêng đối với việc thực
hiện CNH – HĐH ở Việt Nam. Về thực tiễn, tác giả đưa ra hệ thống số liệu
để minh chứng cho thực trạng chi NSNN từ đó có những nhận xét về cơ
cấu chi NSNN trên góc độ định tính và định lượng, các kinh nghiệm của
thế giới về tổ chức hệ thống NSNN trong giai đoạn 1991 - 2000. Căn cứ
7
trên hệ thống số liệu đó, tác giả đã nhận xét, đánh giá về cơ cấu chi NSNN
của Việt Nam và những ảnh hưởng của chi NSNN đối với CNH – HĐH đất
nước. Từ những phân tích về lý luận và thực tiễn của Việt Nam, tác giả đã
đưa ra các quan điểm về đổi mới cơ cấu chi NSNN (xét về cơ cấu định tính
và định lượng) hướng đến mục tiêu thực hiện thành công quá trình CNH –
HĐH kinh tế đất nước trong giai đoạn 2001 - 2010. Hệ thống giải pháp mà
tác giả đề xuất được tập trung vào các nội dung: Về cơ cấu định tính: tổ
chức NS thành NS chung và NS đặc biệt; cơ cấu lại bảng cân đối NS làm
nổi bật thặng dư NS, tạo nguồn tài lực và động lực cho phát triển kinh tế,
công cộng ở Việt Nam.
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Minh đã đưa ra các vấn đề lý luận về
chi NSNN và quản lý chi NSNN; các số liệu về thực trạng quản lý chi
NSNN ở Việt Nam qua các giai đoạn, các phương thức quản lý chi NSNN;
hệ thống các giải pháp đổi mới quản lý chi NSNN trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam.
(ii) Những giới hạn của luận án
Trong cả hai luận án nói trên vấn đề đổi mới cơ cấu chi chỉ được đề
cập đến như một giải pháp trong hệ thống các giải pháp để hoàn thiện cơ
chế quản lý chi NSNN cũng như đổi mới quản lý chi NSNN mà chưa có
nghiên cứu đi sâu về đổi mới cơ cấu chi.
2. Các đề tài liên quan đến nội dung TTKT
(1) Đề tài NCKH cấp Bộ: “Điều chỉnh chính sách động viên thông
qua thuế nhằm thúc đẩy TTKT giai đoạn 2001 – 2010” – Viện Nghiên
cứu Tài chính – Bộ Tài chính.
(i) Những kết quả của đề tài:
Đề tài đưa ra các cơ sở lý luận về tác động của thuế đến TTKT: mối
quan hệ tác động giữa thuế và tăng trưởng, cơ chế tác động của thuế để
thúc đẩy tăng trưởng. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng
trong đó tập trung vào các chính sách về điều hành NS bằng thuế. Đề tài
đưa ra hệ thống số liệu để phân tích thực trạng chính sách động viên qua
thuế tác động đến tăng trưởng giai đoạn 1990 - 2000. Căn cứ trên các phân
9
tích và nhận định về cơ sở lý luận và thực tiễn, mối quan hệ của việc thực
hiện các chính sách thuế để thúc đẩy tăng trưởng đề tài đưa ra các phương
hướng hoàn thiện chính sách động viên thông qua thuế nhằm thúc đẩy
TTKT giai đoạn 2001 – 2010.
giải pháp tổng thể trong đó có đề cập đến giải pháp về ngân sách nhưng
không cụ thể về một công cụ thu hay chi NS.
(3) Đề tài nhánh của Chương trình NCKH cấp Bộ: “Một số vấn đề
cơ bản của mô hình TTKT Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” của Viện
Khoa học xã hội Việt Nam: “Một số vấn đề cơ bản về đầu tư công trong
mô hình TTKT mới của Việt Nam 2011 – 2020” – Viện Kinh tế Việt Nam
– 2010.
(i) Những kết quả của đề tài
Đề tài đưa ra hệ thống số liệu để phân tích tình hình đầu tư công trong
thời gian 10 năm từ 2001 – 2010. Trong đó có các đánh giá về TTKT, tích
luỹ và đầu tư từ NSNN; tình hình đầu tư công và đánh giá hiệu quả của đầu
tư công; chính sách và cơ chế quản lý đầu tư công trong mô hình TTKT
hiện nay, cụ thể như: khung pháp lý về đầu tư công, định hướng quy hoạch,
kế hoạch đầu tư công, phân cấp quản lý đầu tư công…Dựa trên các luận
điểm và phân tích tình hình thực tế, đề tài đưa ra các định hướng, khuyến
nghị nhằm đổi mới chính sách đầu tư công trong mô hình TTKT giai đoạn
2011 – 2020.
(ii) Những giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ đánh giá một lĩnh vực của chi tiêu NSNN là đầu tư công
trong mô hình TTKT, các nội dung khác của chi NSNN tác động đến
TTKT không được đề cập đến.
II. Các đề tài về tác động của chi tiêu Chính phủ tới TTKT
(1) Bài nghiên cứu của TS Phạm Thế Anh: “Chi tiêu Chính phủ và
TTKT: khảo sát lý luận tổng quan” – Trung tâm nghiên cứu và chính
sách – Trường Đại học kinh tế - ĐH quốc gia Hà Nội, 2008.
(i) Những kết quả của bài viết
Bài viết của tác giả được thực hiện dưới hình thức phân tích, đánh giá
về lý thuyết mối quan hệ chi tiêu Chính phủ và TTKT dựa trên nghiên cứu
11
12
ngành nông, lâm, thuỷ sản, GD – ĐT với các ngành khác. Hay nói cách
khác việc chuyển dịch cơ cấu ngành có thể thúc đẩy TTKT ở Việt Nam.
(ii) Những giới hạn của bài viết
Hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 2001 – 2005 nên chưa
đủ để tổng kết từ thực tiễn và khái quát hoá về thực trạng tác động của cơ
cấu chi NSNN đến TTKT. Tác giả cũng không đưa ra các định hướng để
thay đổi cơ cấu chi NSNN nhằm đạt được tốc độ TTKT cao hay bền vững.
III. Các nghiên cứu nước ngoài
1. Các nghiên cứu về TTKT và các yếu tố tác động đến TTKT
Trong lịch sử nghiên cứu về kinh tế và các qui luật vận động của kinh
tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều các luận thuyết về TTKT và phân
tích các yếu tố tác động đến TTKT. Có thể nói đến các nghiên cứu kinh
điển của A.dam Smith, Karl Mark, John Maynard Keynes, Cobb –
Doughlas, Harrod – Domar hay P.A.Samuelson về các mô hình TTKT từ
cổ điển đến tân cổ điển và hiện đại. Các tác giả của các nghiên cứu đều đưa
ra các lý thuyết về sự phụ thuộc của tăng trưởng (hàm sản xuất) vào một số
các nhân tố nhất định, ví dụ như: theo quan điểm của A.dam Smith ông cho
rằng TTKT (hàm sản lượng) phụ thuộc vào 5 yếu tố: sức lao động, tiền
vốn, đất đai, tiến bộ kỹ thuật và môi trường kinh tế xã hội; hay theo quan
điểm tân cổ điển với mô hình phân tích tăng trưởng theo các yếu tố đầu ra
của 2 nhà kinh tế Cobb – Doughlas thì TTKT - tăng lên của đầu ra phụ
thuộc vào sự tăng lên của các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, tài nguyên
và khoa học công nghệ. Lý thuyết tăng trưởng của Cobb – Doughlas cũng
được khẳng định lại với những nghiên cứu của Samuelson về các nhân tố
tác động đến tăng trưởng, nhưng Samuelson khẳng định rõ vai trò của
Chính phủ trong việc tạo ra các giá trị TTKT, theo Samuelson thì Chính
mức thuế suất tối ưu, hay nói cách khác việc tăng chi tiêu chính phủ hay
tăng thuế chỉ thúc đẩy TTKT khi tác động tích cực của việc tăng chi tiêu
lớn hơn tác động tiêu cực của việc tăng thuế.
Devarajan, Swaroop, và Zou (1996) đã dựa trên mô hình của Barro
(1990) và một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác để xây dựng một
mô hình nghiên cứu vai trò của các thành phần chi tiêu chính phủ khác
14
nhau đối với TTKT. Cụ thể, mô hình của họ cố gắng xác định thành phần
chi tiêu nào là hiệu quả, thành phần chi tiêu nào là không hiệu quả và sự
chuyển dịch giữa các thành phần chi tiêu có tác động như thế nào đối với
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Davoodi và Zou (1998) đã dựa trên mô hình của Barro (1990) và
Devarajan, Swaroop, và Zou (1996) để xem xét mối quan hệ, cả về lý
thuyết lẫn thực nghiệm, giữa tính tập trung của chính sách tài khoá và
TTKT. Trước đó, nhiều nhà kinh tế đã đưa ra nhiều lập luận ủng hộ sự
phân quyền trong việc thực thi chính sách tài khoá. Họ cho rằng: (i) sự
phân quyền sẽ làm tăng tính hiệu quả của các khoản chi bởi vì các chính
quyền địa phương có thông tin tốt hơn so với chính quyền trung ương; (ii)
chính quyền địa phương có thể cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng thiết
thực hơn đối với nhu cầu của cộng đồng địa phương, do họ nắm bắt được
các đặc tính khác biệt về mặt địa lý, con người… Davoodi và Zou (1998)
giả định rằng chi tiêu chính phủ có thể được phân thành ba cấp: trung ương,
bang, và địa phương. Mức độ phân cấp trong việc thực thi chính sách tài
khoá được xác định theo tỷ trọng chi tại các cấp địa phương so với tổng chi
tiêu chính phủ. Ví dụ mức độ phân cấp sẽ tăng nếu chi tiêu cấp địa phương
và chi tiêu cấp bang tăng một cách tương đối so với chi ở cấp trung ương.
16
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU CHI NSNN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU
CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. Những vấn đề lý luận chung về cơ cấu chi NSNN
1.1.1. Chi NSNN
1.1.1.1. Khái niệm chi NSNN
NSNN.
Vậy NSNN là phương thức hay cách thức phân bổ nguồn lực vốn khan
hiếm của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Việc phân bổ nguồn lực vốn của Nhà nước bao gồm 2 quá trình: huy
động tập trung nguồn lực vốn, gọi là thu NSNN và phân phối, sử dụng vốn,
gọi là chi NSNN.
Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính đã
tập trung được vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi giúp bộ máy Nhà
nước vận hành và thực hiện các nhiệm vụ của mình 12,5.
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển KT - XH, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của
Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
9,4
Chính phủ sử dụng chi NSNN như một công cụ hữu hiệu để điều tiết
nền kinh tế theo các mục tiêu nhất định ở các giai đoạn phát triển kinh tế
khác nhau. Qui mô, phạm vi chi NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ phát triển
KT – XH của quốc gia trong thời kỳ đó.
1.1.1.2. Đặc điểm chi NSNN
Chi NSNN có những đặc điểm sau:
(1) Nguồn hình thành chi tiêu NSNN:
Xét về nội dung vật chất, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung thuộc quyền
chi phối và sử dụng của Nhà nước. Nguồn hình thành quỹ tiền tệ đó được
tập trung từ một bộ phận nhất định các nguồn lực tài chính của toàn xã hội
tập trung vào tay nhà nước, hình thành quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của
18
Nhà nước – quĩ NSNN. Nguồn lực tài chính được sử dụng để chi tiêu
NSNN có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài